Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phức kim loại sắt, đồng, kẽm, selen đến khả năng sản xuất của gà lương phượng sinh sản giai đoạn 38 72 tuần tuổi - Pdf 34

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM
PHỨC KIM LOẠI SẮT, ĐỒNG, KẼM, SELEN
ĐẾN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GÀ LƯƠNG
PHƯỢNG SINH SẢN GIAI ĐOẠN 38 -72
TUẦN TUỔI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Chăn nuôi

THÁI NGUYÊN, 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM
PHỨC KIM LOẠI SẮT, ĐỒNG, KẼM, SELEN
ĐẾN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GÀ LƯƠNG
PHƯỢNG SINH SẢN GIAI ĐOẠN 38 -72
TUẦN TUỔI
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60 62 01 05

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ công nhân
viên Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương – Viện Chăn nuôi đã giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các nhà khoa
học, thầy cô và các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi nâng
cao kiến thức, hoàn thành bản luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã khuyến khích,
động viên tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hiền


iii

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ ii
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC BẢNG..........................................................................................v
DANH MỤC CÁC HÌNH ......................................................................................... vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ...................................................................... vii
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ..........................................................................................1
2. Mục tiêu của đề tài: .................................................................................................2
2.1. Mục tiêu chung .....................................................................................................2
2.2. Mục tiêu cụ thế .....................................................................................................2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ................................................................2
3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài .................................................................................2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài..................................................................................2
CHƯƠNG 1 ................................................................................................................3

CHƯƠNG 3 ..............................................................................................................38
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................................................38
3.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phức kim loại đến khả năng sản xuất của
gà lương phượng sinh sản .........................................................................................38
3.1.1 Tỷ lệ nuôi sống qua các tuần tuổi ....................................................................38
3.1.2 Tỷ lệ đẻ .............................................................................................................40
3.1.3 Năng suất trứng ................................................................................................41
3.1.4 Hiệu quả sử dụng thức ăn.................................................................................43
3.1.5. Kết quả ấp nở ..................................................................................................45
3.2 Nghiên cứu xác định hàm lượng các kim loại sắt, đồng, kẽm và selen trong thịt
lườn, lòng đỏ trứng và xương đùi .............................................................................46
3.3. Nghiên cứu xác định hàm lượng các nguyên tố vi lượng Fe, Cu, Zn và Se trong
nội tạng (tim, gan, thận) ở gà Lương Phượng sinh sản .............................................51
3.4. Nghiên cứu sự đào thải các kim loại Fe, Cu, Zn và Se theo phân sau khi sử
dụng phức kim loại trên gà Lương Phượng sinh sản. ...............................................55
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .......................................................................................57
1. Kết luận .................................................................................................................57
2. Đề nghị ..................................................................................................................58
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................59
I. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT........................................................................................59
II. TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI ......................................................................61


i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi với sự giúp đỡ
của tập thể trong và ngoài cơ quan.
Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và tôi xin chịu trách nhiệm
về những số liệu trong bản luận văn này.

Cs

: Cộng sự

Cu

: Đồng

Fe

: Sắt

Kg

: Kilogam

Zn

: Kẽm

KL

: Khối lượng

KP

: Khẩu phần

LV


Tr

: Trứng



: Xương đùi

Zn

: Kẽm

SLT

: Sản lượng trứng

NST

: Năng suất trứng

VSV

: Vi sinh vật


viii

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Trứng gà Lương Phượng sinh sản...................................................66

kích thước nhỏ đã tạo điều kiện thuận lợi để ngành chăn nuôi tiếp cận sản
xuất các chế phẩm bổ sung cho thức ăn chăn nuôi. Nhiều nghiên cứu cho thấy
các phức kim loại có tác dụng làm tăng trưởng nhanh và nâng cao khả năng
sinh sản vật nuôi. Trên thế giới, phức kim loại làm khoáng bổ sung trong khẩu
phần ăn của gia súc gia cầm thay thế các loại khoáng vô cơ dưới dạng muối
(sunphat và oxit) đã và đang được ứng dụng rộng rãi.


ii

LỜI CẢM ƠN
Để có được công trình nghiên cứu này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và
kính trọng tới TS Nguyễn Hữu Cường, PGS.TS Trần Huê Viên đã hướng dẫn,
chỉ bảo tận tình tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y - Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên, thầy cô Viện Chăn nuôi đã dạy cũng như động
viên tinh thần giúp tôi hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ công nhân
viên Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương – Viện Chăn nuôi đã giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các nhà khoa
học, thầy cô và các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi nâng
cao kiến thức, hoàn thành bản luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã khuyến khích,
động viên tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hiền




4

các điện tử của nó để khử các peroxit). Fe, Cu, Zn và Se được xem là những
chất chống ôxy hóa vô cơ hiệu quả cao. Ví dụ, trong quá trình bảo quản thịt
gà, có một lượng lớn axit béo không no có lợi cho sức khỏe con người dễ
dàng bị phân hủy bởi phản ứng peroxy hóa lipid (LPO) được các gốc tự do
khơi mào, dẫn đến các chuỗi phản ứng ôxy hóa mới để hình thành các hợp
chất lipohydroperoxit sau đó phân hủy thành andehyt, keton, alcohol và lacton
- là những chất độc đối với cơ thể người. Nhiều kết quả thực nghiệm chỉ ra
rằng sự thiếu hụt hoặc dư thừa một số nguyên tố vi lượng có thể là nguyên
nhân của sự khơi mào các phản ứng peroxy hóa lipid trong cơ thể gia cầm và
quá trình peroxy hóa lipid này có thể kiểm soát được bằng cách đưa chúng
(Fe, Cu, Zn và Se) vào khẩu phần ăn.
Nguồn cung cấp vi lượng cho vật nuôi chủ yếu là thức ăn và trên thực
tế khẩu phần cho gia súc, gia cầm thường được bổ sung hỗn hợp khoáng vi
lượng bao gồm: đồng, sắt, kẽm, selen, coban, iốt và mangan dưới dạng muối
vô cơ (sunfat hoặc oxit) bởi thành phần khoáng trong thức ăn tự nhiên luôn bị
thiếu hụt hoặc mất cân bằng (do nhiều yếu tố khác nhau chi phối như loại đất
canh tác, điều kiện khí hậu, loài thực vật, các biện pháp nông hóa áp dụng,
công nghệ thu họach, bảo quản và chế biến v.v...).
Tuy nhiên, những muối vô cơ này có xu hướng bị phân tách trong môi
trường pH thấp ở nửa trên đường tiêu hóa, gây ra hiện tượng đối kháng với các
chất dinh dưỡng khác và do đó làm giảm giá trị sinh học và sự hấp thu của chúng
(Aoyagi, S and Baker, 1995) [24], (Underwood, EJ and Suttle, 1999) [79].
Hiện tượng đối kháng còn có thể xảy ra giữa các khoáng chất với nhau
(Moldal, M and Bairagi, 2007)[55]. Ví dụ, hàm lượng cao của Zn làm giảm
tính khả dụng của Cu và ngược lại (Lesson, S and Summers, 2008) [44],
(O’Dell, B.L, 1989) [63], (Zhao, J, Shirley, 2008) [86]. Hơn nữa, các nguyên


6

pháp điều chế các hạt kim loại siêu phân tán bằng công nghệ nano sau đó biến
tính bề mặt các hạt siêu phân tán bằng một lớp phủ từ polysaccarit từ rong
biển (arabinogalactan hoặc mannangalactan). Galactanmannan cũng giống
như các polysaccarit rong biển khác được cấu tạo từ các đơn nguyên
galactopyranose với nhiều gốc hydroxyl ở các vị trí khác nhau; các đơn
nguyên này được nối với nhau bằng cầu nối glycosit 1,4-β-D- galactose, chỉ
khác ở chỗ là thỉnh thoảng rẽ nhánh ngang qua liên kết 1,6. Mặt khác, các hạt
siêu phân tán với diện tích bề mặt lớn nên luôn được bao bọc bởi một lớp
hydrat. Vì vậy, khi hạt siêu phân tán được tiếp xúc với các phân tử
mannangalactan lớp hydrat trên hạt siêu phân tán sẽ tương tác với các gốc
hydroxyl của galactan tạo ra nhiều liên kết hydro. Kết quả là hạt kim loại siêu
phân tán được bọc trong một capsun đủ bền vững để chống lại khả năng tự tập
hợp của hạt siêu phân tán, đồng thời khi đi vào ruột của gia cầm chúng sẽ dễ
dàng nhả các hạt kim loại ra. Các thử nghiệm đưa chế phẩm này vào khẩu
phần ăn cho gia cầm cũng cho kết quả tương tự như trường hợp sử dụng chế
phẩm trên cơ sở phức càng cua.
Nhằm nâng cao giá trị sinh học tức là nâng cao mức độ hấp thụ và sử
dụng chất dinh dưỡng ở các mô của vật nuôi để sử dụng trong các quá trình
trao đổi chất [Ammerman, (1995)] [21], các nhà chăn nuôi đã nghiên cứu đưa
các nguyên tố vi lượng vào khẩu phần ăn dưới dạng các phức chất hữu cơ như
phức càng cua (chelate) với các axit amin hoặc protein hoặc dưới dạng phức
chất khoáng vi lượng – polyme như liposom (là các mixen phospholipid
trong nhũ tương “dầu trong nước”) hoặc các capxun từ gelatin, keo tinh bột,
collagen, arabinogalactan, carragen, chitosan v.v…bao xung quanh hạt
khoáng vi lượng [(Dziechciarek, 1998)[30]; (Hussain, 2001)[41]; (Miles,
2002) [53]; (Taylor, 2005) [78]. Khi đi vào hệ thống đường tiêu hóa của gia
cầm các tổ hợp phức “vi lượng – hữu cơ” này với liên kết đủ bền để không




8

(bioavailable). Khi cơ thể thiếu sắt, chức năng sinh sản và phản ứng miễn dịch
của chúng giảm xuống, phát triển chậm trễ, rối loạn hệ thống đường tiêu hóa
kèm theo hiện tượng thiếu máu, khó thở, bỏ ăn và suy giảm trí nhớ.
* Nguyên tố đồng (Cu)
Theo Waldroup, P.W (2001) [74] đồng tác dụng ức chế lên thảm vi sinh
vật gây bệnh trong đường ruột trong khi không tác động đến các loài vi khuẩn
có lợi như vi khuẩn biphido và vi khuẩn lacto.
Đồng hỗ trợ tuần hoàn máu và các quá trình miễn dịch, ảnh hưởng tới
hoạt động của hệ thần kinh và tim mạch, hỗ trợ quá trình tạo hemoglobin, tạo
enzym xúc tác quá trình chuyển hóa tirosin, axit ascobic, hỗ trợ quá trình vận
chuyển sắt vào tủy não, tham gia vào quá trình trao đổi hocmon, protein,
hydrocacbon, cần thiết cho việc phát triển bình thường của khung xương và
tăng cường sản lượng thịt, có mặt trong thành phần một số enzym.
Đồng giữ vai trò quan trọng trong việc củng cố lực liên kết ngang của
collagen nhằm làm cho xương không bị giòn (Y.Pekel and M.Alp, 2011)
[85]. Trong trường hợp thiếu đồng: Rối loạn chức năng sinh sản, xuất hiện
hiện tượng thiếu máu (vòng đời của hồng cầu bị thu ngắn), xương giòn dễ
vỡ, quá trình tăng trưởng bị ức chế, hệ thống thần kinh bị tác động rối loạn,
lông bị bạc màu.
* Nguyên tố kẽm (Zn)
Kẽm là kim loại phổ biến nhất trong hệ thống enzym tế bào. Kẽm tham
gia cấu thành cho hàng trăm enzym, đại diện cho tất cả sáu nhóm enzyme, liên
kết với các axit amin chịu trách nhiệm lưu giữ và truyền thông tin di truyền
(Underwood, E.J, and Falchuk, 1999) [79], (Valee, B.L, and Suttle) [80].
Liên kết kẽm được ước tính có mặt trong protein của con người cũng như
động vật (Fraker, P.J, King and Vollmer, 2000) [33]. Kẽm có vai trò thiết yếu

thí nghiệm.
Cùng với các vitamin A, E và C, selen được xem là một trong bốn yếu tố


10

cơ bản nhất của hệ thống chống ôxy hóa của cơ thể không có xuất xứ từ
enzym (Taylor. T.M, and Weiss, 2005) [78].
Các nhà chăn nuôi gia cầm đều biết rằng để có được một đàn gà con
khỏe mạnh, thì hệ thống chống ôxy hóa của phôi phải hoàn hảo. Hệ thống ôxy
hóa của phôi gà bao gồm các chất chống ôxy hóa có nguồn gốc tự nhiên, các
enzym chống ôxy hóa và các co-factơ enzym (Mohana, C and Nys, 1998)
[54], (Surai, P, (2002) [74].
Selen là một thành phần của enzym glutathion peroxidase GSH-Px
(Wang, Z, Pan and Zhou, 2012) [84]. Hoạt tính của enzym này trong huyết
tương giảm đáng kể khi ở gà mái đẻ có biểu hiện thiếu selen. Selen trong
thành phần selenoprotein có khả năng điều chỉnh các quá trình chuyển hóa
khác nhau trong cơ thể vật nuôi, tham gia vào các quá trình chống ôxy hóa,
giảm thiểu viêm nhiễm, sản xuất hoocmon tuyến giáp, tổng hợp DNA, tăng
cường hiệu quả thụ tinh.
Selen có thể được tìm thấy trong các khoáng vật dưới dạng selenit (Na2
SeO3), selenat (Na2 SeO4) hoặc selenua (Na2 Se), trong khi trong thức ăn làm
từ cỏ hoặc trong ngũ cốc selen thường liên kết với các axit amin như
methionin và cystein.
1.1.2 Nhu cầu Fe, Cu, Zn và Se ở gia cầm và rối loạn dinh dưỡng ở gia cầm
khi thiếu Fe, Cu, Zn và Se.
Không có nhiều nghiên cứu về nhu cầu khoáng vi lượng ở gia cầm và
các khuyến cáo về nhu cầu Fe, Cu, Zn, và Se của gà thịt và gà đẻ rất khác nhau
giữa các nguồn tài liệu. Nhu cầu Zn ở gà thịt (tính theo hàm lượng trong khẩu
phần) biến động rất lớn, từ 40mg/kg (NRC, 1994) [62] đến 80mg/kg (Leeson

gia cầm. NRC (1994) [62] đưa ra khuyến cáo mức Cu tối thiểu trong thức ăn
cho gà thịt ở tất cả các giai đoạn là 8mg/kg, không có khuyến cáo đối với gà
đẻ và cho rằng hàm lượng Cu trong nguyên liệu thức ăn đủ để đáp ứng nhu
cầu Cu của các đối tượng gia cầm. Nếu thiếu Fe là nguyên nhân trực tiếp gây


iii

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ ii
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC BẢNG..........................................................................................v
DANH MỤC CÁC HÌNH ......................................................................................... vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ...................................................................... vii
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ..........................................................................................1
2. Mục tiêu của đề tài: .................................................................................................2
2.1. Mục tiêu chung .....................................................................................................2
2.2. Mục tiêu cụ thế .....................................................................................................2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ................................................................2
3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài .................................................................................2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài..................................................................................2
CHƯƠNG 1 ................................................................................................................3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...........................................................................................3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ....................................................................................3
1.1.1. Cơ sở khoa học về phức kim loại ......................................................................3
1.1.2. Nhu cầu Fe, Cu, Zn và Se ở gia cầm và rối loạn dinh dưỡng ở gia cầm ………...…10

1.1.3. Tương tác giữa các nguyên tố Fe, Cu, Zn và Se với các nguyên tố khoáng và
các chất dinh dưỡng khác…………………………………………………………..13

khoáng khác (Miller, ER 1980) [52].
Trong khuôn khổ của nghiên cứu này, chúng tôi đề cập nhiều đến quan
hệ tương tác theo hướng tiêu cực của một số nguyên tố khoáng vi lượng (Fe,
Cu, Zn và Se) trong dinh dưỡng gia cầm, bởi những tương tác tiêu cực này
ảnh hưởng trực tiếp đến đáp ứng của vật nuôi đối với hàm lượng các nguyên
tố này trong khẩu phần, khi chúng được đưa vào cơ thể gia cầm thông qua
thức ăn ở các dạng khác nhau. Tương tác tiêu cực của các nguyên tố khoáng
thường thể hiện ở mức độ gây trở ngại lẫn nhau giữa chúng trong quá trình
tiêu hóa và hấp thu ở vật nuôi (Geor gievskii, 1982) [35].
Sự hấp thu Cu sẽ bị trở ngại khi Zn và Fe trong khẩu phần có hàm
lượng cao, hiện tượng này không chỉ được quan sát thấy trên chuột, trên cừu
(Suttle, NF and Peter, DW, 1985) [77], mà còn thấy trên gà (O’Dell, 1967)
[63]. (Mason, J, Lamand, CA and Kelleher, CA., 1980; Loneragan et al.,
1998) [51]. Mặc dù, chưa có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này trên gia cầm,
nhưng quan hệ tương tác này cũng rất đáng quan ngại.
Trong số các nguyên tố khoáng vi lượng, Fe là một trong số các nguyên
tố mà hoạt tính sinh học chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khẩu phần. Một
nghiên cứu trên gà cho thấy, tăng hàm lượng Ca và P trong khẩu phần làm


14

giảm khả năng hấp thu Fe, hàm lượng cao Mn trong thức ăn sẽ làm giảm
hemoglobin ở cừu và gà con. Hàm lượng Cu cao trong thức ăn cũng ảnh
hưởng tiêu cực đến hấp thu sắt. Hàm lượng Cu trong khẩu phần ở mức 120
đến 240 ppm làm giảm khả năng tích lũy Fe ở mô gan của lợn từ 50% đến
60%. Khi hàm lượng Zn trong khẩu phần quá cao sẽ làm giảm tỷ lệ hấp thu
Cu và do đó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng Fe trong thức ăn và có thể dẫn
đến hiện tượng thiếu Fe ở gia cầm (O’Dell, 1967) [63].
Sự hấp thu Zn ở vật nuôi bị ảnh hưởng rất rõ rệt bởi Ca trong khẩu

dạng siêu phân tán. Để khắc phục những tác động tiêu cực không mong
muốn, các nhà khoa học Nga (Грушкин, at el., 2009) [88] đã tạo ra chế phẩm
phức “vi lượng - hữu cơ” chứa các nguyên tố vi lượng dưới dạng các hạt siêu
phân tán [ultradispersive particles] có kích thước hạt từ 0.15 - 0.50 micro mét,
trong đó chất hữu cơ tạo vỏ bọc là một polysaccarit từ rong biển
(arabinogalactan).
1.1.5. Cở sở khoa học về tính trạng sản xuất của gia cầm
* Khả năng sinh sản của gia cầm
Khả năng sinh sản của gia cầm được thể hiện bởi các chỉ tiêu về sản
lượng, khối lượng, hình dạng, chất lượng trứng, thụ tinh và ấp nở. Đối với các
giống gia cầm khác nhau, khả năng sinh sản cũng khác nhau
*Sản lượng trứng:
Sản lượng trứng là lượng trứng mà gia cầm mái đẻ ra trong một vòng
đời. Sản lượng trứng phụ thuộc vào tuổi thành thục, cường độ đẻ trứng, tần số
thể hiện bản năng đòi ấp, thời gian nghỉ đẻ và thời gian kéo dài. Theo
Brandsch và Biilchel (Nguyễn Chí Bảo, 1978)[2], sản lượng trứng được tính
trong 365 ngày kể từ khi đẻ quả trứng đầu tiên.
Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong thời gian ngắn, có liên quan
chặt chẽ tới sức đẻ trứng trong cả năm của gia cầm. Sự xuất hiện bản năng đòi
ấp phụ thuộc vào yếu tố di truyền, thể hiện ở các giống khác nhau với mức độ
khác nhau. Sự khác nhau đó thể hiện ở thời điểm ấp và thời gian ấp kéo dài.
Phần lớn các dòng gà ham ấp đều có sức đẻ trứng kém.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status