Nghiên cứu ảnh hởng của khoảng cách siêu âm đến kết quả
thu tế bào trứng từ bò sống và tạo phôi in vitro
Nguyễn Văn Lý, Phan Lê Sơn, Nguyễn Thị Thoa, Nguyễn Khánh Vân,
Phan Văn Kiểm, Vũ Ngọc Hiệu và Lu Ngọc Anh
Phòng Thí nghiệm Trọng điểm Công nghệ Tế bào Động vật
Summary
Ovum Pick-up was conducted once per week or twice per week on 5 dairy cross-breed cows with
276 times of ovary. 1112 oocytes were aspirated with the average of 4,03 oocytes per ovary and the oocytes
classified as grade A, B, C and D were 35,97%; 33,09%, 4,86% and 26,08%, respectively. There was
significant difference between oocytes graded as A, B, C and D (P<0,05). From 768 oocytes matured in
vitro, 71,2% oocytes were matured. After incubation with sperm, 66,91% oocytes were inseminated. From
those, 53,93% zygotes cleaved and 39,85% zygotes developed to morulae and blastocyst stages. Among 20
in vitro produced embryos were transferred, 5 calves (25,0%) were born. In conclusion, there was no
difference in the average number of oocytes collected once or twice per week, but the percentage of oocytes
collected twice per week was higher than that of once per week in development into moralae and blastocyst
stage.
Key words: Ovum Pick-up, TTON
1. Đặt vấn đề
Sản xuất phôi in vitro bằng nguồn tế bào trứng khai thác từ bò sống là một
trong những phơng pháp mới nâng cao hiệu quả công nghệ phôi. Phơng pháp
siêu âm thu tế bào trứng cho phép thu đợc những tế bào trứng cha thành thục từ
những gia súc cái đã đợc biết rõ nguồn gốc. Khi siêu âm thu tế bào trứng lặp lại
kết hợp với việc cải tiến kỹ thuật tạo phôi in vitro có thể khai thác nhiều lần để tận
dụng tối đa tiềm năng sinh sản của con cái, đặc biệt là những con có giá trị di
truyền cao.
Phơng pháp siêu âm hút tế bào trứng trên bò sống và tạo phôi in vitro lần
đầu tiên đợc nghiên cứu tại Viện Chăn nuôi từ năm 2005. Đây là phơng pháp
tiên tiến, đòi hỏi thiết bị siêu âm đắt tiền và trình độ cao của ngời thao tác. Kết
quả thu tế bào trứng và chất lợng tế bào trứng thu đợc phụ thuộc vào nhiều yếu
tố. Để nâng cao hiệu quả của kỹ thuật siêu âm thu tế bào trứng và tạo phôi in vitro,
chúng tôi đã tiến hành đề tài: Nghiên cứu ảnh hởng của khoảng cách siêu âm đến
sinh (100.000iu penicilin/ml + 100àl streptomycin/ml) duy trì ở nhiệt độ 37
0
C
bằng máy ổn nhiệt.
Nhẹ nhàng cho đầu dò siêu âm có gắn hệ thống dẫn kim vào âm đạo, cho
tay qua trực tràng xác định vị trí của buồng trứng, vị trí các nang trứng rồi đa
buồng trứng về phía đầu quét của đầu dò, quan sát các nang trứng trên màn hình
máy siêu âm, đếm số nang trứng có mặt trên buồng trứng, Trớc khi hút dịch nang
trứng, hút một ít dung dịch hút trứng để làm trơn hệ thống kim và ống dẫn.
Sau khi chọc hút 2 - 4 nang trứng, rút kim ra, hút dung dịch thu tế bào trứng
để tế bào trứng chảy vào ống falcon, tiến hành hút lặp lại đến khi không còn nhìn
thấy nang trứng nào trên buồng trứng thì chuyển qua buồng trứng đối diện. Dịch
hút đợc thu vào ống ly tâm 50ml và duy trì ở nhiệt độ 37
0
C bằng máy ổn nhiệt.
Sau khi hút xong một buồng trứng, đa ngay về phòng thí nghiệm, lọc bằng cốc
lọc Emcon có đờng kính lỗ lọc 20àm, khoảng 10ml dung dịch còn lại đợc
chuyển vào đĩa petri vô trùng có đờng kính 90mm để soi tìm tế bào trứng dới
kính hiển vi soi nổi. Tế bào trứng thu đợc đợc đánh giá phân loại theo phơng
pháp của Wright và Lindner (1989).
Sau khi đánh giá phân loại, tế bào trứng đợc nuôi thành thục trong môi
trờng TCM-199 có bổ sung 5% huyết thanh bê mới sinh trong 24 giờ, tiếp theo
chúng đợc chuyển qua môi trờng thụ tinh BO với mật độ tinh trùng 6,25x10
6
/ml
trong 5 giờ. Sau quá trình thụ tinh, hợp tử đợc tách tế bào cumulus và chuyển
sang nuôi trong môi trờng nuôi CR1 có bổ sung axit amin, huyết thanh bê mới
sinh và albumin huyết thanh bò. Sau 7 ngày nuôi, những phôi dâu, phôi nang có
chất lợng tốt đợc lựa chọn để cấy cho bò nhận động dục đồng pha hoặc đông
lạnh bảo quản.
bào trứng trung bình thu đợc là 5,28 (Bảng 2).
Bảng 2
. ảnh hởng của khoảng cách lặp lại đến kết quả thu tế bào trứng
Tế bào trứng thu đợc Khoảng cách siêu âm Số lợt buồng trứng siêu âm
n X
1 lần/tuần 156 795 5,10a
2 lần/tuần 120 317 5,28a
a: Chữ cái cùng cột giống nhau, giá trị sai khác không có ý nghĩa (P>0,05)
Kết quả siêu âm thu tế bào trứng lặp lại của chúng tôi còn thấp hơn kết quả
của một số tác giả khác đã công bố. De Roover và cs. (2005) báo cáo trung bình
thu đợc 5,6 tế bào trứng/buồng trứng/lần siêu âm. Theo Reis và cs. (2002), từ 24
bò hậu bị, bằng phơng pháp siêu âm thu tế bào trứng lặp lại, các tác giả đã tiến
hành chọc hút 8 lần trong tổng số 3234 nang trứng và thu đợc 1241 tế bào trứng
(38,4% tơng ứng). Trung bình thu đợc 7,2 tế bào trứng/bò/lần siêu âm thứ nhất
và 5,7 tế bào trứng/bò/lần siêu âm lặp lại. Các tác giả Viana và cs. (2004) đã sử
dụng 2 quy trình siêu âm hút tế bào trứng từ bò cái Gir và thấy rằng số lợng tế
bào trứng thu đợc ở quy trình siêu âm 1lần/tuần là 8,9 tế bào trứng (chọc hút trên
11,6 nang) lớn hơn ở quy trình siêu âm 2lần/tuần là 7,0 tế bào trứng (chọc hút trên
12,1 nang) điều này tơng ứng với tỷ lệ thu tế bào trứng ở quy trình thứ nhất là lớn
hơn ở quy trình thứ hai (74,3% so với 59,0%). Nh vậy, ở quy trình siêu âm
1lần/tuần tỷ lệ thu tế bào trứng của các tác giả là cao hơn của chúng tôi (74,3% so
với 71,03%) còn ở quy trình siêu âm thứ 2lần/tuần tỷ lệ thu tế bào trứng của các
tác giả lại cho kết quả thấp hơn của chúng tôi (59,0% so với 71,03%).
4.3. Kết quả phân loại tế bào trứng thu đợc từ bò sống
Sau khi thu đợc, tế bào trứng đợc chọn lọc, phân loại dựa vào chất lợng
tế bào cumulus và sự đồng nhất của khối nhân theo phơng pháp của Loos và cs.
(1989). Kết quả phân loại tế bào trứng đợc trình bày ở Bảng 3.
Bảng 3
. Phân loại chất lợng tế bào trứng thu đợc
Chất lợng tế bào trứng
Loại A Loại B Loại C Loại D
Khoảng cách
siêu âm
N % n % n % n %
1 lần/tuần 278 34,9a
255 32,04a
39 4,90a 224 28,14a
2 lần/tuần 122 38,6b
113 35,75b
15 4,75a 66 20,88b
Chung 400 36,08
368 24,31 54 13,33 290 26,28
a,b,c,d: Các chữ cái cùng cột khác nhau, giá trị sai khác có ý nghĩa (P<0,05)
Kết quả thu tế bào trứng loại loại A, B của chúng ở phơng pháp thu tế bào
trứng 1 lần một tuần (66,9%) và hai lần một tuần (74,3) cao hơn tỷ lệ tế bào trứng
loại I và II của các tác giả Viana và cs. (2004) khi các tác giả này sử dụng quy
trình siêu âm hút tế bào trứng một tuần một lần (29,0%) và 2 lần một tuần (35%).
4.5. ảnh hởng của khoảng cách siêu âm đến kết quả tạo phôi in vitro
Trong thí nghiệm này, chúng tôi đã sử dụng 394 tế bào trứng đợc thu một
tuần một lần và 153 tế bào trứng đợc thu hai lần một tuần để nuôi thành thục, thụ
tinh và nuôi hợp tử phát triển đến giai đoạn phôi dâu, phôi nang. Kết quả cho thấy
không có sự khác biệt về tỷ lệ hợp tử phân chia giữa tế bào trứng đợc thu một lần
Kết quả hợp tử phân chia trong nghiên cứu của chúng tôi còn thấp hơn so
với kết quả của một số tác giả khác đã báo cáo khi sử dụng tế bào trứng thu từ bò
sống (Galli và cs. 2001: 64,4%; Reis và cs. 2002: 81,1%; Rizos và cs. 2005:
80,8%). Tuy nhiên, Tỷ lệ hợp tử phát triển trong nghiên cứu của chúng tôi
(39,85%) cao hơn tỷ lệ của của Galli và cs. (2001) (25,39% ) đã công bố. Tỷ lệ có
chửa (30,0%) trong nghiên cứu của chúng tôi còn thấp hơn so tỷ lệ của Galli và cs.
(2001) đã báo cáo (55,4%).
Bảng 6.
Kết quả tạo phôi và cấy phôi tạo ra từ tế bào trứng thu từ bò sống
Kết quả
Chỉ tiêu
n %
Tế bào trứng đợc nuôi thành thục in vitro 768 100,0
Tế bào trứng thành thục in vitro 547 71,2
Tế bào trứng thụ tinh/tế bào trứng thành thục 366 66,91
Hợp tử phân chia/tế bào trứng thành thục 295 53,93
Hợp tử phát triển/tế bào trứng thành thục 218 39,85
Cấy cho bò nhận động dục đồng pha (n) 20 100,0
Bò có chửa 6 30,33
Bê sinh ra 5 25,0
5. Kết luận và kiến nghị
5.1. Kết luận
Không có sự khác biệt về số lợng tế bào trứng trung bình thu đợc/bò/tuần
giữa phơng pháp siêu âm thu tế bào trứng lần một tuần so với hai lần một tuần
(5,10 so với 5,28). Tuy nhiên, có sự khác nhau về tỷ lệ hợp tử phát triển đến giai
đoạn phôi dâu, phôi nang giữa phơng pháp siêu âm thu tế bào trứng lần một tuần
so với hai lần một tuần (38,83% so với 42,48%).
5.2. Kiến nghị
Tiếp tục nghiên cứu để tăng số lợng tế bào trứng thu đợc/lần siêu âm thu
tế bào trứng.