Điều tra thực trạng chăn nuôi bò sữa quy mô hộ gia đình tại Ba Vì những năm 2006-2007 - Pdf 27

ĐIềU TRA THựC TRạNG CHĂN NUÔI Bò SữA
QUY MÔ Hộ GIA ĐìNH TạI BA Vì NHữNG NĂM 2006-2007

Nguyễn Quốc Toản

ABSTRACT
Starting from the hypothesis that attributes the improvement of income and livelihood stability for
small scale farmers to dairy production, this study uses a variety of methods such as literature
study, semi-structure interview and focus group discussion to identify the conditions under which
small scale farmers can get profits and benefits for improving their living standards.
Simultaneously, the study identifies major opportunities as well as main constraints for dairy
production development in Vietnam. The study was carried out in Bavi District belonging to
Hatay province next to Hanoi Capital in the west. The data and information collected from the
field work have been processed by using SPSS 12.0 softwares to provide the case study with
supporting evidences in details. The study realized a depression of dairy cattle population in Bavi
in 2006 due to the main cause of low milk price. The study also realized that 42.5 % of the total
number of the stop-dairy farmers want to restart keeping dairy cattle for their livelihood. The
major opportunities for farmers to develop dairy production comprise supporting policies from the
government, the establishment of milk collection system, the acceptable price for raw milk which
covers all farmers input production cost, and dairy activities being operated as a farming system.
The main constraints that were pointed out by the study relate to insufficient supply of animal
feed, and the limitation of land use rights. The study helps to conclude that dairy production can
be developed by small scale farmers in the region.

Key words: Dairy production, livelihood stability, small scale farmers, stop-dairy farmer,
income, depression, opportunity, constraint.

Đặt vấn đề:
Sau khi quyết định số 167/2001/QĐ-TTg đợc ban hành, ngành chăn nuôi
bò sữa ở nớc ta nói chung và ở Ba vì nói riêng đã phát triển mạnh mẽ. Vào lúc cao
điểm, 27 trong tổng số 32 xã của huyện Ba vì đã thành lập đợc đàn bò sữa với

0
C; với biên độ dao động trung bình thấp nhất là 16,4
0
C vào
tháng Giêng và cao nhất là 28,9
0
C vào tháng Bảy. Lợng ma trung bình hàng năm
là 1500-1600mm, cao nhất trong giai đoạn từ tháng Sáu đến tháng Chín
(300mm/tháng), và thấp nhất trong giai đoạn từ tháng Chạp đến tháng Ba (gần
40mm/tháng) (KNBV, 2006).
2.2 Thời gian:
Đề tài đợc thực hiện từ tháng 6/2006 đến tháng 3/2008. Cụ thể đợc chia
thành các giai đoạn nh sau:
- Từ 6/2006 đến 12/2006: Thu thập thông tin thứ cấp và lập đề cơng nghiên cứu
sơ bộ;
- Từ 01/2007 đến 6/2007: Điều tra khảo sát ban đầu, xây dựng và chỉnh sửa bảng
hỏi, và lập đề cơng nghiên cứu chi tiết ;
- Từ 7/2007 đến 10/2007: Điều tra cơ bản, hoàn thành đề cơng nghiên cứu chi
tiết và thu thập đầy đủ các thông tin, số liệu cần thiết;
- Từ 11/2007 đến 3/2008: Xử lý số liệu và viết báo cáo.
2.3 Điều tra lấy mẫu:
- Chọn ngẫu nhiên 9 xã trong tổng số 23 xã có ngành chăn nuôi bò sữa trong toàn
huyện;
- Mỗi xã chọn ngẫu nhiên 10 hộ gia đình trong danh sách các hộ gia đình đã từng
nuôi bò sữa và đang nuôi bò sữa (danh sách đợc cán bộ khuyến nông chuyên
trách về chăn nuôi của xã cung cấp).
2.4 Thu thập thông tin:
- Thông tin thứ cấp đợc thu thập từ các báo cáo tổng kết và báo cáo thống kê có
liên quan tới chăn nuôi bò sữa từ cấp độ xã tới Trung ơng;
- Thông tin cơ bản đợc thu thập trực tiếp tại cơ sở thông qua việc áp dụng

200
250
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Nam
So luong (Tan hay So dau bo)
Tong so bo sua (con)
San luong sua (1000 tan)
vì, với điều kiện tự nhiên và khí hậu thích hợp, đã đợc quy hoạch thành
vùng chăn nuôi bò sữa từ thời Pháp thuộc và đã trở thành cái nôi của ngành chăn
nuôi bò sữa ở miền Bắc Việt nam. Đặc biệt từ khi Quyết định 167/2001/QĐ-TTg
đợc ban hành, chăn nuôi bò sữa ở Ba vì đã phát triển rất nhanh ở quy mô hộ gia
đình. Đầu năm 2005, khi chăn nuôi bò sữa phát triển nhất, Ba vì có 27 trong tổng
số 32 xã của huyện có đàn bò sữa với tổng đàn gần 2000 con, cha kể đàn bò sữa
đợc nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba vì (KNBV, 2006). Tuy vậy,
trong năm 2006, hàng trăm hộ gia đình nông dân đã phải bán đàn bò sữa mới đợc
gây dựng trong vòng 4-5 năm để cứu vốn. Đến cuối năm 2006, Ba vì chỉ còn 23 xã
nuôi bò sữa với tổng đàn 1891 con, trong đó 870 con thuộc TTNC Bò và Đồng cỏ
Bavì (KNBV, 2006). Biến động của đàn bò sữa trên địa bàn nghiên cứu đợc thể
hiện ở Đồ thị 2.
Giá sữa thấp đợc coi là nguyên nhân chính của sự suy thoái kể trên. Trong
các năm 2005 và 2006, giá sữa tại các địa điểm thu mua dao động từ 2800 đến
3200 đồng/kg. 100% các hộ gia đình đợc phỏng vấn không thoả mãn với giá sữa
này. Theo họ, với giá này, không thể đủ để bù đắp chi phí sản xuất. 60% tổng số
hộ dừng chăn nuôi bò sữa (24/40 hộ) coi giá sữa thấp là nguyên nhân duy nhất
khiến họ không thể tiếp tục chăn nuôi bò sữa. Bên cạnh nguyên nhân giá sữa thấp,
các hộ gia đình khác còn nêu lên các lý do: địa điểm thu mua xa, khâu kiểm định
chất lợng để chốt giá sữa không rõ ràng, giá thức ăn gia súc quá cao v.v
Đồ thị 2. Biến động đàn bò sữa trên địa bàn nghiên cứu

Biờn ủụng ủan bo sa trờn ủia ban nghiờn cu

Số lao
động
Số trẻ em
Mean 48.82

4.72

3.20

1.52

Đang nuôi
BS (n=50)
SD 6.33

1.37

1.14

1.02

Mean 47.50

4.25

2.63

1.62

Dừng nuôi

(P=0,625);
- Số lợng lao động của nhóm hộ đang tiếp tục chăn nuôi bò sữa cao hơn đáng kể
(P=0,007) so với nhóm hộ gia đình dừng chăn nuôi bò sữa (3,20 1,14 so với
2,63 0,74); Nh vậy, phải chăng việc thiếu lao động trong gia đình cũng có
thể là một trong những nguyên nhân khiến hộ gia đình thôi không tiếp tục chăn
nuôi bò sữa nữa và việc phát triển ngành chăn nuôi bò sữa có thể tạo công ăn
việc làm cho nhiều lao động ???
- Không có sự sai khác đáng kể về trình độ học vấn của chủ hộ giữa hai nhóm hộ
gia đình (P=0,584). Điều này đợc thể hiện ở bảng sau.

Bảng 2. Trình độ văn hoá của chủ hộ gia đình

Hộ GĐ Trình độ VH Tần số Phần trăm
Tiểu học 2 4.0
Trung học cơ sở 27 54.0
Trung học phổ thông 21 42.0
Đang nuôi
bò sữa
n=50
Tổng cộng

50 100.0
Tiểu học 3 7.5
Trung học cơ sở 16 40.0
Trung học phổ thông 21 52.5
Dừng nuôi
bò sữa
n=40
Tổng cộng



1462.33

1121.32

566.46

1074.80

3124.81

Mean

359.30

1629.00

536.75

7.50

54.00

2586.55

Dừng
nuôiBS
(n=40)
SD 78.92



2.90

.14

.26

3.80

134.10

8.20

Đang nuôi
BS (n=50)
SD 1.39

.41

.60

6.24

499.63

42.99

Mean

.00

Nam á (Luthi và cs, 2006);
- Hộ ngừng nuôi bò sữa chăn nuôi nhiều lợn và gà hơn so với hộ đang nuôi bò sữa
(P=0,001 và P=0,045, tơng ứng). Theo phỏng vấn, nuôi lợn và gà ngay tại vị trí
đã từng đợc sử dụng làm chuồng nuôi bò đợc coi nh giải pháp tạm thời để
duy trì thu nhập cho gia đình và tận dụng thời gian rảnh rỗi khi hộ gia đình
ngừng chăn nuôi bò sữa;
- Phần lớn các hộ gia đình chăn nuôi gà thả vờn, quy mô nhỏ. Mặc dù có những
hộ nuôi hàng ngàn con gà theo phơng thức công nghiệp nhng số hộ nuôi gà
với quy mô trên 100 con chỉ chiếm 11,1% trong tổng số 90 hộ gia đình đợc
phỏng vấn.

3.3.4 Năng suất sữa (NSS) và khoảng cách lứa đẻ (KCLĐ):
Nhóm hộ gia đình đang nuôi bò sữa có NSS cao hơn và KCLĐ thấp hơn so
với nhóm hộ gia đình dừng chăn nuôi bò sữa (P=0,011 và P=0,136, tơng ứng).
ét về khía cạnh này có thể nói rằng các hộ đang tiếp tục chăn nuôi bò sữa đã lựa
chọn đợc con giống tốt hơn các hộ đã dừng nuôi.

ảng 5. NSS và KCLĐ của hai nhóm hộ GĐ

Hộ GĐ NSS (kg/con/ngày) KCLĐ (năm)
Mean 14.64 1.15
SD 1.54 .20
Minimum 10 1.0
Đang nuôi
bò sữa
(n=50)
Maximum 20 2.0
Mean 13.75 1.19
SD 1.41 .29
Minimum 9 1.0
Phân tích hồi quy tuyến tính cho thấy thu nhập năm 2006 của hai nhóm hộ
gia đình phụ thuộc vào Tổng diện tích đất đai (P=0,017), NSS (P=0,064), và Số bò
sữa (P=0,001), mà ít hoặc không phụ thuộc vào Số lợn (P=0,220) hay Số gà
(P=0,857). Phơng trình hồi quy tuyến tính đợc biểu diễn nh sau:
TN 2006 = 8.210.036,7 + 730.416,7 NSS + 570,3 Tổng DT Đất
112.919,2 Số lợn + 166,5 Số gà + 1.722.388,4 Số bò sữa;
Tơng tự, thu nhập năm 2007 của hai nhóm hộ gia đình phụ thuộc vào NSS
(P=0,150), Tổng diện tích đất đai (P=0,095) và Số bò sữa (P=0,001). Phơng trình
hồi quy tuyến tính đợc biểu diễn nh sau:
TN 2007 = 13.372.431,1 + 756.010,5 NSS + 558,2 Tổng DT Đất +
1.774.100,4 Số bò sữa + 21.517,5 Số lợn + 385,1 Số gà

3.3.6 Kế hoạch cho những năm tới:
- 83 trong tổng số 90 hộ gia đình đợc phỏng vấn (92,2%) không có kế hoạch
mới để thay đổi các loại mùa vụ hiện đang có;
- 72% số hộ gia đình đang chăn nuôi bò sữa (36/50 hộ) có ý định tăng đàn bò sữa;
Trong số các hộ gia đình dừng chăn nuôi bò sữa, có 52,5 % (21 hộ) có kế hoạch
mới liên quan tới đàn gia súc của họ, trong đó có 17 hộ gia đình có kế hoạch đi
tìm mua bò sữa giống tốt để tiếp tục chăn nuôi loại gia súc này.

ảng 7. Số hộ dừng CNBS muốn tiếp tục nuôi BS

ý kiến của chủ hộ Tần số Phần trăm (%)
Không nuôi bò sữa nữa 23 57,5
Mua bò giống tốt và lại
nuôi bò sữa
17 42,5
Tổng


TàI LIệU THAM KHảO

1. Cục Chăn nuôi, 2005; 2006. Báo cáo hàng năm.
Lê Viết Ly, Bùi Văn Chính, Cù Xuân Dần, và Đỗ Văn Minh, 2002. Điều tra
khảo sát về việc sử dụng các nguồn phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn gia
súc trong điều kiện chăn nuôi quy mô hộ gia đình ở Việt nam. Viện Chăn
nuôi Quốc gia, Hà nội, Việt nam.
3. Luthi Nancy Bourgeois và cs, 2006. Tổng kết, phân tích và phổ biến kinh
nghiệm chăn nuôi bò sữa Việt nam. FAO, Tháng 6/2006.
4. Nguyễn Đăng Vang, Lê Thị Thuý, 1999. Tình hình chăn nuôi tại Việt nam
từ 1990 đến 1998. FAO, Bangkok, Thailand, Tháng 8/1999.
5. Suzuki Kuniaki, 2003. So sánh các đặc điểm của các hộ chăn nuôi bò sữa và
không chăn nuôi bò sữa ở tỉnh Hà tây. Phụ lục tổng kết và phổ biến kinh
nghiệm chăn nuôi bò sữa tại Việt nam, 2003.
6. Suzuki Kuniaki, 2005. Điều tra về các khó khăn trong việc chăm sóc thú y
cho đàn bò sữa Việt nam. NXB Đại học Thú y Hoàng gia Luân đôn.
7. Trạm Khuyến nông Ba vì, 2006; 2007. Báo cáo tổng kết năm.
8. Vũ Chí Cơng, Đinh Văn Tuyền, Vũ Văn Nội, và Mai Văn Sánh, 2007. Báo
cáo về tình hình chăn nuôi trâu, bò Việt nam. (Cha xuất bản).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status