ĐẶC ĐIỂM HỆ THỐNG BUÔN BÁN VẬN CHUYỂN GIA CẦM TẠI 4 TỈNH HÀ TÂY,
THÁI BÌNH, THANH HOÁ VÀ LONG AN – THUỘC DỰ ÁN IDRC
Vũ Chí Cương, Trần Thị Mai Phương,
1
Nguyễn Quý Khiêm,
1
Nguyễn Thị Nga,
1
Bạch Thị Thanh Dân và ctv
Viện Chăn Nuôi
1
Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thuỵ Phương
Tóm tắt
Các công trình nghiên cứu về mối liên quan giữa chăn nuôi gia cầm và thương lái, đặc biệt là giữa chăn
nuôi gia cầm nhỏ lẻ và nhừng người thu gom vận chuyển, buôn bán gia cầm và chợ gia cầm sống ở Việt nam (nước
bị ảnh hưởng nặng nề của dịch cúm gia cầm H5N1) còn rất ít và thiếu. Những thông tin này rất khó tìm thấy, trong
khi những thông tin sẵn chưa cung cấp cho ta những thông tin chi tiết về mối liên quan này và đặc biệt về vai trò của
nó trong đại dịch cúm gia cầm. Việc tìm hiểu về dòng chảy thương mại của gia cầm sống và vai trò của nó trong
việc lây lan bệnh cúm gia cầm là điều hết sức cần thiết
Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiện nay có rất nhiều kênh tiêu thụ gia cầm nhỏ lẻ tuy nhiên chiếm tỷ lệ lớn
nhất vẫn là bán gia cầm tại nhà cho thương lái và bán cho hàng xóm, tiếp đén là bán ở chợ quê. Với kênh tiêu thụ
này, người chăn nuôi nhỏ lẻ không bị ràng buộc, có nghĩa là việc bán gia cầm được xuất phát đơn lẻ từ nhu cầu tiêu
thụ của các chợ chứ không có sự liên kết với các tác nhân khác trong chuỗi thành một thể thống nhất nào.
Phương tiện vận chuyển gia cầm chủ yếu là xe đạp và xe máy, thương lái có thể đi từ làng này qua làng
khác trong một ngày với khoảng cách xa nhất lên đến 200 km. Đây là một trong những con đường lây lan dịch
bệnh nguy hiểm nhất, trong khi đó việc kiểm soát vận chuyển lại không được các cơ quan chức năng tiến hành
thường xuyên.
1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi gia cầm đóng một vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta.
trò của nó trong việc bùng phát các ổ dịch. Nghiên cứu về đặc điểm của hệ thống buôn bán, vận
chuyển gia cầm nhằm giúp hiểu rõ hơn về “dòng chảy” của gia cầm sống và mạng lưới buôn bán
vận chuyển gia cầm tại 4 tỉnh đại diện cho 3 miền của Việt Nam, khám phá vai trò của hệ thống
này trong đường dẫn rủi do của dịch cúm gia cầm
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chính được sử dụng trong dự án này tuân theo phương pháp của Lebel,
2003 (eco-health)
Phương pháp điều tra có sự tham gia, sử dụng công cụ đặc biệt (quan sát có sự tham gia,
thảo luận nhóm chuyên sâu)
Kết hợp phỏng vấn các hộ nông dân (sử dụng bảng câu hỏi) và quan sát trực tiếp việc
vận chuyển và tiêu thụ gia cầm, thu thập những thông tin về hiểu biết và thói quen của những
người kinh doanh, buôn bán và vận chuyển gia cầm từ chợ trời, phương thức bày bán và tiêu thụ
sản phẩm.
Phỏng vấn các cơ quan chính quyền địa phương bằng bảng câu hỏi.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Hệ thống tiêu thụ và vận chuyển gia cầm ở các tỉnh dự án
Kết quả điều tra cho thấy: hiện có rất nhiều kênh tiêu thụ gia cầm sống và các sản phẩm
gia câm. Tuy nhiên hầu hết các hộ chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ đều lựa chọn phương thức bán gia
cầm sống cho thương lái ngay tại nhà, tiếp theo là bán tại chợ quê. Việc lựa chọn các kênh tiêu
thụ sản phẩm thường là đa dạng, tùy thuộc vào vị trí địa lý, khoảng cách đến chợ, mật độ thương
lái, hệ thống vận chuyển và giá cả được coi là những nguyên nhân chính.
Sơ đồ 1 cho chúng ta biết các thông tin cơ bản về mạng lưới tiêu thụ gia cầm nhỏ lẻ tại 4
tỉnh đại diện cho 3 miền của Việt Nam.
Sơ đồ 1a: Hệ thống tiêu thụ gia cầm tại Hà tây và Thái Bình (miền Bắc -Việt Nam)
nhau: thương lái, chợ quê, lò ấp địa phương, từ người làng
và tự sản xuất
Gia cầm nội từ các hộ chăn
nuôi nhỏ lẻ
Bán cho
thương lái và
người thu
gom tại nhà
70-80%
Bán ở chợ quê (cách
nhà khoảng1km),
bán cho người bán
lẻ ở chợ hoặc bán
trực tiếp cho người
tiêu dùng, bán cho
thương lái, người
thu gom ở chợ 10-
20% gia cầm sống
và vận chuyển bằng
xe đạp, xe máy
Tiêu thụ
trong gia
đình 3- 5%
(tự giết mổ)
Bán cho
người làng,
hàng xóm
5-10% gia
cầm sống
Mua con giống Gia cầm sống Gia cầm sống
Gia cầm sống Gia cầm sống Gia cầm sống
20% Gia cầm sống Gia cầm sống Con giống (là các giống địa phương từ nhiều
nguồn khác nhau: thương lái, chợ quê, lò ấp địa
phương, từ người làng và tự sản xuất
đám cưới,
đám giỗ
Thị trường TP
(cách nhà 14-55 –
200km): Cửa lò,
khu công nghiệp
Nghi sơn , TP
Thanh Hóa và
thỉnh thoảng bán
ra Hà Nội cho nhà
hàng, căng tin Sơ đồ 1c. Hệ thống tiêu thụ gia cầm tại Long an (miền Nam -Việt Nam)
Mua con giống Gia cầm sống Gia cầm sống
Gia cầm sống Gia cầm sống
người bán lẻ ở chợ hoặc
bán trực tiếp cho người
tiêu dùng, bán cho thương
lái, người thu gom ở chợ
10% gia cầm sống và vận
chuyển bằng xe đạp, xe
máy
Tiêu thụ
trong gia
đình 5%
(tự giết
mổ)
Bán cho
người làng,
hàng xóm
5% gia cầm
sống cho
đám cưới,
đám giỗ
Bán cho chợ đầu
mối ở TP HCM
(cách nhà: 40
km)
Nhà máy giết
mổ (100%)
Siêu thị
Người bán lẻ ở
chợ trời
Nhà hàng, căng tin,
Trung
bình
Tân
hội
Tản
lĩnh
Việt
thuận
Vũ
Tiến
Hùng
sơn
Tân
trường
Phú
ngãi
trị
Thuận
mỹ
Tại nhà
94.44
69.39
95.65
95.74
50.00
96.67
80.00
60.47
78.90
Pearson Chi-Square = 116.640, DF = 21
Pearson Chi-Square = 118.612, DF = 28; Pearson Chi-Square = 89.148, DF = 42 0
10
20
30
40
50
60
70
80
%
Tại nhà
Chợ huyện
Tại nhà + chợ quê
Chợ tỉnh
Biểu đồ 1. Địa điểm tiêu thụ gia cầm và sản phẩm gia cầm
Kết quả này phù hợp với GSO (2004), 50% người dân bán gia cầm hoặc sản phẩm gia cầm tại
nhà, số còn lại được bán ở chợ quê.
3.2. Phương tiện vận chuyển gia cầm
Người chăn nuôi cũng như thương lái, người thu gom thường sử dụng nhiều loại phương tiện để
vận chuyển gia cầm như: xe đạp, xe máy và phương tiện công cộng (xem bảng 2, biểu
đồ 2).
Bảng 2. Phương tiện vận chuyển gia cầm
Loại phương tiện
Hà Tây
0.00
5.79
Xe đạp, xe máy
78.57
87.50
100
95.24
100
100
91.49
100
94.21
Khoảng 94% người dân ở cả 3 vùng sử dụng phương tiện tư nhân như xe đạp, xe máy để vận
chuyển gia cầm. Thương lái vận chuyển gia cầm bằng xe đạp, xe máy đi từ làng này sang làng khác, từ
nhà này qua nhà khác rất nguy hiểm trong việc lây lan dịch bệnh. Rất ít người sử dụng phương tiện
công cộng (5,79%). Không có xe chuyên dụng đe vận chuyển gia cầm
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
%
1
83.67
47.92
58.33
95.74
70.00
68.00
62.00
64.09
Khi giá cao
15.38
0.00
0.00
4.17
0.00
20.00
8.00
16.00
7.18
Khi gia cầm bị ốm
0.00
4.08
0.00
0.00
0.00
0.00
0.00
0.00
0.83-
5.80
Lễ hội
Cần tiền
Khi giá cao
Khi gia cầm bị ốm
Lễ hội
Lý do khác
Biểu đồ 3. Lý do người dân bán gia cầm và các sản phẩm gia cầm
Các cán bộ địa phương tại hai xã Việt Thuận và Vũ Tiến (Vũ Thư Thái Bình) cho rằng
một số hộ chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ phục vụ chính cho việc tiêu thụ trong gia đình, trong khi đa
số người chăn nuôi ở cả 3 vùng (70-80%) đều nuôi gia cầm để bán. Kết quả này có vẻ tương
phản với kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Maltsoglou and Rapsomanikis (2005), các tác giả
này cho rằng khoảng 64-95% gia cầm chăn nuôi nhỏ lẻ được tiêu thụ trong gia đình. Tuy nhiên
kết quả của chúng tôi tương đương với kết quả nghiên cứu của Tung (2005), tác giả cho rằng
phần lớn người chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ bán gia cầm để có chi phí hơn là tiêu thụ trong gia đình.
Các hộ chăn nuôi gà thường bán sản phẩm quanh năm trong khi đó các hộ chăn nuôi vịt
bán sản phẩm theo mùa.
3.4. Giá bán sản phẩm gia cầm nội
Giá cả của các sản phẩm gia cầm nội nuôi nhỏ lẻ thường cao hơn có khi cao gấp đôi so
với gia cầm nuôi theo hướng công nghiệp bởi vì chất lượng của chúng. Điều này chứng tỏ rằng
người tiêu dùng không ngần ngại khi phải sử dụng nhiều tiền để mua các sản phẩm có chất lượng
cao, đây là một trong những yếu tố quan trọng trong định hướng phát triển các ngành hàng. Theo Burgos và ctv, 2007, kết quả điều tra của nhóm tác giả cho biết 54% các hộ gia đình chỉ ăn thịt
gia cầm nội.
Một điều thuận lợi cho người tiêu dùng là ở các chợ đều có bán gia cầm sống và các sản
phẩm gia cầm nội, vì vậy họ có nhiều cơ hội để lựa chọn. Tuy nhiên đây cũng là một điều bất lợi
trong công tác phòng chống dịch bệnh và ngăn chặn sự lây lan dịch bệnh đồng thời không đảm
bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Các hộ chăn nuôi gia cầm nhỏ lẻ thường nằm rải rác và ở các điều kiện địa lý khác nhau, đặc biệt
and their pathogenic potential. Virology 2005 , 332(2):529-537. 4. Kiss IZ, Green DM, Kao RR. The network of sheep movements within Great Britain: Network properties
and their implications for infectious disease spread. Journal of the Royal Society, Interface/the Royal
Society 2006 , 3(10):669-677.
5. Kung NY, Morris RS, Perkins NR, Sims LD, Ellis TM, Bissett L, Chow M, Shortridge KF, Guan Y, Peiris
MJ. Risk for infection with highly pathogenic influenza A virus (H5N1) in chickens, Hong Kong, 2002.
Emerging infectious diseases 2007 , 13(3):412-418.
6. Lebel.J (2003). Health and Ecosystem Approach, Ottawa: IDRC.
7. Liu M, He S, Walker D, Zhou N, Perez DR, Mo B, Li F, Huang X, Webster RG, Webby RJ. The influenza
virus gene pool in a poultry market in South central china. Virology 2003 , 305(2):267-275.
8. Maltsoglou, I.; Rapsomanikis, G. (2005). “The Contribution of livestock to household income in Viet Nam: A
household typology based analysis.” FAO PPLPI Working paper No. 21
9. Meyers LA, Pourbohloul B, Newman ME, Skowronski DM, Brunham RC. Network theory and SARS:
predicting outbreak diversity. Journal of theoretical biology 2005 , 232(1):71-81.
10. Nguyen DC, Uyeki TM, Jadhao S, Maines T, Shaw M, Matsuoka Y, Smith C, Rowe T, Lu X, Hall H, et al
Isolation and characterization of avian influenza viruses, including highly pathogenic H5N1, from poultry
in live bird markets in Hanoi, Vietnam, in 2001. Journal of virology 2005 , 79(7):4201-4212.
11. Ortiz-Pelaez A, Pfeiffer DU, Soares-Magalhaes RJ, Guitian FJ. Use of social network analysis to
characterize the pattern of animal movements in the initial phases of the 2001 foot and mouth disease
(FMD) epidemic in the UK. Preventive veterinary medicine 2006 , 76(1-2):40-55.
12. Panigrahy B, Senne DA, Pedersen JC. Avian influenza virus subtypes inside and outside the live bird
markets, 1993-2000: a spatial and temporal relationship. Avian diseases 2002 , 46(2):298-307.
13. Phan Huy L, Nguyen Quang N, Nguyen Dinh L. The country life in the Red River Delta. Hanoi: Vietnam
National University - Centre for Vietnamese and Intercultural Studies; 1997.
14. Poultry production situation in Vietnam period 2001-2005, Department of Livestock production 6/2008
15. Senne DA, Suarez DL, Pedersen JC, Panigrahy B. Molecular and biological characteristics of H5 and H7
avian influenza viruses in live-bird markets of the northeastern United States, 1994-2001. Avian diseases
2003 , 47(3 Suppl):898-904.