ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
PHÙNG VĂN DŨNG
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
SAU KHI GIA NHẬP
TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Hà Nội, ngày 16 tháng 9 năm 2014
Tác giả luận án Phùng Văn Dũng
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt i
Danh mục các bảng iii
Danh mục các biểu đồ, đồ thị iv
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 6
1.1. Những lý thuyết và nghiên cứu về phát triển nông nghiệp 6
1.2. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của hội nhập KTQT 10
1.3. Những vấn đề cần nghiên cứu, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 23
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP SAU WTO 25
2.1. Nông nghiệp và phát triển nông nghiệp 25
2.1.1. Nông nghiệp và vai trò của sản xuất nông nghiệp 25
2.1.2. Phát triển nông nghiệp 31
2.2. WTO và các Hiệp định liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp 48
2.2.1. Vai trò, nguyên tắc hoạt động của WTO 48
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VIỆT
NAM TRONG THỜI GIAN TỚI ĐẾN NĂM 2025 141
4.1. Xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới 141
4.2. Quan điểm phát triển nông nghiệp Việt Nam 144
4.2.1. Phát triển nông nghiệp theo hướng “phát triển bền vững” 144
4.2.2. Nâng cao năng lực cạnh tranh là đòi hỏi của phát triển nông nghiệp 145
4.2.3. Hình thành mạng sản xuất, chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị ngành hàng trong
phát triển nông nghiệp 147
4.2.4. Tăng cường áp dụng khoa học và công nghệ trong phát triển nông nghiệp 149
4.2.5. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN trong phát triển
nông nghiệp 150
4.3. Một số giải pháp phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, hiệu quả và
tăng giá trị gia tăng 151
4.3.1. Nhóm giải pháp chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp 151
4.3.2. Nhóm giải pháp đẩy mạnh áp dụng khoa học và công nghệ tiên tiến đồng bộ
vào sản xuất, chế biến, kinh doanh và tiêu thụ nông lâm thủy hải sản tạo đột
phá mới trong phát triển nông nghiệp 157
4.3.3. Nhóm giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực tham gia chuỗi giá trị
nông sản và năng lực tổ chức thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp 161
4.3.4. Nhóm chính sách giải quyết mối quan hệ nông nghiệp - nông dân - nông
thôn trong phát triển nông nghiệp bền vững 164
4.3.5. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và hệ thống chính
sách phù hợp với WTO 166
KẾT LUẬN 170
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN 172
ĐTH Đô thị hóa
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
EFTA Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu
EPA Hiệp định đối tác kinh tế
ERP Chỉ số tỷ lệ bảo hữu hiệuEU Liên minh châu Âu
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA Hiệp định thương mại tự do
GATT Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GTSX Giá trị sản xuất ii
HTX Hợp tác xã
IFAD Quỹ Nông nghiệp và Phát triển quốc tế
IUCN Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thế giới
IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế
ITO Tổ chức Thương mại Quốc tế
IUU Quy định về IUU của thị trường EU
KTQT Kinh tế quốc tế
MFN Đãi ngộ Tối huệ quốc (Most Favoured Nation)
MUTRAP Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng Trang
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu kinh tế của các nước Đông Nam Á 73
Bảng 3.2: Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam 73
Bảng 3.3: Cơ cấu GDP phân theo ngành kinh tế (theo giá thực tế) 75
Bảng 3.4: Cơ cấu lao động nông lâm thủy sản 110
Bảng 3.5: Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp 111
Bảng 3.6: Cơ cấu giá trị sản xuất lâm nghiệp 112
Bảng 3.7: Cơ cấu giá trị sản xuất ngành thủy hải sản 113
Bảng 3.8: Vốn đầu tư toàn nền kinh tế và ngành nông nghiệp 114
Bảng 3.9: GTSX trên 1ha đất trồng trọt và mặt nước nuôi trồng thủy sản 118
Bảng 3.10: Trang trại trong ngành nông nghiệp 120
Bảng 3.11: Chỉ số RCA của một số ngành hàng nông sản xuất khẩu 125
Bảng 3.12: Chỉ số RCA hàng gỗ và các sản phẩm làm từ gỗ XK 127
Bảng 3.13: Cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy hải sản 128
Biểu đồ 3.9: Kim ngạch nhập khẩu hàng thủy sản 2000-2013 107
Biểu đồ 3.10: Cơ cấu giá trị gia tăng ngành NN, LN, TS 108
Biểu đồ 3.11: Chuyển dịch cơ cấu GTSX ngành nông nghiệp 109
Biểu đồ 3.12: Cơ cấu thị trường xuất khẩu gỗ từ 2002 - 2012 126
Đồ thị:
Đồ thị 3.1: Giá trị xuất khẩu một số mặt hàng nông sản 101
Đồ thị 3.2: Giá trị nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ 2002 - 2011 103
Đồ thị 3.3: Chỉ số lợi thế so sánh hữu hiệu RCA thủy sản 129
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tàiTrong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ, hội
nhập kinh tế đã trở thành đòi hỏi khách quan đối với sự phát triển của các nền
kinh tế, các quốc gia, làm thế nào để có thể kết hợp và sử dụng tốt nguồn lực
Trong thời gian qua có các nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn về nông
nghiệp Việt Nam trong quá trình CNH và HĐH, ảnh hưởng của hội nhập
KTQT đến nông nghiệp… Các nghiên cứu đều chỉ ra: Sản xuất nông nghiệp
của Việt Nam kém bền vững, hiệu quả thấp, ô nhiễm môi trường ngày càng
tăng. Năng lực cạnh tranh và tham gia chuỗi giá trị hàng nông sản toàn cầu còn
thấp; sản xuất nhỏ vẫn là phổ biến và sự hợp tác, liên kết, liên doanh trong sản
xuất chậm phát triển. Đổi mới cơ chế, chính sách không theo kịp với hội nhập
nên vốn nền nông nghiệp Việt Nam đã yếu thế lại càng yếu thế hơn…
Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào làm rõ nền nông nghiệp Việt Nam
phát triển như thế nào sau khi gia nhập WTO? Việt Nam phải làm gì để nền
nông nghiệp vừa tận dụng tốt cơ hội, vừa vượt qua thách thức khi thực hiện
các cam kết với WTO để phát triển đang là câu hỏi lớn và cấp thiết. Với lý do
đó, tác giả lựa chọn "Phát triển nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nhập Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO)" làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sỹ
chuyên ngành Kinh tế chính trị.
2. Mục đích nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu chung
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển của nền nông nghiệp
Việt Nam. Đề xuất phương hướng và những giải pháp cơ bản nhằm phát triển
nông nghiệp Việt Nam có hiệu quả và bền vững trong quá trình thực hiện các
cam kết với WTO.
2.2. Mục đích nghiên cứu cụ thể
- Nghiên cứu cơ sở lý luận chung, đưa ra các tiêu chí về đánh giá sự phát
triển nông nghiệp sau WTO.
3
- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về phát triển nông nghiệp sau WTO.
phương hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp Việt Nam theo hướng hiệu
quả và bền vững đến năm 2025 và những năm tiếp theo.
4. Phương pháp nghiên cứu
Việt Nam hội nhập KTQT ngày càng sâu rộng, cùng với việc thực hiện
các cam kết WTO, còn phải thực hiện những cam kết FTA khu vực, đa
phương, song phương đều có liên quan và tác động đến nông nghiệp; nên rất
khó bóc tách đâu là tác động do WTO, đâu do các cam kết khác tác động đến
phát triển nông nghiệp.
Do vậy luận án sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và
nghiên cứu định lượng để đánh giá tác động của việc thực hiện các cam kết
WTO đến phát triển nông nghiệp. Nghiên cứu định định tính giúp rà soát các
cam kết WTO có liên quan đến ngành nông nghiệp, mặt khác xác định được
những tác động có thể xảy ra và nguyên nhân của những tác động đó. Những
phân tích định lượng như: phương pháp hệ thống, tổng hợp, thống kê, so sánh,
phương pháp chỉ số, kết hợp các phương pháp phân tích thực tiễn nhằm kiểm
định tác động của việc thực hiện các cam kết WTO đến phát triển nông nghiệp,
đánh giá mức độ và dự báo xu thế.
Chương 1: Sử dụng phương pháp phân tích để đánh giá những quan
điểm của các học giả và các trường phái lý luận về vấn đề nghiên cứu, rút ra
những vấn đề đã được nghiên cứu đầy đủ, những vấn đề cần được bổ sung và
những nghiên cưú mới.
Chương 2: Sử dụng phương pháp hệ thống hóa và phân tích phát triển
nông nghiệp dưới tác động của WTO; rút ra nội dung của PTNN, tiêu chí đánh
giá và khung phân tích; kinh nghiệm trong việc phát huy thời cơ và hạn chế
thách thức đến phát triển nông nghiệp.
5
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, hội nhập
KTQT nói chung và tham gia WTO nói riêng đã trở thành đòi hỏi khách quan
đối với sự phát triển của các nền kinh tế, các quốc gia. Do vậy, đã có nhiều
công trình nghiên cứu của các tổ chức, các học giả kinh tế nghiên cứu về tác
động của hội nhập KTQT và gia nhập WTO, tìm các biện pháp khắc phục hạn
chế và thách thức, phát huy thời cơ và ưu thế làm lợi cho quốc gia, doanh
nghiệp trong quá trình hội nhập. Đặc biệt Việt Nam là một trong nhóm các
nước đang phát triển và chậm phát triển, để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại
hóa (CNH, HĐH) chủ yếu dựa trên phát triển nông nghiệp,. Do vậy luận án đề
cập đến các công trình nghiên cứu có liên quan đến phát triển nông nghiệp và
ảnh hưởng của hội nhập KTQT đến phát triển nông nghiệp. Có thể phân các
công trình nghiên cứu thành hai nhóm: (i) Các nghiên cứu đi sâu về những lý
thuyết phát triển nông nghiệp, CNH, HĐH. (ii) Các nghiên cứu đi sâu về ảnh
hưởng của hội nhập KTQT, những thời cơ và thách thức, cũng như tìm giải
pháp để hạn chế các khó khăn phát huy lợi thế để nâng cao hiệu quả trong quá
trình hội nhập KTQT và tham gia WTO.
1.1. Những lý thuyết và nghiên cứu về phát triển nông nghiệp
Nông nghiệp là lĩnh vực sản xuất có những nét đặc thù, là ngành sản
xuất gắn với sinh vật, bị chi phối bởi quy luật sinh học, các điều kiện ngoại
cảnh (đất đai, thời tiết - khí hậu) và là ngành sản xuất ra sản phẩm tất yếu để xã
hội tồn tại và phát triển, vì thế từ lâu rất được các nhà kinh tế quan tâm và được
đề cập nhiều trong các lý thuyết kinh tế, nhất là trong các mô hình phát triển
kinh tế của các nước chậm phát triển hiện đang tiến hành CNH, HĐH. Để thấy
rõ các thuyết về phát triển nông nghiệp theo các trường phái chính sau:
8
một cách hiệu quả. Mặc dù vậy, ở một mức độ nhất định nào đó, thuyết này
vẫn còn có giá trị đối với những nước đang trên con đường tiến tới CNH, HĐH
mà có xuất phát điểm là nông nghiệp.
- Trường phái phát triển hài hoà giữa nông nghiệp và công nghiệp. Đại
diện cho trường phái này là E. Schumacher và một số học giả người Mỹ như
Colander, Roy Cohn, Mark Morlock và Robert Stonebreaker. Trong tác phẩm
“Small is beautiful” (nhỏ là đẹp), E. Schumacher cho rằng, phải chú ý thoả
đáng tới phát triển nông nghiệp, nhất là đối với những nước đang phát triển.
Schumacher đề xuất một quan điểm sâu rộng hơn: đảm bảo cho con người tiếp
xúc với thiên nhiên sinh động; nhân bản hoá và nâng cao chất lượng của nơi
sinh sống rộng lớn hơn dành cho con người; cung cấp lương thực, thực phẩm
và các nguyên liệu cần thiết khác cho việc đảm bảo một cuộc sống đầy đủ và
hợp lý.
Về cơ bản, Schumacher đồng tình với quan điểm công nghiệp hoá, song
ông không tán thành thực hiện công nghiệp hoá bằng cách “bóp nặn” mọi
nguồn lực của nông nghiệp; cần kết hợp hài hoà và phát triển cân đối giữa công
nghiệp và nông nghiệp, phải dùng những thành quả của công nghiệp để phục
vụ lại nông nghiệp làm cho nông nghiệp phát triển bền vững hơn.
Quan điểm phát triển cân đối và hài hoà giữa nông nghiệp và công
nghiệp còn cho rằng, phát triển nông nghiệp cần phải đặt trong xu thế hội nhập
kinh tế toàn cầu; yếu tố cạnh tranh cần được chú trọng và tăng cường trên cơ sở
nâng cao năng suất lao động; nâng cao tính tự chủ của nông dân trong quá trình
ra quyết định sản xuất; đảm bảo chuyển dần nông nghiệp truyền thống sang
nông nghiệp hiện đại; kết hợp phát triển công nghiệp gắn với nông nghiệp và
các ngành công nghiệp khác, nâng cao nguồn lực con người, Quan điểm này
dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ
bản, sự đa dạng sinh học và hệ thống trợ giúp của tự nhiên đối với cuộc sống
con người, động vật và thực vật. Qua thời gian khái niệm này không chỉ dừng
lại ở nhân tố sinh thái mà còn mở rộng thêm nội hàm vào nhân tố xã hội, con
10
người, đặc biệt là bình đẳng xã hội. Như vậy phát triển bền vững là sự kết hợp
hài hòa giữa mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường.
Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc về môi và phát triển
bền vững họp tại Johannesburg, Nam Phi, trong các văn kiện nêu: Phát triển
bền vững là sự phát triển không những chỉ đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà
còn không làm ảnh hưởng xấu, cản trở đến sự phát triển của các thế hệ tương
lai, là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt
của sự phát triển, gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo
vệ môi trường. Như vậy đã xác định ba trụ cột của phát triển bền vững đó là:
bền vững về kinh tế, bền vững về mặt xã hội và bền vững về môi trường sinh
thái. Các tiêu chí chủ yếu đánh giá sự bền vững là tăng trưởng kinh tế ổn định;
thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm,
hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên; nâng cao đời sống và chất lượng
môi trường sống. Trong hội nhập KTQT các vấn đề phát triển bền vững cũng
phải được quan tâm nhằm giải quyết những khía cạnh mang tính toàn cầu của
phát triển bền vững như vấn đề nghèo đói và khoảng cách giầu nghèo, khí thải
và biến đổi khí hậu… [82]
1.2. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của hội nhập KTQT
Theo tìm hiểu của tác giả, liên quan đến việc nghiên cứu các vấn đề hội nhập
KTQT và gia nhập WTO đã có một số đề tài, nghiên cứu, cụ thể như sau:
Hội nhập quốc tế về thực chất đã có từ rất sớm, tuy nhiên khái niệm về hội
kinh tế-tiền tệ.
Hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu của thế giới, cũng đồng thời chỉ ra
con đường phát triển không thể nào khác đối với các nước trong thời đại toàn
cầu hóa. Sự lựa chọn tất yếu này còn được quyết định bởi tác động tích cực và
những tác động tiêu cực mà hội nhập KTQT tạo ra cho các nước. Tác giả đề
cập tác động của hội nhập kinh tế nói chung, còn tác động của hội nhập đến
lĩnh vực nông nghiệp chưa được đề cập [47]. 12
Bộ ngoại giao Việt Nam, trong tác phẩm “Việt Nam hội nhập kinh tế trong
xu thế toàn cầu hóa: Vấn đề và giải pháp” cho rằng trong các hình thức hội
nhập, hội nhập kinh tế là nền tảng hết sức quan trọng cho sự tồn tại bền vững
của hội nhập trong các lĩnh vực khác (đặc biệt cho hội nhập về chính trị) nên
được các nước ưu tiên thúc đẩy giống như một đòn bẩy cho hợp tác và phát
triển trong bối cảnh toàn cầu hóa [5].
GS. Cốc Nguyên Dương, trong tác phẩm “Trung Quốc 10 năm đầu thế
kỷ XXI: Phát triển và hợp tác” cho rằng: hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng
tất yếu không một quốc gia nào có thể cưỡng lại, chỉ có thể gia nhập trước hoặc
sau mà thôi. Gia nhập WTO sẽ đem lại nhiều lợi ích cho Trung Quốc: vị thế
chính trị và kinh tế trên trường quốc tế tăng, thúc đẩy thương mại và thu hút
đầu tư nước ngoài, nền kinh tế phát triển hiệu quả hơn, các nguồn lực xã hội
được phân bố hợp lý, cơ cấu kinh tế thay đổi theo hướng phát huy lợi thế so
sánh, những ngành hàng có khả năng cạnh tranh sẽ phát triển, ngành yếu kém
bị đào thải [15].
Nguyễn Thị Hải Yến, trong tác phẩm “Xuất khẩu hàng nông sản ở Việt
Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”. Tác giả đã làm rõ vai trò của
trong WTO và các Hiệp định khu vực Thương mại tự do (FTA) đến hoạt động
sản xuất, thương mại của Việt Nam và các biện pháp hoàn thiện cơ chế điều
hành xuất nhập khẩu giai đoạn 2011-2015”. Dự án đã đánh giá tác động sau 3
năm hội nhập WTO đến kinh tế Việt Nam trong đó có phần nhỏ về nông
nghiệp. Dự án sử dụng các phương pháp so sánh, phân tích… trước và sau hội
nhập. Đặc biệt khi xét đến năng lực cạnh tranh của các ngành hàng, có một
phương pháp được sử dụng phổ biến để phân loại cấp độ cạnh tranh của từng
ngành hàng cụ thể, phân loại những ngành hàng có sức cạnh tranh và không có
sức cạnh tranh, dựa trên chỉ số lợi thế so sánh biểu hiện bằng chỉ số (RCA).
Chỉ số RCA của một ngành nào đó càng lớn, mức độ chuyên môn hóa của
ngành hàng đó trong một nền kinh tế trong nước so với mức độ chuyên môn
hoá của thế giới càng cao thể hiện rằng lợi thế so sánh của ngành hàng đó cũng
14
mạnh hơn. Chính vì vậy, chỉ số RCA qua thời gian sẽ cung cấp những thông tin
về sự thay đổi lợi thế so sánh của một ngành hàng trong nền kinh tế và sự cải
thiện trong cơ cấu xuất khẩu. RCA = (Eij/Eit)/(Enj/Ent), (E là xuất khẩu, i là
quốc gia, j là hàng hóa, n là tập hợp các nước, t là tập hợp các hàng hóa).
Chỉ số ERP cho biết ảnh hưởng ròng của các chính sách thương mại (bao
gồm các hàng rào thuế quan và phi thuế quan nếu trong tính toán có tính đến 2
yếu tố này) đến người sản xuất. Nói cách khác, chỉ số này tính toán tác động
của chính sách bảo hộ tới giá trị tăng thêm (là chênh lệch giữa doanh thu và chi
phí đầu vào) của một ngành. Cụ thể, chỉ số ERP đo lường phần trăm thay đổi
của mỗi đơn vị giá trị tăng thêm của một ngành nào đó dưới tác động của chính
sách bảo hộ thuế quan và phi thuế quan với mỗi đơn vị giá trị tăng thêm có thể
đạt được nếu không có những rào cản trên và tỷ lệ bảo hộ hữu hiệu (ERP). Tuy
nhiên phần đánh giá về nông nghiệp chiếm phần nhỏ và chỉ đánh giá thương
Trung tâm Nghiên cứu phát triển Quốc vụ viện Trung Quốc: Tình trạng “tam
nông” Trung Quốc: thành tựu, vấn đề và thách thức. Và GS. Lục Học Nghệ,
nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc:
“Nông nghiệp, nông thôn và nông dân Trung Quốc: biến đổi và phát triển”. Ở
Trung Quốc, nông dân bị coi là nhóm người yếu thế, thể hiện ở việc hiện nay
quyền tài sản ở nông thôn vẫn chưa rõ ràng, nông dân không có quyền bảo vệ
ruộng đất khoán, thậm chí nhà ở của mình. Bởi vì ruộng đất có thể bị trưng
dụng bất cứ lúc nào, nhà cửa của chính mình có thể bị di dời để giải phóng mặt
bằng. Bởi lẽ đất ở thuộc sở hữu tập thể, nông dân không có quyền đem ra thế
chấp để vay ngân hàng. Hai tác giả đã phân tích những thành tựu của Trung
Quốc về tam nông; đồng thời chỉ ra những tồn tại, khiếm khuyết của tam nông
ở Trung Quốc như: Nông nghiệp tăng trưởng chậm, phát triển kém bền vững,
sức cạnh tranh của hàng nông sản thấp, vệ sinh an toàn thực phẩm thấp… Về
cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch chậm… Hai tác giả cho rằng việc phát
triển khu vực nông nghiệp và cải thiện đời sống người nông dân là nhiệm vụ
trọng tâm, nền tảng để đẩy mạnh CNH, HĐH và là tiền đề tạo điều kiện cho