Hoạt động mua bán và sáp nhập (Merger & Acquisition) tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam - Pdf 27


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẶNG THỊ HÀ TIÊN HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP
(MERGER & ACQUISITION) TẠI CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2010

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

trung thực và
được
phép công
bố.Thành phố Hồ Chí Minh – năm
2010 Đặng Thị Hà Tiên
- i -

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN SÁP NHẬP (M&A) NGÂN
HÀNG 4

1.1Tổng quan về M&A 4

1.1.1Khái niệm 4


2.1.3Phân tích SWOT (Strengths – Weaknesses – Opportunities – Threats) 42

2.2

Khái quát hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam thời gian qua 52

2.2.1Tình hình M&A ngân hàng tại Việt nam trước năm 2004 52

2.2.2Tình hình M&A ngân hàng tại Việt nam từ sau 2004 đến nay 54

2.2.3Một số vụ M&A tiêu biểu trong ngành ngân hàng 57

2.2.4Những thành tựu đạt được từ hoạt động M&A ngân hàng Việt Nam 66

2.2.5Những mặt hạn chế từ hoạt động M&A ngân hàng Việt Nam 68

- ii -

2.3

Những nhân tố tác động đẩy mạnh hoạt động (M&A) của các ngân hàng tại Việt Nam .
73

2.4

Sự chuẩn bị của các ngân hàng thương mại Việt Nam trước làn sóng M&A 75

Kết luận chương 2 78

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP M&A NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM THỜI KỲ HẬU

NH TMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần
NH TMQD: Ngân hàng thương mại quốc doanh
NHLD: Ngân hàng liên doanh
NHNNg: Ngân hàng nước ngoài
CN NHNNg: Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
NHNN: Ngân hàng nhà nước
NHTW: Ngân hàng trung ương
HOSE: Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
HNX: Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
TPHCM: Thành phố Hồ Chí Minh
UBCKNN: Ủy ban chứng khoán Nhà nước
ROA: tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản
ROE: tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu
SWOT: Strenghts
– Weaknesses – Opportunities – Threats

WTO: Tổ chức thương mại thế giới
OCB: Ngân hàng Phương Đông
ACB: Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
AGB: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
BIDV: Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
BIDC: Ngân hàng đầu tư và phát triển Campuchia
DaiAbank: Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Á
DAB: Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á
Seabank: Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á
DCB: Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương
FCB: Ngân hàng thương mại cổ phần Đệ Nhất
ABB: Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình
- iv -


CTG: Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương
- v -

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1.các thương vụ mua lại sáp nhập ngân hàng lớn trên thế giới (1998-2009)
Bảng 2.1. Số lượng các ngân hàng Việt Nam qua các năm
Bảng 2.2. cơ cấu thu nhập một số ngân hàng năm 2008
Bảng 2.3.cơ cấu thu nhập một số ngân hàng năm 2009
Bảng 2.4.quy mô tài sản, ROA và ROE các ngân hàng năm 2009
Bảng 2.5.Số lượng chi nhánh và phòng giao dịch của một vài NHTM Việt Nam hiện nay
Bảng 2.6.vốn điều lệ các ngân hàng từ năm 2006 – 2009 (Tỷ đồng)
Bảng 2.7.biểu phí dịch vụ thanh toán L/C
Bảng 2.8.Số lượng ngân hàng đại lý của một số NHTMVN năm 2009
Bảng 2.9.Các thương vụ M&A tại Việt Nam từ năm 2004 đến 2009
Bảng 2.10. Các chỉ tiêu tài chính cơ bản của Techcombank (tỷ đồng)
Bảng 2.11.Một số các chỉ tiêu tài chính của Techcombank từ năm 2004 – 2009 (tỷ đồng)
- vi -

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1.tổng tài sản, vốn điều lệ các ngân hàng Việt Nam 2008
Hình 2.2.tổng tài sản, vốn điều lệ các ngân hàng Việt Nam 2009
Hình 2.3.thị phần tiền gửi các ngân hàngViệt Nam năm 2008
Hình 2.4.thị phần cho vay các ngân hàngViệt Nam năm 2008
Hình 2.5.ngân hàng có mức huy động cao năm 2008-2009
Hình 2.6.ngân hàng có mức cho vay cao năm 2008-2009
Hình 2.7.cơ cấu thu nhập một số ngân hàng năm 2008
Hình 2.8.cơ cấu thu nhập một số ngân hàng năm 2009
Hình 2.9.tỷ lệ nợ xấu các ngân hàng thương mại 2007-2008-2009

nên gay gắt hơn khi có sự hiện diện của các ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt
Nam, với kinh nghiệm, khả năng quản trị tốt và nguồn lực dồi dào. Trong khi đó, các
ngân hàng Việt Nam với năng lực tài chính, trình độ công nghệ và quản lý còn thấp, các
dịch vụ còn đơn điệu, nghèo nàn, tính tiện ích chưa cao, chưa tạo được nhiều thuận lợi
cho khách hàng, cải cách diễn ra chậm… là những nhân tố làm giảm sức cạnh tranh của
các ngân hàng Việt Nam trên thương trường.

Bên cạnh đó, khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình
hình kinh tế các nước trong đó có Việt Nam. Thị trường chứng khoán giảm mạnh, giá cổ
phiếu các ngân hàng sụt giảm quay về mệnh giá, lạm phát cao, chính phủ áp dụng biện
pháp thắt chặt tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát làm cho các ngân hàng thiếu vốn đua nhau
tăng lãi suất và phải đi vay liên ngân hàng với lãi suất cao, nhiều ngân hàng nhỏ có nguy
cơ phá sản.
- 2 -

Lường trước được những khó khăn đó, ngân hàng nhà nước đã đưa ra một số giải pháp
nhằm cải tổ lại hệ thống ngân hàng Việt Nam, tăng cao khả năng cạnh tranh với các ngân
hàng nước ngoài. Nghị định số 141/2006/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày
22/11/2006, quy định đến cuối năm 2010 mức vốn pháp định các ngân hàng TMCP phải
đạt mức tối thiểu 3.000 tỷ đồng, tiếp theo ngân hàng nhà nước còn đang dự thảo đến
2012 sẽ là mức 5.000 tỷ đồng và 2015 là 10.000 tỷ đồng. Để hoàn thành được yêu cầu
này không phải dễ dàng, hiện tại còn rất nhiều ngân hàng chưa đáp ứng được mục tiêu
vốn đến cuối năm 2010. Như vậy, nếu không thể hoàn thành chỉ tiêu trên các ngân hàng
không có con đường nào khác hơn là các ngân hàng phải kết hợp thực hiện hoạt động
sáp nhập, mua lại nhằm đáp ứng yêu cầu tăng vốn theo quy định và tăng năng lực cạnh
tranh trên thị trường. Tuy nhiên, vấn đề sáp nhập, mua lại hiện nay vẫn còn khá mới mẻ
ở Việt Nam trong khi đây lại là những vấn đề hết sức quan trọng cần phải thực hiện ngay
trong giai đoạn hiện nay. Vì tính cấp thiết này, học viên chọn đề tài nghiên cứu: “Hoạt
động M&A tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam thời kì hậu khủng hoảng tài
chính” làm luận văn tốt nghiệp.

Tiến hành phát phiếu thăm dò khảo sát thực tế, thu thập các thông tin và dữ liệu từ các
báo cáo thường niên của ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại, tổng cục
thống kê, báo chí, các trang web, các tạp chí nghiên cứu, các tài liệu trong và ngoài
nước và sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh để xử lý số liệu
thu thập được.
5. Cấu trúc nội dung nghiên cứu:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được trình bày gồm 3 phần:
Chương 1: Tổng quan về hoạt động mua bán sáp nhập (M&A) ngân hàng
Chương 2: Thực tiễn hoạt động mua bán sáp nhập (M&A) ngân hàng tại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp M&A ngân hàng thương mại Việt Nam thời kỳ hậu khủng hoảng
tài chính

- 4 -

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG
MUA BÁN SÁP NHẬP (M&A) NGÂN HÀNG

1.1 Tổng quan về M&A
1.1.1 Khái niệm
M&A ngân hàng “Merger và Acquisition in Banking” có nghĩa là Mua bán và Sáp nhập
trong lĩnh vực ngân hàng, là hoạt động giành quyền kiểm soát một ngân hàng, một bộ
phận ngân hàng thông qua việc sở hữu một phần hoặc toàn bộ ngân hàng đó. Nguyên tắc
cơ bản của M&A là phải tạo ra những giá trị mới cho các cổ đông mà việc duy trì tình
trạng cũ không đạt được. Nói cách khác, M&A liên quan đến vấn đề sở hữu và thực thi
quyền sở hữu để làm thay đổi hoặc tạo ra những giá trị mới cho cổ đông.
Hoạt động M&A không chỉ làm thay đổi tình trạng sở hữu của một ngân hàng đối với cổ
phần hoặc tài sản mà còn làm thay đổi cả hoạt động quản trị điều hành của ngân hàng.
Mức độ thay đổi về quản trị phụ thuộc vào các quy định của pháp luật, điều lệ doanh
nghiệp và các thỏa thuận của các bên tiến hành thương vụ M&A.
Các hình thức M&A:

bộ, ngân hàng bị mua lại sẽ ngừng hoạt động, ngân hàng tiến hành mua lại nuốt trọn hoạt
động kinh doanh của ngân hàng kia, tuy nhiên cổ phiếu của ngân hàng đi mua lại vẫn
được tiếp tục giao dịch bình thường, kết quả mua lại thường không hình thành ngân hàng
mới, mục đích của việc mua lại là nhằm “thâu tóm” ngân hàng mục tiêu.
Tuy nhiên, việc phân biệt chúng đôi khi còn phụ thuộc vào mục tiêu truyền thông của
các bên liên quan. Chẳng hạn, một công ty mua lại một công ty khác, giành quyền kiểm
soát toàn bộ và xóa sổ công ty bị thâu tóm nhưng vẫn có thể thông tin ra bên ngoài là sự
sáp nhập. Một thương vụ M&A được coi là mua bán hay sáp nhập tùy thuộc vào thái độ
của các bên tham gia: khi ban giám đốc điều hành của cả hai phía bị sáp nhập và đi sáp
- 6 -

nhập có thái độ hợp tác, lạc quan đối với thương vụ thì đó là sáp nhập; ngược lại khi bên
bị sáp nhập không hợp tác thì được coi là vụ mua lại.
1.1.3 Các loại hình M&A
1.1.3.1 Dựa vào mối quan hệ giữa các bên tiến hành M&A
a. Sáp nhập ngang ( horizontal mergers)
Là việc các ngân hàng tiến hành sáp nhập với những ngân hàng cùng cạnh tranh trực tiếp
về một dòng sản phẩm, dịch vụ và thị trường. Thông qua phương thức sáp nhập này phía
đi sáp nhập đạt được những lợi ích: mở rộng thị trường, kết hợp thương hiệu, giảm thiểu
chi phí cố định, tăng cường hiệu quả của hệ thống phân phối, bớt đối thủ cạnh tranh, tận
dụng nguồn lực về con người, tạo nên sức mạnh lớn hơn để đương đầu với các đối thủ
còn lại.
b. Sáp nhập dọc ( vertical mergers)
Là việc các ngân hàng sáp nhập với những doanh nghiệp trong cùng một chuỗi cung ứng
sản phẩm hay dịch vụ nào đó. Thường là giữa ngân hàng A với các doanh nghiệp là
khách hàng của A. Ví dụ như một ngân hàng thâu tóm một công ty chứng khoán vốn là
khách hàng của mình nhằm mở rộng thị phần tín dụng sang lĩnh vực chứng khoán. Bằng
cách sáp nhập dọc như vậy các ngân hàng có thể đạt được những lợi ích như: kiểm soát
được rủi ro khi cung cấp tín dụng cho khách hàng, giảm các chi phí trung gian phát sinh
trong quá trình đưa dịch vụ đến với khách hàng

Hai hay nhiều ngân hàng hợp nhất thành một ngân hàng mới có tư cách pháp nhân, tình
hình tài chính của chúng được hợp nhất trong ngân hàng mới đó.
1.1.4 Các phương thức thực hiện M&A
1.1.4.1 Chào thầu ( tender offer)
Khi một doanh nghiệp, ngân hàng hay cá nhân nào đó muốn mua lại một ngân hàng mục
tiêu, họ sẽ chính thức đưa ra một giá để mua lại cổ phiếu của đối tượng đó. Mức giá đưa
ra phải cao hơn giá thị trường tại cùng thời điểm, thậm chí là cao hơn khá nhiều để tạo
sự quan tâm của cổ đông ngân hàng mục tiêu. Khi dùng phương pháp này, phía đi thâu
tóm thường tốn một mức chi phí khá cao. Thông thường giá đưa ra chào thầu cao hơn
- 8 -

giá thị trường rất nhiều. Ví dụ như ngân hàng A đưa ra mức giá 65 USD/cổ phần của
ngân hàng B trong khi giá của cổ phiếu đó trên thị trường chỉ là 55 USD. Nếu ngân hàng
B có 70 triệu cổ phần thì có nghĩa ngân hàng A đã trả 4550 triệu USD (so với thị giá
3850 triệu USD - chênh lệch 700 triệu USD) để mua lại toàn bộ ngân hàng B.
Sau khi có
thông báo chào mua đó, ngân hàng mục tiêu có thể tổ chức đại hội cổ đông để đi đến
quyết định bán hay không. Nếu các cổ đông đồng ý, ngân hàng sẽ được bán cho bên
muốn mua. Trong rất nhiều trường hợp, các cổ đông đứng trước sự hấp dẫn của mức giá
mà bên thâu tóm đưa ra đã quyết bán cổ phiếu dù ban quản trị không mong muốn. Sau
khi tiếp quản ngân hàng mục tiêu, phía thâu tóm sẽ thực hiện những kế hoạch cải tổ ban
quản trị hay bất cứ mục tiêu gì mà họ đã dự định. Đây là phương thức mua bán mang
tính chất “thôn tính thù nghịch”.
Hình thức mua bán này xem ra khá gọn nhẹ và thường được các ngân hàng hay các
doanh nghiệp lớn áp dụng để mua lại các đối thủ có quy mô nhỏ hơn nó. Tuy nhiên trong
thực tế, phương thức này cũng được áp dụng để triệt hạ những đối thủ cạnh tranh lớn, đe
dọa trực tiếp hoạt động của ngân hàng hay doanh nghiệp thâu tóm. Trường hợp này bên
đi thâu tóm sẽ phải huy động được một lượng tiền lớn để đáp ứng mức chào thầu mà họ
định đưa ra. Có nhiều cách để huy động nguồn tài chính lớn như là:
- Huy động vốn từ cổ đông hiện hữu thông qua phát hành trái phiếu không có đảm bảo

thuốc độc. Đây là cách mà ngân hàng mục tiêu nỗ lực làm nản lòng đối tượng muốn thâu
tóm bằng cách làm tăng chi phí cho thương vụ đó hoặc bằng cách làm giảm giá trị của
ngân hàng có thể bị thâu tóm. Ngày nay, hầu như các cổ đông và các nhà lập pháp đều
không mặn mà với cách phòng thủ này. Vì bên cạnh việc làm nản lòng đối thủ muốn
mua lại, cách này cũng luôn gây ra những thiệt hại cho các cổ đông, cho giá trị của ngân
hàng mục tiêu.
1.1.4.2 Lôi kéo các cổ đông bất mãn ( proxy fights)
Phương thức này cũng là cách thâu tóm mang tính thù nghịch. Ban quản trị ngân hàng
không thể được lòng tất cả các cổ đông về cách quản lý của họ. Nhất là khi tổ chức đó
- 10 -

rơi vào tình trạng kinh doanh sa sút hay thua lỗ thì lập tức số sổ đông bất mãn sẽ còn
tăng lên nhiều hơn. Lợi dụng tình thế này, phía bên muốn thâu tóm sẽ lập kế hoạch để lôi
kéo các cổ đông bất mãn đó. Đầu tiên, ngân hàng thâu tóm có thể mua cổ phiếu của đối
tượng qua thị trường chứng khoán. Việc mua cổ phiếu qua thị trường chứng khoán chỉ là
một cách để bên thu mua đặt chân vào ngân hàng mục tiêu. Việc họ cần thực hiện sau đó
là sẽ lôi kéo các cổ đông bất mãn để mở đại hội cổ đông. Tuỳ theo quy định trong điều lệ
ngân hàng, nhóm cổ đông có quyền triệu tập cuộc họp Đại hội cổ đông phải sở hữu một
tỷ lệ nhất định cổ phần phổ thông. Luật Doanh nghiệp của Việt Nam quy định tỷ lệ này
là 10% (theo khoản 2 điều 79 luật Doanh nghiệp). Và cũng tuỳ theo số cổ phần sở hữu
của nhóm cổ đông, nhóm này có thể loại ban quản trị cũ và bầu đại diện của bên thôn
tính vào hội đồng quản trị mới. Cảnh giác với hình thức thôn tính này, ban quản trị của
các ngân hàng, doanh nghiệp bị sáp nhập có thể sắp đặt các nhiệm kỳ của ban điều hành
và ban quản trị xen kẽ nhau ngay từ trong điều lệ ngân hàng. Bởi vì mục đích cuối cùng
của bên thôn tính và các cổ đông bất mãn là thay đổi ban điều hành.

1.1.4.3 Thương lượng tự nguyện ( friendly mergers)
Đây là hình thức thương lượng với ban quản trị, ban điều hành ngân hàng mục tiêu. Hình
thức này mang tính thân thiện và có tên gọi chung là “friendly mergers”. Nếu cả hai bên
đều nhận thấy lợi ích chung tiềm tàng trong một vụ sáp nhập và những điểm tương đồng

Dựa trên giá của tài sản đó, họ sẽ đưa ra một giá chào thầu với ngân hàng và doanh
nghiệp sở hữu tài sản. Cũng như phương thức chào thầu trên, giá mua đưa ra phải cao
hơn giá trị mà tổ chức thẩm định độc lập đã đưa ra để thu hút sự quan tâm của bên sở
hữu tài sản đó. Phương thức này sẽ khó khăn nếu tài sản muốn mua lại là tài sản vô hình
như thương hiệu, thị phần, bạn hàng, danh tiếng, nhân sự, văn hóa tổ chức vì rất khó
được định giá và được các bên thống nhất Ngược lại, nếu tài sản là hữu hình như nhà
xưởng, máy móc, thiết bị thì phương pháp này xem ra khá thuận tiện. Do đó, phương
thức này thích hợp cho các giao dịch mua lại những ngân hàng, doanh nghiệp nhỏ, mà
thực chất là nhắm đến các cơ sở sản xuất, nhà xưởng máy móc, dây chuyền công nghệ,
hệ thống cửa hàng, đại lý, chi nhánh đang thuộc sở hữu của đơn vị đó.
- 12 -

1.1.5 Định giá ngân hàng trong hoạt động M&A
Trong M&A, định giá ngân hàng đóng một vai trò hết sức quan trọng. Mức giá ngân
hàng được đưa ra là kết quả của một quá trình định giá ngân hàng và nó được coi như
một tín hiệu không thể thiếu cho thị trường M&A. Tín hiệu này dẫn đến thái độ khác
nhau của các bên mua bán, nó có thể thu hút sự quan tâm hoặc cũng có thể không của
người mua vào một ngân hàng nhất định và cũng là điểm mốc để bản thân chủ ngân hàng
dựa vào làm căn cứ cho quá trình chào bán.
Định giá ngân hàng cũng là quá trình xác định điểm cân bằng giữa cung và cầu loại hàng
hóa đặc biệt này trên thị trường M&A. Định giá ngân hàng đưa ra bức tranh tổng quát về
giá trị của một ngân hàng tại một thời điểm nhất định, là cơ sở quan trọng phục vụ cho
đối tượng sử dụng kết quả định giá ngân hàng đưa ra quyết định mua bán, đầu tư, cho
vay, cho thuê một cách hợp lý.
Do đặc điểm của định giá ngân hàng M&A là phải đưa ra được mức giá trong bối cảnh
mâu thuẫn khách quan luôn tồn tại là: bên mua muốn mua với “giá rẻ”, bên bán muốn
bán với “giá đắt” hay nói cách khác là các bên mua bán đều muốn tối đa hóa lợi nhuận
của mình. Và do vậy việc đưa ra được một mức giá “thuận mua vừa bán” giữa hai bên
mua bán luôn là điều không dễ dàng.
Có rất nhiều phương pháp định giá khác nhau đang được áp dụng trên thực tế. Việc định

nghiệp vừa và nhỏ sẽ được ngân hàng B sử dụng triệt để nhằm khai thác lợi thế vốn có
của mình.
Hoặc khi ngân hàng nhỏ sáp nhập vào ngân hàng lớn thì họ có điều kiện để kinh doanh
những sản phẩm mà trước kia họ không có khả năng thực hiện như lập phòng kinh doanh
ngoại tệ chẳng hạn. Muốn phát triển một phòng giao dịch ngoại tệ phải có đầu tư lớn về
công nghệ, nhân lực và năng lực quản trị rủi ro. Điều này vượt ra ngoài khả năng của các
ngân hàng nhỏ nên sau khi sáp nhập các ngân hàng nhỏ có điều kiện hơn để tham gia vào
những lĩnh vực mà trước đây bản thân họ không thể thực hiện được.
Ngân hàng sau sáp nhập sẽ được kế thừa hệ thống khách hàng của hai ngân hàng trước
sáp nhập, từ đó khách hàng sẽ được cung cấp các sản phẩm dịch vụ mà trước đây ngân
- 14 -

hàng kia không có, làm tăng sự gắn bó của khách hàng với ngân hàng đồng thời tăng
nguồn thu nhập cho ngân hàng.
Hơn nữa, khi một trong hai hay nhiều ngân hàng có chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại
những địa bàn mà bên còn lại không có cơ sở kinh doanh thì ngân hàng kia có thể khai
thác các khách hàng của ngân hàng này để cung cấp các sản phẩm của mình thay vì thiết
lập chi nhánh hoặc phòng giao dịch mới vừa tốn kém chi phí vừa mất rất nhiều thời gian
để xây dựng hệ thống khách hàng. Như vậy hiệu quả chung của ngân hàng sau sáp nhập
sẽ cao hơn rất nhiều so với hiệu quả của hai ngân hàng đơn lẻ cộng lại.
c. Giảm được chi phí huy động do việc chạy đua lãi suất
Chính sách thắt chặt tiền tệ đầu năm 2008 của Ngân hàng Nhà nước gắn liền với sự căng
thẳng về thanh khoản của các ngân hàng thương mại. Lãi suất huy động VND có sự biến
động mạnh nhất từ trước tới nay. Cuộc chạy đua lãi suất bùng phát trong tháng 5 và tạo
những đỉnh điểm nóng sốt trong tháng 6. Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất ghi
nhận kỷ lục “treo” tới 43%/năm; nhiều thành viên đồng loạt đẩy mức huy động trong dân
cư lên tới trên 19%/năm, cá biệt có trường hợp áp tới 20%/năm. Thực trạng đó cho thấy
áp lực cạnh tranh lãi suất huy động của các NHTMCP Việt Nam rất gay gắt khi đối diện
với biến cố khó khăn của nền kinh tế xảy ra. Lượng tiền gửi trong hệ thống ngân hàng
của dân cư không tăng lên đáng kể trong khi số dư tiền gửi của các ngân hàng chạy lòng

Việc sáp nhập ngân hàng lại với nhau dẫn đến tận dụng được lợi thế kinh doanh trên qui
mô lớn, giảm bớt các chi phí nếu thực hiện mở rộng qui mô hoạt động, cắt giảm được
nhân sự dư thừa thiếu hiệu quả, tận dụng được hệ thống khách hàng để phát triển các sản
phẩm hỗ trợ, mở rộng được lĩnh vực kinh doanh, sản phẩm mới khi có thêm các nhân sự
giỏi sẽ làm cho hiệu quả hoạt động của ngân hàng sau sáp nhập tăng cao, dẫn đến giá trị
tài sản của ngân hàng tăng lên, giá trị tài sản của cổ đông tăng dẫn đến giá cổ phiếu của
ngân hàng sau sáp nhập sẽ được các cổ đông hiện hữu tin tưởng, các nhà đầu tư quan
tâm và đánh giá cao hơn. Do vậy, sáp nhập không chỉ đơn thuần là phép cộng giá trị của
hai hay nhiều ngân hàng lại với nhau, nếu tận dụng được các lợi thế, giá trị ngân hàng
- 16 -

sau sáp nhập sẽ lớn hơn rất nhiều lần phép cộng số học của các ngân hàng bị sáp nhập
lại.
1.1.6.2 Các hạn chế của hoạt động M&A ngân hàng
a. Quyền lợi của các cổ đông thiểu số bị ảnh hưởng
Trong quá trình thâu tóm và sáp nhập ngân hàng làm cho quyền lợi của các cổ đông
thiểu số bị ảnh hưởng rất lớn. Các quyền lợi và ý kiến của cổ đông thiểu số có thể bị bỏ
qua trong cuộc họp đại hội đồng cổ đông để thông qua việc sáp nhập bởi vì số phiếu của
họ không đủ để phủ quyết nghị quyết đại hội đồng cổ đông. Nếu khi các cổ đông thiểu số
không hài lòng với phương án sáp nhập thì họ có thể bán cổ phiếu của mình đi, như thế
họ sẽ bị thiệt thòi do khi họ bán cổ phiếu là thời điểm thương vụ sáp nhập sắp hoàn tất
cho nên giá của cổ phiếu lúc này không còn được cao như thời điểm mới có thông tin
của thương vụ thâu tóm và sáp nhập. Hơn nữa nếu họ tiếp tục nắm giữ thì tỷ lệ quyền
biểu quyết của họ trên tổng số cổ phiếu có quyền biểu quyết sẽ nhỏ hơn trước. Bởi vì sau
sáp nhập hai hay nhiều ngân hàng lại với nhau thì số vốn điều lệ sẽ ít nhất bằng vốn điều
lệ của các ngân hàng cộng lại do đó tổng số quyền biểu quyết sẽ lớn hơn trước. Khi đó tỷ
lệ quyền lợi của các cổ đông thiểu số trên tổng số sẽ giảm xuống. Họ càng có ít cơ hội
hơn trong việc thể hiện ý kiến của mình trong các cuộc họp của đại hội đồng cổ đông.
b. Xung đột giữa các cổ đông lớn
Sau khi sáp nhập, ngân hàng nhận sáp nhập sẽ hoạt động với số vốn cổ phần lớn hơn,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status