Nghiên cứu khả năng phát triển dưa chuột bao tử trên địa bàn tỉnh bắc giang - Pdf 27

Nghiên cứu khả năng phát triển dưa chuột bao tử trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
I. Phần mở đầu :
1.1 Lý do chọn đề tài :
Sau khi giải quyết vấn đề an ninh lương thực, ngành sản xuất rau quả Việt Nam
đã có những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần đáng kể trong quá trình phát triển
và xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá, nâng cao
đời sống cho người dân nông thôn. Với ưu thế về sự đa dạng của điều kiện sinh
thái cả về tài nguyên đất cũng như thời tiết khí hậu và sự phong phú về kinh
nghiệm truyền thống của từng địa phương và đặc biệt là sự quan tâm của Đảng và
nhà nước, sản xuất rau quả ở Việt Nam nói chung và các vùng sản xuất rau quả nói
riêng có một số thuận lợi rất cơ bản., diện tích và sản lượng những năm gần đây có
sự gia tăng nhanh chóng.
Trong số các cây thực phẩm thì dưa chuột bao tử là cây trồng ngắn ngày, cung
cấp nguyên liệu cho ngành chế biến rau quả xuất khẩu được nhiều quốc gia ưa
thích. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dưa chuột bao tử là cây ăn quả có giá trị dinh
dưỡng cao, trong quả có nhiều vitamin A, B, B6, E…và đặc biệt có nhiều men tiêu
hoá làm cho quá trình đồng hoá và hấp thụ thức ăn được tốt hơn. Nhận thức được
vai trò đó của dưa chuột bao tử, những năm gần đây đã có nhiều cơ quan, doanh
nghiệp trong và ngoài nước đã khảo sát nghiên cứu và chọn Việt Nam là nơi sản
xuất dưa chuột bao tử làm nguyên liệu chế biến xuất khẩu sang nước ngoài.
Bắc Giang có 382.200 ha đất tự nhiên, bao gồm 123 nghìn ha đất nông nghiệp,
110 nghìn ha đất lâm nghiệp, 66,5 nghìn ha đất đô thị, đất chuyên dùng và đất ở,
còn lại là các loại đất khác. Nhìn chung, tỉnh Bắc Giang có nhiều điều kiện thuận
lợi để phát triển công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản. Quốc lộ 1A
mới hoàn thành tạo ra quỹ đất lớn có nhiều lợi thế cho phát triển công nghiệp -
dịch vụ. Đất nông nghiệp của tỉnh, ngoài thâm canh lúa còn thích hợp để phát triển
rau, củ, quả cung cấp cho thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận. Tỉnh đã có kế hoạch
chuyển hàng chục nghìn ha trồng lúa sang phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp
và nuôi trồng thuỷ sản có giá trị kinh tế cao.
Bên cạnh những thuận lợi như trên, việc kinh doanh dưa chuột bao tử của tỉnh
Bắc Giang còn gặp nhiều khó khăn. Trước hết về trình độ khoa học kỹ thuật của

Nghiên cứu khả năng phát triển dưa chuột bao tử trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Huyện Lạng Giang nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Bắc Giang, có vị trí là cửa
ngõ nối liền các tỉnh phía Đông Bắc với thành phố Bắc Giang. Huyện Lạng Giang
có diện tích tự nhiên 246,06 km2. Dân số của huyện đến 2010 khoảng gần 250.000
người, trong đó số người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 42%.
Với vị trí thuận lợi, hiện nay, Lạng Giang là một trong 4 huyện thành phố của
tỉnh được xác định là vùng trọng điểm phát triển KT-XH. Nơi đây đã hình thành
một số cụm công nghiệp và một số vùng sản xuất nguyên liệu phục vụ công nghiệp
chế biến nông sản. Điều kiện tự nhiên về đất đai, khí hậu tốt, rất thích hợp cho việc
trồng cây nông sản, đặc biệt là dưa chuột bao tử.
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu :
- Phương pháp chọn điểm nghiên cứu: nghiên cứu 14 xã thuộc địa bàn huyện
Lạng Giang tỉnh Bắc Giang
- Phương pháp thu thập số liệu
- + Số liệu thứ cấp:
* Thông qua các luận án, luận văn, sách báo và tạp chí liên quan.
* Niên giám thống kê của tỉnh Bắc Giang đã được công bố
* Niên giám thống kê của huyện Bắc Giang đã được công bố
* Số liệu tổng quan chung của các xã trong huyện
+ Số liệu sơ cấp: Phiếu điều tra các nông hộ trồng dưa chuột bao tử trên địa
bàn Huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang
- Xử lý số liệu: sử dụng các phép toán học, phần mềm Excel…
Phần II: Nội dung :
2.1 Cơ sở lý luận :
2.1.1 Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của dưa bao tử :
3 | P a g e
Nghiên cứu khả năng phát triển dưa chuột bao tử trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Cây sinh trưởng khỏe, phát triển nhanh, khả năng chống chịu bệnh, đặc biệt là
các bệnh sương mai, đốm vàng trên lá tốt hơn, giảm được chi phí sản xuất do ít
phải phun thuốc phòng trừ sâu bệnh. Sức cây bền, thời gian cho thu hoạch kéo dài

1; 2.200 đồng/kg loại 2 thì mỗi sào trung bộ thu được trên 5 triệu đồng/vụ, trừ đi
chi phí ban đầu mỗi sào lãi ròng từ 3, 5 -3,7 triệu đồng. Có nhà trồng 2 sào mỗi vụ
có thu nhập trên 7 triệu đồng trong 3 tháng. Ba công thức so sánh giữa trồng dưa,
trồng ngô hoặc rau màu các loại được bà con nông dân đánh giá cao cây dưa. Hơn
nữa, một ưu điểm vượt trội của trồng dưa chuột bao tử là có thể trồng quanh năm
đặc biệt là vụ đông muộn, giúp giải quyết được việc làm thường xuyên khi nông
nhàn.
Ngoài lợi ích kinh tế trước mắt, việc trồng dưa bao tử đã giúp người dân quen
hơn với sản xuất nông nghiệp hàng hoá - một điều vô cùng cần thiết khi nông
nghiệp nước ta hội nhập. Dưa bao tử đòi hỏi rất cao về tiêu chuẩn kỹ thuật như
kích thước, trọng lượng, màu sắc… do vậy đỏi hỏi người nông dân phải luôn tuân
thủ đúng quy trình canh tác. Điều này là rất tốt cho những chương trình, dự án
nông nghiệp hàng hoá sẽ được triển khai ở xã trong thời gian tới.
2.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới tổ chức sản xuất, kinh doanh dưa bao tử
Thuận lợi trong sản xuất vụ này là thời tiết ít mưa tạo điều kiện cho nông dân
làm đất trồng các loại rau màu đúng thời vụ. Giá các loại giống cây trồng, vật tư kỹ
thuật nông nghiệp, nhất là phân bón giảm. Tại các địa phương, đạm u-rê đang được
bán phổ biến ở mức giá 6,3 nghìn đồng/kg, giảm 300-400 đồng/kg so với vụ mùa
và gần 3 nghìn đồng/kg so với vụ đông năm trước; phân tổng hợp NPK 3,3 nghìn
đồng/kg, lân 2,4 nghìn đồng/kg, ka li 10,5-11 nghìn đồng/kg, giảm nhẹ so với vụ
trước. Đặc biệt, Công ty cổ phần Vật tư kỹ thuật nông nghiệp Bắc Giang tiếp tục
triển khai chương trình cung ứng phân bón trả chậm tạo điều kiện cho những hộ
kinh tế khó khăn có đủ phân bón đầu tư thâm canh ngay từ đầu vụ.
Nhận thức rõ vai trò của vụ đông nên chính quyền các cấp, ngành chức năng
có sự quan tâm, chỉ đạo sát sao. UBND tỉnh trích ngân sách hơn 4,2 tỷ đồng hỗ trợ
nông dân trồng khoai tây chất lượng sạch bệnh và sử dụng phân bón Neb-26 với
diện tích khoảng 1.500 ha nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Nhiều
địa phương cũng dành hàng trăm triệu đồng hỗ trợ nông dân mở rộng diện tích cây
trồng chủ lực, có giá trị kinh tế cao.
Do ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu toàn cầu mà trong nhiều tháng qua

2.2 Cơ sở thực tiễn :
* Tình hình sản xuất dưa bao tử trong nước và nước ngoài:
Dưa bao tử được trồng ở nước ta từ lâu do cây dễ trồng, cho năng suất
cao.Nhưng nhiều năm trước, dưa bao tử chưa được xem là cây trồng chính mà cây
6 | P a g e
Nghiên cứu khả năng phát triển dưa chuột bao tử trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
lúa được người dân chú trọng hơn. Chỉ khi đời sống người dân tăng lên thì được
xem là cây trồng chính.
Dưa bao tử được trồng ở rộng khắp các tỉnh thành phía bắc và trung đặc biệt
ở Bắc Giang, Hà Tây, Hưng Yên, Hà Nam… với diện tích ngày càng tăng.
Năm 2007, tổng công ty rau quả Việt Nam xuất khẩu 47,425 tấn dưa chuột
hộp, 552 tấn dưa chuột đóng lọ thủy tinh. Năm 2008, tổng diện tích dưa là
1.685,56 ha. Sản lượng xuất khẩu đạt 70,478 tấn dưa chuột hộp và 1.718 tấn đóng
lọ thủy tinh, tổng giá trị xuất khẩu đạt 7,98 triệu USD.
Điều kiện sinh thái của Việt Nam, đặc biệt của miền Bắc rất thuận lợi cho
trồng dưa bao tử, đây là ưu thế cạnh tranh của VN trên thì trường nước ngoài. Khu
vực sản xuất chủ yếu là Đồng bằng sông Hồng 25,26% diện tích và 30,78 % sản
lượng dưa cả nước. Đồng bằng sông Cửu Long là 23,28% về diện tích và 25,46%
về sản lượng. Dưa bao tử thực sự trở thành cây làm giàu cho nông dân, cho nông
thôn.
Tính đến nay, Dưa bao tử của nước ta đã có mặt trên 50 quốc gia cả những thị
trường khó tính như Mỹ, EU. Theo điều tra IFPRI, hiện nay nước ta có hàng trăm
nhà máy quy mô nhỏ và vừa, công suất trung bình khoảng 1000-1500 tấn nguyen
liệu/năm.
Đơn giá xuất khẩu sản phẩm dưa chuột trong quý I/2010 tiếp tục giảm nhẹ:
Qua bảng giá FOB xuất khẩu dưa chuột có thể thấy giá xuất khẩu dưa chuột bao tử
dầm dấm loại 720 ml sang Mông Cổ đã giảm 20% xuống còn 0,4 USD/lọ so với
cùng kỳ 2009. Đơn giá xuất khẩu Dưa chuột trung tử dầm dấm720 ml sang
Ukraina giảm 20% xuống còn 5,2 USD/thùng. Tuy nhiên, đơn giá xuất khẩu dưa
chuột muối sang thị trường Nga tăng 39,3% đạt mức 0,39 USD/lọ.

Tân
Thịnh
15,90 13,22 18,89 13,85 19,5 13,14 3,6 22,6
Hương
Lạc
8,83 7,33 10,42 7,64 11,9 8,02 3,07 34,76
An Hà 2,73 2,27 3,35 2,46 5,2 3,5 2,47 90,47
Nghĩa
Hòa
1,12 0,93 1,45 0,84 1,1 0,74 -0,02 -1,78
Nghĩa
Hưng
0,00 0,00 0,00 0,00 0,00 0,00 0,00 _
Đào
Mỹ
9,83 8,17 10,80 7,92 14,8 9,97 4,97 50,55
Tiên
Lục
3,90 3,24 4,16 3,05 5,1 3,43 1,2 30,76
Xuân
Hương
1,31 1,09 1,65 1,21 2,2 1,48 0,89 67,93
Thái 2,74 2,28 3,26 2,39 3,9 2,63 1,16 42.33
8 | P a g e
Nghiên cứu khả năng phát triển dưa chuột bao tử trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Đào
Đại
Lâm
0,30 0,25 0,60 0,44 0.66 0,44 0,36 120
Tân

Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
SL CC SL CC SL CC
Cả năm 120,28 100 136,44 100 148,38 100,00
+ Vụ
xuân
49,12 40,84 59,12 43,33 61,3 41,31
+ vụ 71,16 59,16 77,31 56,67 86,9 58,69
9 | P a g e
Nghiên cứu khả năng phát triển dưa chuột bao tử trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
đông
(Nguồn số liệu Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lạng giang)
Diện tích gieo trồng dưa chuột bao tử tiếp tục tăng qua các năm. Vụ đông là
vụ sản xuất quan trọng đối với cây dưa chuột bao tử của Lạng Giang. Bảng A1.2
cho thấy diện tích dưa chuột bao tử vụ đông năm 2007 là 71,16 ha chiếm 59,16%,
năm 2008 là 71,31ha chiếm 56,67%, năm 2009 là 86,9 ha chiếm 58,69%. Như vậy
diện tích dưa chuột bao tử vụ đông luôn cao hơn vụ xuân do vụ đông luôn có điều
kiện thời tiết phù hợp với cây dưa chuột bao tử, do vậy cây trồng cho năng xuất
cao hơn vụ xuân. Tuy nhiên, qua nhiều năm sản xuất người nông dân đã có kinh
nghiệm hơn trong việc chăn bón và làm hạn chế sự tác động của thời tiết nên cơ
cấu diện tích vụ đông và vụ xuân đã dần cân đối.
b. Năng xuất và sản lượng dưa chuột bao tử của huyện thời kì 2007 – 2009:
Mức độ đầu tư cho cây dưa chuột bao tử không đồng đều giữa các vùng, các
xã dẫn đến năng xuất có sự khác biệt. Trong giai đoạn 2007 – 2009, năng xuất dư
chuột bao tử của huyện Lạng Giang gia tăng nhưng không đáng kể, năng xuất dưa
chuột bao tử năm 2009 so với năm 2007 đạt 109,2% và đạt 26,6 tấn/ha trong năm
2009. Mức năng xuất này đạt ở mức trung bình so với năng xuất dưa chuột bao tử
trên địa bàn toàn tỉnh Bắc Giang, nhưng lại tăng chậm và thấp hơn các tỉnh khác.
Nguyên nhân chính là:
Thứ nhất, theo cán bộ khuyến nông, tỷ lệ các hộ dùng giống và chăm bón không
đúng kỹ thuật còn cao.

Nghĩa
Hưng
_ _ _ _ _ _ _ _
Đào Mỹ 18,4 19,9 20.74 180,7 215,1 421,7 112,71 233,33
Tiên Lục 17,1 18,5 19,30 66.5 76,9 92,7 112,86 139,39
Xuân
Hương
15,5 16,7 17,2 20,3 27,6 41,2 110,96 202,9
Thái Đào 18,4 19,9 20,87 50,3 65,0 71,8 113,42 142,74
Đại Lâm _ _ _ _ _ _ _ _
Tân Hưng 18,1 19,4 20,18 95,1 119,2 236,3 111,49 248,47
Yên Mỹ _ _ _ _ _ _ _ _
Quang
Thịnh
34,0 34,2 35,07 783,0 886,8 1051,2 103,14 134,25
( Nguồn số liệu thống kê huyện Lạng Giang)
Bảng A2.2 Năng xuất sản lượng dưa chuột bao tử chia theo mùa vụ trên địa bàn
huyện Lạng Giang giai đoạn 2007 – 2009
Diễn giải ĐVT Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
SL CC SL CC SL CC
-Năng suất Tấn/ha
+Vụ xuân 22,80 _ 24,37 _ 26,03 _
+Vụ đông 27,03 _ 28,07 _ 29,7 _
-Sản lượng Tấn 3043,0 100,0
0
3611,1 100 4439,9 100,0
0
+Vụ xuân 1119,8
1
36,80 1440,8

• Đặc điểm sử dụng các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất dưa chuột bao
tử
Kết quả sản xuất phụ thuộc rất nhiều yếu tố đầu vào, bao gồm những yếu tố có
thể kiểm soát được và những yếu tố không thể kiểm soát được. Để tìm ra các nhân
tố làm ảnh hưởng tích cực đến sản xuất dưa chuột bao tử của các hộ, đặc biệt là
những nhân tố kiểm soát được, chúng ta xem xét những điểm khác nhau về đầu tư
của nhóm hộ có năng suất khác nhau. Ta chia các hộ ra 3nhóm:
- Nhóm hộ sản xuất dưa chuột bao tử kém: dưới 550 Kg/sào
- Nhóm hộ sản xuất dưa chuột bao tử trung bình: 550 – 650 Kg/sào
- Nhóm hộ sản xuất dưa chuột bao tử khá giỏi: trên 650Kg/sào
Bảng A3.1 Mức độ đầu tư các yếu tố trong sản xuất dưa chuột bao tử của các
nhóm hộ ( tính bình quân 1 sào)
Chỉ
tiêu
ĐVT Hộ kém Hộ trung bình Hộ khá Bình quân
SL Khoản
g tin
cậy
SL Khoản
g tin
cậy
SL Khoản
g tin
cậy
SL Khoả
ng tin
cậy
Số hộ 41 40 39 120
1.NS Ta/sà 462,4 26,10 613,0 15,21 737,1 24,87 604,2 24,00
12 | P a g e

hóa
học
1000
đ/sào
236,3
3
3,74 208,7
8
4,00 191,7
8
5,05 212,2
9
4,11
9. CP
làm
đất
1000
đ/sào
71,01 0,29 74,03 0,40 77,63 0,54 74,22 0,54
10.
Công

Ngày
-
ngườ
i/sào
25,69 0,23 28,85 0,42 33,10 0,55 29,21 0,60
(Nguồn số liệu điều tra các hộ năm 2009- độ tin cậy 95% )
Tóm lại, mức độ đầu tư của các yếu tố đầu vào cho một sào dưa chuột bao
tử chưa cao và có sự chênh lệch giữa các nhóm hộ, nhất là nhóm hộ có năng suất

Tổng
cộng
1648 100 1725,3 100 1838,8 100 1735,8 100
(Nguồn số liệu điều tra năm 2009)
Chi phí sản xuất dưa chuột bao tử của các hộ có sự gia tăng theo kết quả sản
xuất. Bình quân mỗi hộ chi phí 1735,80 nghìn đồng/sào. Nhóm hộ khá có mức đầu
tư cao nhất và hơn các nhóm hộ trung bình và kém. Chi phí của nhóm hộ trung
bình là 1725,35 nghìn đồng/sào cao hơn nhóm hộ kém là 4,69% và ít hơn nhóm hộ
khá là 6,58%. Mặc dù sự khác biệt về tổng đầu tư giữa các nhóm hộ là không lớn
nhưng một số chi phí quan trọng lại có sự chênh lệch rõ rệt.
Nhóm hộ sản xuất kém và trung bình là nhóm hộ có mức đầu tư thâm canh
thấp hơn. Đặc biệt mức độ đầu tư về phân chuồng, phân bón hóa học còn thấp và
chưa cân đối. Vì vậy, để tăng năng suất dưa chuột bao tử các hộ cần đầu tư thâm
canh, nhất là đầu tư phân bón và đồng thời cần phổ biến kinh nghiệm, tiến bộ kỹ
thuật cho các hộ về làm đất, mật độ gieo trồng hơp lý, phát hiện và phòng trừ sâu
bệnh kịp thời và hiệu quả.
b. Hiệu quả kinh tế sản xuất dưa chuột bao tử của các hộ
Kết quả và hiệu quả sản xuất dưa chuột bao tử luôn là mối quan tâm hàng đầu
của các hộ. Do mức đầu tư và kinh nghiệm sản xuất dưa chuột bao tử của các hộ
14 | P a g e
Nghiên cứu khả năng phát triển dưa chuột bao tử trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
khác nhau dẫn đến hiệu quả kinh tế sản xuất dưa chuột bao tử của các nhóm hộ
cũng khác nhau. Ta có bảng số liệu điều tra như sau:
Chỉ tiêu ĐVT Hộ kém Hộ TB Hộ khá BQ
1.NS TB Tạ/sào 462,43 613,08 737,15 604,22
2.GO 1000 đ 2293,50 2867,65 3380,08 2838,02
3.IC 1000 đ 1648,03 1725,35 1838,84 1735,80
4.VA 1000 đ 645,47 1142,30 1541,24 1102,22
5.VA/GO Lần 0,28 0,40 0,46 0,39
6.VA/IC Lần 0,39 0,66 0,84 0,63

Thực tế là doanh nghiệp, cơ sở chế biến dưa chuột xuất khẩu của tỉnh nhiều
nhưng nhìn chung quy mô sản xuất nhỏ, đầu tư trung bình từ vài trăm triệu đến vài
tỷ đồng, trình độ khoa học công nghệ thấp, sản xuất chưa ổn định, dây chuyền
không đồng bộ. Chỉ có một vài doanh nghiệp có công nghệ chế biến hiện đại hoặc
bán tự động, có quy trình sản xuất, sản phẩm một cách bài bản, còn lại là chế biến
thủ công, nhất là các cơ sở chế biến.
Hầu hết các doanh nghiệp đều phát triển từ mô hình kinh tế hộ gia đình, vốn
hạn chế nên thường tận dụng mặt bằng sẵn có và ít có điều kiện đầu tư mở rộng
nhà xưởng, lắp đặt công nghệ sản xuất hiện đại. Thậm chí ở các cơ sở sản xuất
nhỏ, lẻ mà quy trình sản xuất từ khâu thu gom, sơ chế, đóng lọ, dán nhãn… đều
làm bằng phương pháp thủ công.
Dưa bao tử sau khi thu hoạch được dùng để chế biến ra nhiều loại sản phẩm
khác nhau để phục vụ cho nhu cầu của xã hội. Các sản phẩm sản xuất ra chủ yếu
do các công ty chế biến trên địa bàn lân cận. Sản phẩm chủ yếu nhất là: Dưa chuột
bao tử dầm dấm.
Dưa bao tử được sản xuất thành nhiều loại sản phẩm khác nhau để phục vụ
nhu cầu trong nước và xuất khẩu nước ngoài.Còn một số ít sản phẩm được người
dân trực tiếp sử dụng để chế biến thàh các món ăn phục vụ nhu cầu hàng ngày của
mình.
Dùng làm thực phẩm dùng cho xuất khẩu : dưa sau khi chế biến được xuất
khẩu sang các nước khác.các sản phẩm thường là trung tử đóng lọ, dưa 6-9 dầm
dấm đóng lọ, dưa muối nguyên quả v.v…
Dùng làm thực phẩm tiêu dùng trong nước:các sản phẩm đóng lọ ngoài đem
xuất khẩu còn được tiêu thụ ở thị trường trong nước.đặc biệt dưa dược dùng trực
tiếp để chế biến làm các món ăn như: Món bao tử trộn dưa kiệu, Bao tử khìa nước
dừa tiêu xanh, cá xào dưa bao tử
2.3.3 Tình hình tiêu thụ dưa chuột bao tử ở huyện :
2.3.3.1 Tình hình cung cấp dưa chuột bao tử cho các cơ sở chế biến :
a/ Tình hình chung của huyện
16 | P a g e

1.3 20.4 1.7 27.6 2.2 41.2
Thái Đào 2.7 50.3 3.3 65.0 3.9 71.8
Tân Hưng 5.3 95.1 6.1 192.2 6.8 236.3
Quang
Thịnh
23 783.0 25.9 886.8 27.6 1051.2
Toàn
huyện
118.3 3012.8 136.4 3611.1 148.2 4439.9
( Nguồn số liệu báo cáo các xã của huyện Lạng Giang)
Thư vậy ta có thể thấy, năm 2007 toàn huyện có 118.3 ha đất canh tác thì dến
năm 2009 đã có 148.2 ha đất canh tác được đưa vào sản xuất theo hợp đồng, tăng
gần 1.3 lần so với năm 2007. Cùng với sự tăng lên về về diện tích đất trồng DCBT
là sự tăng lên về sản lượng hàng hóa dưa chuột bao tử ở các xã cụ thể là năm 2007
17 | P a g e
Nghiên cứu khả năng phát triển dưa chuột bao tử trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
sản lương dưa chuột bao tử mới đạt 3012.8 tấn mà đến năm 2009 con số đó đã lên
tới 443.9 tấn tăng gấp gần 1.5 lần trong đó tăng mạnh nhất là tại xã Hương Sơn sản
lượng đạt 1752.3 tấn chiếm 39.47% tổng sản lượng dưa chuột bao tử cả huyện năm
2009. Đây là dấu hiệu cho thấy cây dưa chuột bao tủ thích hợp với vùng đất Lạng
Giang và được người nông dân trong huyện tập trung đưa vào sản xuất.
Đến nay, tình sản xuất của công ty, cả doanh nghiệp xuất khẩu không ngừng
tăng lên dẫn đến nhu cầu mở rộng nguồn cung ứng đã thực hiện và tận dụng ngay
địa thế thuận lợi của mình là ở trên địa bàn có nguồn nguyên liệu dồi dào, tiết kiệm
được chi phí vận chuyển. thêm vào việc giảm được chi phí các doanh nghiệp, các
công ty xuất nhập khẩu dưa chuột bao tử nội tỉnh đã tăng giá mua dưa chuột bao tử
của nông dân lên từ 100-200 đồng/kg nhằm tạo nguồn cung cấp nguyên liệu ỏn
định cho chế biến ( có nghĩa là công ty mua dưa chuột bao tử của nông dân với
mức giá 5.400 – 6.500 đồng /kg). Các công ty nội tỉnh khai thác nguồn tiềm năng
này sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi cho hoạt động thu gom dưa chuột bao tử phục vụ

hình thức sau: ký hợp đồng với các đại lý thu mua ở từng địạ phương (đó là các
hơp tác xã). Ngoài ra doanh nghiệp còn ký hợp đồng với các đại lý thu mua ở từng
địa phương.
- Thu gom từ các hộ nông dân:
Ngay từ đầu vụ hợp tác xã đã thống nhất với các doanh nghiệp tiêu thụ dưa
chuột bao tử cho các hộ nông dân, thống nhất về giá, chất lượng chủng loại thời
gian giao hàng và phương thức thanh toán:
Dưa loại I: đường kính 1.5 cm, dài 3.5 – 5cm giá 6.400 đồng/kg
Dưa loại II: đường kính 2cm, dài 5 -6 cmgias 3.500 đồng/kg
Phương thức thanh toán: 20 tấn thanh toán 1 lần băng tiền mặt.
Quá trình thu gom dưa chuột bao tử của các công ty từ các hộ nông được thể
hiện qua sơ đồ:
19 | P a g e
Nghiên cứu khả năng phát triển dưa chuột bao tử trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Sơ đồ
mạng lưới thu gom từ hộ trồng DCBT đươc triển khai ở huyện Lạng Giang
tỉnh Bắc Giang
Theo sơ đồ này, các công ty (công ty vừa là nhà chế biến vừa tiêu thụ sản phẩm)
sẽ hỗ trợ một phần vốn cho người trồng và hướng đẫn kỹ thuật trồng dưa chuột bao
tử cho các hộ nông dân thông qua các hợp tác xã (HTX) sau đó công ty sẽ thu mua
tại HTX sản phẩm này. HTX là trung gian bao tiêu sản phẩm dưa chuột bao tử cho
các hộ nông dân nên việc ký kết hợp động kinh tế với doanh nghiệp được HTX
trực tiếp đứng ra ký. Tùy theo từng tình hình cụ thể mà công ty tạm ứng trước một
phần vốn theo đúng yêu cầu sản phẩm phục vụ chế biến xuất khẩu.
Nội dung hợp đồng được ký kết cụ thể , rõ ràng về giá cả, số lượng , chất lượng,
chủng loại, phương thức thanh toán và trách nhiệm mỗi bên. HTX được hưởng hoa
hồng (tỷ lệ này ở mỗi xã khác nhau tùy vào số lượng, chất lượng sản phẩm loại I
nhiều hay ít) từ phía công ty và từ các dịch vụ như điện nước khuyến nông… Khi
giá thị trương biến động thì vẫn được trả theo giá đã ký kết trên hợp đồng, song
nếu giá thị trường quá cao so với giá trên hợp đồng thì HTX đề nghị doanh nghiệp

CC
(%)
SL
(tấn)
CC
(%)
SL
(tấn)
CC
(%)
1.CtyCPCBTPX
K Bắc Giang
1450.0 100.0 1500.0 100.0 1570.0 100.0
Thu gom từ các
hộ nông dân
1144.5 78.9 1322.0 88.1 1472.2 93.77
Thu gom từ các
đại lý thu mua
305.5 21.1 178.1 11.9 97.8 6.23
2.CtyCPCBTPX
K Đông Hải
1032.8 100.0 1400.0 100.0 1680.0 100.0
Thu gom từ các
hộ nông dân
695.4 67.3 1009.8 72.1 1399.1 83.28
Thu gom từ các
đại lý thu mua
337.4 32.7 390.2 27.9 280.9 16.72
3.Cty CBTPXK
GOC

mua này dần được các doanh nghiệp sử dụng nhiều hơn bởi nó có những ưu điểm:
Đối với các công ty lớn và đã có quá trình phát triển lâu dài như công ty
CPCBTPXK Bắc Giang, việc sử dụng hình thức thu mua này sẽ tăng tính chủ động
trong việc chuẩn bị nguồn hàng, giảm chi phí trung gian, giảm thời gian thu gom,
giảm giá thành sản phẩm và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Đối với hộ nông dân ngoài lợi ích về tiêu thụ sản phẩm thông qua các hợp đồng,
nông dân còn được cung cấp một phần vốn, giống cây dưa chuột bao tử và dịch vụ
kỹ thuật. Nông dân có thể mua vật tư doanh nghiệp với giá hợp lý, đúng chủng loại
và có chất lượng đảm bảo hơn. Nếu thực hiện tốt hình thức hợp đồng sẽ góp phần
quan trọng để chuyển dịch cơ cấu sản xuất, phát triển nhanh và bền vững, năng cao
22 | P a g e
Nghiên cứu khả năng phát triển dưa chuột bao tử trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
hiệu quả của các doanh nghiệp, ổn định sản xuất, đời sống của nông dân ngày càng
được cải thiện.
Ngoài các ưu điểm trên hình thức thu mua này còn có các hàn chế đòi hỏi các
doanh nghiệp phải có năng lực kinh tế đủ mạnh
- Thu gom từ các đại lý thu mua:
Sơ đồ mạng lưới thu gom từ các đại lý thu mua DCBT được trển khai ở
huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang
Hình thức này được sử dụng ít hơn so với hình thức thu gom từ các hộ nông dân
vì nó có thêm chi phí đại lý thu gom. Hình thức này chủ yếu sử dụng ở các công ty
nhỏ. Hình thức này có ưu điểm là công ty có quyền đòi hỏi về chát lượng hàng của
mình mặt khác công tính sơ bộ giá thành để đạt được hiệu quả cao nhất. Ngoài ưu
đểm đó thì có hạn chế là tăng chi phí trung gian nên giá dưa chuột bo tử cao hơn so
với hình thức thu mua trực tiếp từ hộ nông dân.
Mặc dù vậy, nhưng lượng dưa vẫn thiếu hụt cho dù sản lượng khá cao tiềm năng
về ngành này còn được phát triển.
2.3.3.3 Kênh xuất khẩu
Dưa chuột bao tử được xuất khẩu qua 2 kênh được thực hiện qua 2 kênh:
- kênh 1: xuất khẩu trực tiếp

tìm kiếm hợp đồng khó khăn nên phải thông qua công ty XNK. Dưa chuột bao tử
sau khi chế biến tạo thành sản phẩm đóng lọ được kiểm tra chất lượng theo tiêu
chuẩn HACCP rồi vận chuyển tới công ty XNK.
Ưu điểm:
Sản phẩm được kiểm tra kỹ qua nhiều khâu trước khi đóng
hàng để xuất khẩu, khác phục hạn chế về yêu cầu nguông tài chínhđược san sẽ
qua nhiều đối tượng tham gian nên lợi nhuận không lớn, bị động trong nắm bắt sự
phản hồi của khách hàng, năng lực tiếp thị yếu. Mặt khác, doanh nghiệp cũng như
các hộ nông dân thường phải sức ép về giá cả của chất lượng sản phẩm, đưa ra các
phương án kế hoạch kinh doanh chậm.
Kết quả nghiên cứu đầu mối tiêu thụ của các công ty xuất khẩu dua bao tử được
thể hiện qua bảng:
Các hình thức tiêu thụ DCBT của các doanh nghệp ở Lạng Giang
Hình thức
tiêu thụ
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
GT CC GT CC GT CC
-XK trực
tiếp
106.561 63.86 135.516 67.11 154.562 66.43
-Công ty
XNK
60.308 36.14 66.427 32.89 78.124 33.57
- TT nội địa
khác
13.012 - 17.012 - 28.164 -
Tổng giá trị
XK
166.869 100 201.943 100 232.686 100
Tổng doanh

lân, kali và vôi để sinh trưởng và phát triển nhưng với lượng hợp lý.
- Công chăn sóc: Công chăm sóc nhiều còn thể hiện ở việc xới dất, bón phân,
làm cỏ làm cho dất đúng yêu cầu kỹ thuật hơn, đất tơi xốp hơn thuận lợi cho việc
phát triển của cây dưa.
- Diệt trừ cỏ và bảo vệ thực vật: Địa phương cần thành lập đội làm bảo vệt thực
vật để dự báo và phòng chống sâu bệnh. Ngoài biện pháp sử dụng thuốc hóa học
cần kết hợp các biện pháp khác như xử lý hạt giống, luân canh mùa vụ…
- Nước tưới: Cần tăng cường công tác thủy lợi, tưới tiêu nước đầy đủ cho cây.
- Bố trí thời vụ: Cây dưa chuột bao tử chỉ cho năng suất cao trong điều kiện thời
tiết khí hậu thích hợp. Cho nên việc lựa chọn thời vụ là việc làm đầu tiên cần được
tiến hành. Lịch gieo trồng ở Bắc Giang thường được tiến hành như sau:
- Vụ đông: Bố trí trên chân đất 2 vụ lúa gieo từ 15/9 đến 25/9
25 | P a g e


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status