THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ QUẢN LÝ VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CƠ CHẾ TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG TẠI ĐẦM PHÁ TAM GIANG CẦU HAI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ - Pdf 27

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (TGCH ) ở Thừa Thiên Huế là hệ sinh
thái tiêu biểu trong các hệ sinh thái đất ngập nước ven biển. Đầm phá có giá trị
to lớn về môi trường như điều hòa khí hậu, giảm thiên tai, duy trì nguồn nước.
Các giá trị về đa dạng sinh học là nơi giàu tài nguyên động, thực vật, được đánh
giá là phong phú nhất ở khu vực Đông Nam Á. Theo báo cáo của UBND Thừa
Thiên Huế “Những hoạt động đầm phá Thừa Thiên Huế” cho biết có tới 230
loài cá, 63 loài động vật đáy, 43 loài rong, 73 loại chim, 15 loại cò biển, 171
loài phù du thực vật, 37 loại phù du động vật, các thành phần loài thủy sinh và
rừng ngập mặn, nhiều phụ hệ cỏ biển, rừng ngập mặn cung cấp sinh dưỡng và
đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của địa phương và
xã hội. Nhưng hiện nay nguồn tài nguyên sẵn có của đầm phá có nguy cơ cạn
kiệt, đa dạng sinh học suy giảm, môi truờng nước bắt đầu bị ô nhiễm cục bộ,
các hệ sinh thái đất ngập nước bị thu hẹp. Cần có 1 công cụ lý hiệu quả bảo vệ
nguồn tài nguyên khu vực đầm phá TGCH. Đúc rút từ kinh nghiệm áp dụng Chi
trả dịch vụ môi trường ( PES) với rừng tại Việt Nam cho thấy PES là một công
cụ kinh tế quản lý hiệu quả cũng có khả năng áp dụng thành công đối với hệ
sinh thái đất ngập nước.
Đây là lý do tôi đã chọn đề tài “THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ
QUẢN LÝ VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CƠ CHẾ TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG TẠI
ĐẦM PHÁ TAM GIANG - CẦU HAI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ”
i
Nghiên cứu này sẽ giúp các cơ quan quản lý nhìn nhận rõ hơn giá trị kinh
tế của đầm phá TGCH, đồng thời là cơ sở cho xây dựng các chính sách về Chi
trả dịch vụ môi trường cho hệ thống đất ngập nước của Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu tổng thể của của đề tài là đánh giá khả năng áp
dụng cơ chế chi trả: một cách nhìn tổng thể từ lý thuyết và thực tiễn áp dụng
một số dịch vụ môi trường có khả năng áp dụng chi đối với hệ sinh thái đất
ngập nước ven biển đầm phá TGCH, tỉnh Thừa Thiên Huế, nhằm bảo tồn và
phát triển bền vững đất ngập nước này.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là :

TGCH có thể cung cấp. Tuy nhiên, kết hợp với những nghiên cứu về tổng quan
lý thuyết về PES, những kinh nghiệm thế giới và Việt Nam đã áp dụng, nghiên
cứu về cơ chế quản lý và thực trạng áp dụng PES và đặc biệt là kinh tế xã hội
đầm phá TGCH, luận văn đưa ra hai dịch vụ có khả năng cao nhất áp dụng Chi
iii
trả dịch vụ môi trường với hệ sinh thái đất ngập nước đầm phá TGCH là dịch vụ
cung cấp giá trị thủy sản phát triển thương hiệu thủy sản xanh và dịch vụ du
lịch. Từ khả năng áp dụng cao nhất về chi trả hai dịch vụ môi trường này đã
tổng kết được những lợi ích mà dịch vụ có khả năng mang lại cho khu vực đầm
phá TGCH.
Chương 3 từ tiềm năng áp dụng chi trả hai dịch vụ môi trường trình bày ở
chương 2 luận văn đã đưa ra những đề xuất cụ thể áp dụng cơ chế PES:
- Đề xuất các bên tham gia hai dịch vụ môi trường bao gồm: bên cung
cấp dịch vụ, bên mua dịch vụ và bên trung gian thúc đẩy thực hiện. Đối với mỗi
bên tham gia cơ chế PES luận văn đã làm rõ chức năng nhiệm vụ mỗi bên, có
những tổ chức tham gia PES là do tác giả luận văn đề xuất như Ban quản lý khu
vực đầm phá TGCH hay Quỹ bảo tồn và phát triển đầm phá TGCH.
- Đề xuất là cơ chế quản lý của chi trả môi trường hai dịch vụ trên theo
hai dòng: hoạt động dòng thông tin và hoạt động dòng tiền chi trả.
- Từ những thuận lợi khó khăn khi áp dụng chi trả hai dịch vụ môi trường
đề xuất những giải pháp hỗ trợ với từng cấp chính quyền nhằm nâng cao khả
năng áp dụng thành công PES với hệ sinh thái đất ngập nước TGCH.
iv
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN


LƯU THỊ HƯƠNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG ĐỐI
VỚI HỆ SINH THÁI ĐẤT NGẬP NƯỚC TẠI ĐẦM PHÁ TAM GIANG CẦU
HAI,

và Sơn La”, (ii) Nghị định số 99 ngày 24/9/2010 của Chính phủ về “Chính
sách Chi trả dịch vụ môi trường rừng” thực hiện PES trên phạm vi cả nước.
Sau hai năm thực hiện, chương trình đã mang lại những thành tựu đáng ghi
nhận. Rừng tại khu vực Chi trả dịch vụ môi trường của tỉnh Lâm Đồng được
quản lý tốt hơn, giảm số vụ vi phạm 50%; tỷ lệ hộ nghèo trong vùng thí điểm
giảm 15%. Đến năm 2012 đã có 8553 hộ gia đình được chi trả khi tham gia
nhận quản lý bảo vệ 226.793 ha rừng thuộc các lưu vực sông Đồng Nai, hồ
thủy điện Đa Nhim, Đại Ninh và Hàm Thuận-Đa Mi. Tại tỉnh Sơn La, tổng
diện tích chi trả là 397.272 ha/594.000 ha rừng với tổng số chủ rừng là 52.000.
Ngoài ra, chính sách đã góp phần làm chuyển biển nhận thức của các cấp, các
ngành và người dân trên địa bàn, góp phần quan trọng cho công tác giữ rừng,
tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các ngành khác như giảm khí nhà
kính, hạn chế lũ lụt, thủy điện, du lịch…
Những kết quả áp dụng thí điểm PES rừng nói trên cho thấy việc thực
hiện cơ chế Chi trả dịch vụ môi trường như một cơ chế tài chính bền vững là
một hướng đi tất yếu và cần phải được ưu tiên triển khai sớm cho tất cả các loại
hình hệ sinh thái khác. Điều này đặc biệt cần triển khai sớm với các hệ sinh thái
đất ngập nước là một trong những hệ sinh thái năng suất cao nhất trên trái đất.
2
Đất ngập nước được mô tả như “các quả thận của cảnh quan” do chức năng mà
chúng đảm nhận trong các chu trình thủy văn và hóa học, vừa được coi là “siêu
thị sinh học” vì nguồn thực phẩm phong phú và đa dạng sinh học giàu có mà
chúng cung cấp (Edward B Barbier, Mike Acreman và Duncan Knowler, 1997).
Tuy nhiên cũng như nhiều hệ sinh thái đất tự nhiên khác, đất ngập
nước ven biển đang phải đối mặt với sự đe dọa từ biến đổi khí hậu, ô nhiễm
môi trường và nặng nề hơn cả là áp lực chuyển đổi mục đích sử dụng đất của
người dân địa phương
- Đầm phá TGCH ở Thừa Thiên Huế là hệ sinh thái tiêu biểu trong các
hệ sinh thái đất ngập nước ven biển. Nó có giá trị to lớn về môi trường như điều
hòa khí hậu, giảm thiên tai, duy trì nguồn nước. Các giá trị về đa dạng sinh học

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về Chi trả dịch vụ môi trường.
-Tổng quan kinh nghiệm quốc tế về Chi trả dịch vụ môi trường.
4
- Đánh giá thực trạng quản lý và những khó khăn, bất cập trong công
tác quản lý của hệ sinh thái đất ngập nước ven biển đầm phá TGCH, tỉnh
Thừa Thiên Huế.
- Xác định những dịch vụ môi trường có khả năng áp dụng PES cao nhất
tại đầm phá TGCH.
- Đề xuất một số nội dung của Chi trả dịch vụ môi trường phù hợp với hệ
sinh thái đất ngập nước ven biển tại đầm phá TGCH, tỉnh Thừa Thiên Huế
nhằm bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Các dịch vụ môi trường hệ sinh thái đất ngập nước ven biển tại đầm
phá TGCH, tỉnh Thừa Thiên Huế.
+ Các đối tượng liên quan đến Chi trả dịch vụ môi trường tại đầm phá
TGCH, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về mặt khoa học : Những nội dung khoa học liên quan đến Chi
trả dịch vụ môi trường.
+ Số liệu thu thập: Sử dụng số liệu sơ cấp và thứ cấp từ năm 2005-2013.
+ Phạm vi không gian: Hệ đầm phá TGCH gồm 5 huyện Phong Điền,
Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang và Phú Lộc và các đối tượng chịu ảnh
hưởng của Chi trả dịch vụ môi trường tại hệ đầm phá TGCH, tỉnh Thừa Thiên
5
Huế.
4. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn tập trung trả lời những
câu hỏi sau:
- Chi trả dịch vụ môi trường là gì ?

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ CHI TRẢ DỊCH VỤ
MÔI TRƯỜNG
1.1 Khái niệm Chi trả dịch vụ môi trường
1.1.1 Khái niệm hệ sinh thái
Trong những thập kỷ gần đây, nhân loại đã quan tâm nhiều đến vấn đề
phát triển bền vững dựa trên cơ sở hệ sinh thái, tiếp cận hệ sinh thái để quản lý
và bảo tồn đa dạng sinh học, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội dựa trên các
hệ sinh thái, v. V Việc nghiên cứu hệ sinh thái đã trở thành công cụ quan
trọng trong việc đánh giá và kiểm soát các tác động đến môi trường trong quá
trình phát triển nông nghiệp, công nghiệp, du lịch và dịch vụ phục vụ đời sống
con người, đòi hỏi chúng ta phải có cách tiếp cận đầy đủ, chính xác và hệ thống
về khái niệm hệ sinh thái, tính chất, thành phần, cấu trúc, chức năng và phân
loại của chúng. Tuy nhiên, khái niệm hệ sinh thái cho đến nay còn chưa được
thống nhất.
Khái niệm hệ sinh thái lần đầu tiên được nhà sinh vật học người Anh Sir
Arthur George Tansly định nghĩa vào năm 1935: “Hệ sinh thái bao gồm không
chỉ phức hệ sinh vật mà còn cả phức hệ các yếu tố tự nhiên tạo thành môi
trường của quần xã sinh vật - yếu tố nơi cư trú theo nghĩa rộng hơn”. Các nhà
sinh thái học Mỹ còn đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về hệ sinh thái. Theo
Linderman (1942) “Hệ sinh thái là một hệ thống bao gồm các quá trình vật lý,
8
hóa học, sinh học hoạt động trong một đơn vị không gian và thời gian nào đó ”.
Odum (1971) định nghĩa “Hệ sinh thái là một đơn vị bất kỳ nào bao gồm tất cả
các vật sống (thực vật, động vật, vi sinh vật) trong một khu vực nhất định có sự
tương tác với môi trường vật lý bằng các dòng năng lượng tạo nên cấu trúc dinh
dưỡng xác định, sự đa dạng về loài và chu trình tuần hoàn vật chất (nghĩa là sự
trao đổi vật chất giữa các thành phần hữu sinh và vô sinh bên trong hệ thống
đó). Whittaker (1975) định nghĩa “Hệ sinh thái là một hệ thống chức năng bao
gồm một tập hợp các vật sống (thực vật, động vật, vi sinh vật) và môi trường vật
lý (khí hậu, đất) tương tác qua lại lẫn nhau”.

(2) Sản xuất: nơi chứa đựng sự đa dạng sinh học và cung cấp các nguồn
10
lợi to lớn cho sự phát triển của xã hội loài người, như: lương thực, thực phẩm,
nguồn dược liệu,
(3) Điều chỉnh: là khả năng điều chỉnh các quá trình sinh thái quan trọng
và các hệ thống hỗ trợ cuộc sống thông qua các chu trình sinh địa hóa và các
quá trình sinh quyển khác. Hơn nữa, để duy trì sức khoẻ hệ sinh thái, các chức
năng điều sinhh này cung cấp các dịch vụ mang lại lợi ích trực tiếp hoặc gián
tiếp cho con người, như làm sạch nước, không khí, đất và các dịch vụ phòng trừ
sinh học.
(4) Thông tin: cung cấp cơ hội để phát triển nhận thức, tiềm năng cho du
lịch sinh thái.
Trong bốn chức năng trên của hệ sinh thái trên thì chức năng sản xuất
là dễ nhận biết nhất qua cung cấp những giá trị sử dụng trực tiếp phục vụ đời
sống cộng đồng xung quanh hệ sinh thái. Đây cũng là chức năng dễ đo lường
và quan trọng nhất.
1.1.3 Dịch vụ hệ sinh thái
Từ năm 1997, Liên hợp quốc định nghĩa dịch vụ hệ sinh thái là những
chức năng định tính do các đặc tính phi sản xuất của đất, nước và không khí
(bao gồm cả các hệ sinh thái liên quan) và các sinh vật của chúng cung cấp. Nói
một cách đơn giản hơn, dịch vụ hệ sinh thái thường được đề cập đến như là các
ngoại ứng môi trường tích cực do hệ sinh thái tự nhiên sản sinh ra.
Do nhu cầu phát triển thị trường chi trả dịch vụ hệ sinh thái, gần đây các
11
tổ chức quốc tế đưa ra các định nghĩa về dịch vụ hệ sinh thái cụ thể hơn, phục
vụ trực tiếp việc xây dựng chi trả dịch vụ hệ sinh thái. Theo Tổ chức bảo tồn
thiên nhiên thế giới (IUCN), dịch vụ hệ sinh thái là “Các điều kiện và các mối
quan hệ mà thông qua đó các hệ sinh thái tự nhiên và các loài phát triển tồn tại
và phục vụ cho cuộc sống con người”.
Những dịch vụ đó chẳng hạn như là rừng thì cung cấp những giá trị

thuộc và dịch vụ môi trường được cung cấp một cách liên tục và ở một mức độ
xác định.
Theo Wunder và cộng sự (2007):
Chi trả dịch vụ môi trường: là một giao dịch tự nguyện, trong đó đã xác
định được rõ dịch vụ hệ sinh thái (hoặc hoạt động sử dụng đất để đảm bảo cung
cấp dịch vụ hệ sinh thái đó). Được mua bởi bên mua dịch vụ (có ít nhất một
người mua). Được cung cấp bởi bên bán dịch vụ (có ít nhất một người bán). Chỉ
13
khi bên bán dịch vụ đảm bảo dịch vụ đó được cung cấp (tính điều kiện).
Theo Luật Lâm nghiệp số 7575 của Costa Rica, PES được định nghĩa là
“Công cụ tài chính để phục hồi và bảo tồn rừng và các lợi ích liên quan”.
Một số định nghĩa khác được nhiều nước mô tả theo nhiều cách khác
nhau, tuy nhiên, bản chất của PES là công cụ kinh tế, tạo cơ chế khuyến khích
và mang lại lợi ích cho cộng đồng cung cấp dịch vụ môi trường, nhằm tạo
nguồn tài chính bền vững cho công tác bảo tồn tài nguyên và đa dạng sinh học,
hướng tới xóa đói, giảm nghèo dựa trên nền tảng cơ bản sau:
+ Người được hưởng lợi phải trả tiền
PES không hoạt động theo cơ chế người gây ô nhiễm phải trả tiền mà
hướng tới một cơ chế khác là người được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường sẽ trả
tiền cho việc thụ hưởng đó. Các nhà kinh tế đã tiến hành nhiều nghiên cứu và
chỉ ra rằng, sẽ hiệu quả hơn nếu trả tiền để con người giữ gìn môi trường hơn là
bắt họ phải chi trả cho những thiệt hại môi trường mà họ đã gây ra. Một ví dụ cụ
thể là, thay vì phạt những người dân ở vùng thượng lưu vì đã chặt phá rừng gây
ra lũ lụt cho vùng hạ lưu thì chi trả cho họ một khoản tiền để họ giữ các khu
rừng đó và đem lại lợi ích cho dân ở vùng hạ lưu.
+ Sự sẵn lòng chi trả (Willingness to pay – WTP)
Sự sẵn lòng chi trả là thước đo độ thỏa mãn, đồng thời là thước đo lợi ích
và là đường cầu thị trường tạo nên cơ chế chi trả, xác định lợi ích đối với xã hội
từ việc tiêu thụ hoặc bán một dịch vụ cụ thể.
14

khác biệt giữa người bán và người mua không phải bao giờ cũng được phân biệt rõ
ràng.
Bên hưởng lợi –bên mua dịch vụ môi trường
Về nguyên tắc, đối với các tổ chức (bao gồm cả cơ quan nhà nước);
doanh nghiệp, cộng đồng dân cư thôn, hộ gia đình, cá nhân … sinh sống trên đất
nước Việt Nam được hưởng lợi ích từ môi trường đem lại hoặc có các hoạt
động trong sản xuất và đời sống gây ảnh hưởng tác động có hại tác động xấu tới
môi trường sinh thái, phải có trách nhiệm tham gia đóng góp chi trả cho các
dịch vụ môi trường. Bao gồm các đối tượng sau đây:
- Các tổ chức cá nhân được hưởng lợi từ hệ sinh thái (khai thác thủy lợi,
thủy điện, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, nghỉ dưỡng, tham quan, nghiên cứu
khoa học, học tập …).
- Những người sống trên đất nước Việt Nam được hưởng thụ môi trường
trong lành từ môi trường đem lại (ngăn chặn thiên tai, dịch bệnh, tạo không khí
trong lành).
- Nguồn kinh phí đã hình thành từ trước như thủy lợi phí, thuế tài nguyên,
hàng năm được trích chuyển trả lại cho các dịch vụ môi trường.
- Các tổ chức cá nhân có hoạt động gây tác động ảnh hưởng có hại đối
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status