KHẢO SÁT SỰ BIẾN ĐỘNG VỀ THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT NỔI (ZOOPLANKTON) Ở ĐẦM PHÁ TAM GIANG - CẦU HAI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ - Pdf 12

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Tập 75A, Số 6, (2012), 123-133

123

KHẢO SÁT SỰ BIẾN ĐỘNG VỀ THÀNH PHẦN LOÀI ĐỘNG VẬT NỔI
(ZOOPLANKTON) Ở ĐẦM PHÁ TAM GIANG - CẦU HAI
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Võ Văn Phú, Hoàng Đình Trung
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế

Tóm tắt. Hệ đầm phá nước lợ Tam Giang - Cầu Hai nằm ở tọa độ khoảng 16
0
14

– 16
0
42


độ vĩ Bắc và 107
0
22

– 107
0
57

độ kinh Đông, kéo dài chạy dọc trên 68 km theo bờ biển

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu là thành phần loài động vật nổi (Zooplankton) ở đầm phá
Tam Giang – Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đề tài được thực hiện trong 15 tháng (từ
tháng 7/2008 đến tháng 11/2009). Tiến hành, khảo sát thu mẫu trên 11 tuyến (lát cắt)
với 35 điểm thu mẫu, khảo sát được lựa chọn phân bố dọc theo chiều dài của hệ đầm
phá. Ngoài ra, còn sử dụng các tư liệu, số liệu mà chúng tôi thực hiện điều tra nghiên
cứu trong năm 2000 - 2001 và năm 2007 để so sánh, đánh giá sự biến động về cấu trúc
thành phần loài động vật nổi ở vùng nghiên cứu.
Bảng 1. Các mặt cắt và các điểm lấy mẫu trên toàn bộ đầm phá TG - CH
Stt Vùng khảo sát Tuyến Ghi chú
1 Tam Giang
M1 Lát cắt ngang giữa xã Điền Hải và Quảng Thái
M2 Lát cắt ngang giữa xã Quảnng Ngạn và Quảng Lợi
M3 Lát cắt ngang giữa xã Quảng Công và Quảng Phước
M4 Lát cắt ngang giữa Cửa Thuận An và xã Hương Phong
2
Sam - An
Truyền, Thủy

M5 Lát cắt ngang giữa xã Phú Thuận và Phú Tân
M6 Lát cắt ngang giữa xã Phú Diên và Phú Xuân
M7 Lát cắt ngang giữa xã Vinh Thanh và Viễn Trình
M8 Lát cắt ngang giữa xã Vinh Hưng và Vinh Hà
3 Cầu Hai
M9 Lát cắt từ vùng giáp đầm Cầu Hai đến vùng cửa Tư Hiền
M10
Lát cắt vùng giữa đầm cầu Hai, từ cửa sông Truồi đến xã
Lộc Bình
M11


N
0
: số lượng Zooplankton (con/m
3
).
C: Số cá thể đếm được trên buồng đếm.
V
/
: số ml nước mẫu còn lại sau khi lọc (20ml).
V
//
: Thể tích mẫu nước đã thu (50L).
Từ kết quả thu được trên các điểm và thời gian thu mẫu, chúng tôi rút ra sự biến
động số lượng, mật độ cá thể động vật nổi ở đầm phá theo không gian và thời gian.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Danh lục thành phần loài
Trong thời gian nghiên cứu, đã xác định được 43 loài động vật nổi (Zooplankton) ở
đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, trong đó: Trùng Bánh xe (Rotatoria) 1 loài thuộc 1
giống, 1 họ; giáp xác Râu ngành (Cladocera) 5 loài, 5 giống, 4 họ; giáp xác Chân chèo
(Copepoda) 37 loài, thuộc 17 giống, 13 họ. Như vậy, so với danh lục thành phần loài
Động vật nổi Tam Giang - Cầu Hai năm 2001 do PGS.TS. Võ Văn Phú và ThS. Nguyễn
Mộng, chúng tôi đã bổ sung được 9 loài, 1 giống, 01 họ (bảng 2).
Bảng 2. Danh lục thành phần loài động vật nổi (Zooplankton) ở đầm phá TG - CH
Stt Tên khoa học
I Trùng Bánh xe - Rotatoria
(1) Họ Asplanchnidae
1 Asplanchna priodonta Gosse, 1850
II Giáp xác râu ngành - Cladocera
(2) Họ Sididae

22 Acartia clausi Giesbrecht, 1889
23 A. danae Giesbrecht, 1889
24 A. discaudata (Giesbrecht, 1882)
25 A. erythraea Giesbrecht, 1889 (*)
26 A. negligens Dana, 1849 (*)
27 A. pacifica Steuer, 1915 (*)
28 Acartiella sinensis Shen & Lee, 1963
(11) Họ Coricaeidae (+)
29 Corycaeus spesiosus Dana, 1849 (*)
VÕ VĂN PHÚ, HOÀNG ĐÌNH TRUNG 127
(12) Họ Centropagidae
30 Sinocalanus laevidactylus Shen & Tai, 1964
31 Centropages brevifurcus Shen & Lee 1963
(13) Họ Tortanidae
32 Tortanus denticulatus (Shen et Tai, 1963)
(14) Họ Temoridae
33 Temora turbinate (Dana, 1849)
34 T. stylifera (Dana, 1848)
35 T. discaudata Giesbrecht, 1889
(15) Họ Cyclopidae
36 Mesocyclops leuckarti (Claus 1857)
37 Thermocyclops hyalinus Tai & Chen, 1979
(16) Họ Oithonidae
38 Limnoithona sinensis (Bruckhardt,1912)
39 Oithona nana (Giesbrecht, 1892)
40 O. brevicornis Giesbrecht, 1891 (*)
41 O. similis Claus, 1866
(17) Họ Metidae
42 Metis jousseaumei (Richard, 1892)
(18) Họ Harpactidae

1 2,33
2 Cladocera 5 11,63
Sididae 1 2,33
Diaphanosoma
1 2,33
Bosminidae 1 2,33
Bosminopsis
1 2,33
Daphniidae 2 4,65 Scapholeberis 1 2,33
128 Khảo sát sự biến động về thành phần loài động vật nổi…
1 2,33 Ceriodaphnia 1 2,33
Polyphemidae 1 2,33
Evadne
1 2,33
3 Copepoda 37 86,04
Diaptomidae 1 2,33 Vietodiaptomus 1 2,33
Pseudodiaptomidae 6 13,95
Schmackeria 4 9,30
Pseudodiaptomus
2 4,65
Paracalanidae 4 9,30
Paracalanus
4 9,30
Pontellidae 4 9,30
Labidocera
4 9,30
Acartidae 7 16,28
Acartia
6 13,95


Pseudodiaptomus; Các giống còn lại Asplanchna, Diaphanosoma, Scapholeberis,
Ceriodaphnia, Bosminopsis, Evadne, Vietodiaptomus, Acartiella, Corycaeus, Sinocalanus,
Centropages, Tortanus, Mesocyclops, Thermocyclops, Limnoithona, Metis, Harpacticus là
các giống đơn loài.
Về bậc họ, trong tổng số 18 họ, giáp xác chân chèo (Copepoda) có 13 họ (chiếm
VÕ VĂN PHÚ, HOÀNG ĐÌNH TRUNG 129
72,22%), giáp xác râu ngành (Cladocera) 4 họ (chiếm 22,22%) và trùng bánh xe
(Rotatoria) có 1 họ (chiếm 5,56%). Họ có số giống cao nhất là các họ: Daphniidae,
Pseudodiaptomidae, Acartidae, Centropagidae, Cyclopidae, Oithonidae với 2 giống, các
họ còn lại là Asplanchnidae, Bosminidae, Polyphemidae, Diaptomidae, Paracalanidae,
Pontellidae, Coricaeidae, Tortanidae, Metidae, Harpactidae mỗi họ có 1 giống.
3.3. Một số họ động vật nổi chiếm ưu thế về loài
Trong tổng số 18 họ động vật nổi ở đầm phá Tam Giang - Cầu Hai đã xác định
được, số họ có đông loài không nhiều, nằm trong 4 trên tổng số 18 họ, thể hiện ở bảng 4.
Bảng 4. Tính ưu thế về loài của các họ động vật nổi ở Tam Giang – Cầu Hai
Stt Họ Số giống Số loài Tỷ lệ %
1 Acartidae 2 7 16,28
2 Pseudodiaptomidae 2 6 13,95
3 Paracalanidae 1 4 9,30
4 Pontellidae 1 4 9,30
Qua bảng 4 ta thấy họ có số lượng thành phần loài ưu thế nhất là Acartidae
(Copepoda) với 7 loài, chiếm tỷ lệ 16,28%. Tiếp đến là họ Pseudodiaptomidae
(Copepoda) có 6 loài, chiếm tỷ lệ 13,95%. Hai họ Paracalanidae (Copepoda) và
Pontellidae (Copepoda) cùng có 4 loài (chiếm 9,30%). Tất cả các họ còn lại có số lượng
loài và giống không cao. Điều này cũng thể hiện tính ưu thế của một số nhóm loài trong
các họ động vật nổi điển hình cho thủy vực nước lợ.
3.4. Biến động cấu trúc
1 6
10
21

1km và tạo hình một lạch triều ngầm sâu trung bình 2m, sâu dần về phía Cầu Hai với độ
sâu đạt tới 4m ở Hà Trung. Nơi đây đặc trưng nước lợ điển hình, có nồng độ muối từ 8 -
250/00. Đây là vùng phân bố chủ yếu của các loài nước lợ điển hình trong hệ đầm phá.
Thành phần loài thuộc nhóm này có thể kể như Sinocalanus laevidactylus, Centropages
brevifurcus, Mesocyclops leuckarti và các loài thuộc giống Schmackeria. Mặt khác về
sinh thái, nơi đây có sự giao lưu của nhiều loài động vật nổi có nguồn gốc nước ngọt và
lợ mặn theo mùa. Do vậy số lượng loài và mật độ cá thể thu được trong mùa mưa ở đầm
Thủy Tú không cao nhưng biến động theo mùa so với các vùng khác. Mùa mưa đạt tới
2.875con/m3 , trong khi mùa khô chỉ đạt 1376 con/m3 (hình 2). Trong khi đó, vùng Tam
Giang và Cầu Hai nơi môi trường nước có tính chất lợ nhạt, nồng độ muối < 5 0/00 bao
gồm Cửa sông Ô Lâu, cửa sông Truồi. Đây là vùng phân bố không nhiều của các loài có
nguồn gốc nước ngọt, bao gồm các loài thuộc giống Vietodiaphtomus hatinhensis,
Diaphanosoma sarsii, Moina dubia và nhiều loài thích nghi với sinh thái môi trường
nước lợ nhạt. Mật độ động vật nổi có khác nhau giữa 02 vùng. Ở Tam Giang mật độ đạt
cao nhất cả về mùa mưa (3.774 con/m3) lẫn mùa khô (3.971 con/m3); còn ở Cầu Hai có
mật độ trung bình thấp hơn. Mùa mưa đạt 1369 con/m3, mùa khô đạt tới 2.906 con/m3.
3.774
3.971
2.875
1.376
1.369
2.906
0.000
1.000
2.000
3.000
4.000
con/m
3
Tam Giang " y " C\ u Hai

2
(Trần Đức Thạnh, 2005). Sông Hương gồm
3 nhánh Tả Trạch, Hữu Trạch và Sông Bồ có tổng lưu vực 3.000km
2
, lượng chảy hàng
năm 5,4km
3
nước, độ dốc phổ biến 11-12%. Hàm lượng cát bùn trung bình 150 g/m
3
,
cực đại đạt 1.830 g/m
3
. Sông Ô Lâu có lưu vực 572km
2
, lượng chảy hàng năm là 0,5
km
3
. Sông Đại Giang cũng có lượng chảy hàng năm khoảng là 0,5 km
3
. Các sông này
có lượng cát trung bình 70-80g/m
3
.
Về thủy điện, tính đến 2011 tỉnh Thừa Thiên Huế có năm công trình thủy điện
chính đã và đang đi vào hoạt động là A Lưới, Hương Điền, Bình Điền, Alin B1 và Tả
Trạch. Tuy nhiên, đến năm 2020, trên lưu vực sông Hương sẽ có 13 dự án Nhà máy thủy
điện được quy hoạch, trong đó sông Bồ (9 nhà máy thủy điện), sông Hữu Trạch (1 nhà
máy), sông Tả Trạch (3 nhà máy). Việc xây dựng các công trình trên các dòng chính đã
tác động mạnh mẽ tới hệ sinh thái đầm phá, làm thay đổi sự bồi lấp đầm phá và cửa biển
do tác động nội sinh và xâm thực biển. Biên độ dao động độ mặn và nhiệt độ của đầm phá

chí hoạt động Khoa học, 1998.
[6]. Võ Văn Phú, Tổng quan về một số yếu tố môi trường và đa dạng sinh học đầm phá
Tam Giang - Cầu Hai, Hội thảo quốc gia về đầm phá Thừa Thiên Huế, 2000.
[7]. Võ Văn Phú, Nghiên cứu những ảnh hưởng của việc mở các cửa biển sau lũ đến sinh
thái và tài nguyên sinh vật ở vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Báo cáo tổng kết đề tài trọng điểm cấp bộ, Huế, 2001.
[8]. Ranga Reddy. Y., Copoda, Calanoida, Diaptomidae, SPB Academic Publishing, 1994.
[9]. Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Miên, Định loại động vật không xương
sống nước ngọt Bắc Việt Nam, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, 1980.
[10]. Đặng Ngọc Thanh, Hồ Thanh Hải, Động vật chí Việt Nam, Tập 5. Giáp xác nước ngọt.
Nxb. Khoa học & Kỹ thuật, Hà Nội, 2001.
VÕ VĂN PHÚ, HOÀNG ĐÌNH TRUNG 133

STUDY OF FLUCTUATIONS OF ZOOPLANKTON IN TAM GIANG – CAU
HAI LAGOONS SYSTEM, THUA THIEN HUE PROVINCE
Vo Van Phu, Hoang Dinh Trung
College of Sciences, Hue University

Abstract. Tam Giang - Cau Hai brackish lagoon system, located at approximately 16
0
14

-
16
0
42' North latitude and 107
0
22'- 107
0
57' East longitude, extends over 68 kilometres along


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status