ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC QUY HOẠCH VÀ GIẢI TỎA NÒ SÁO ĐẾN CỘNG ĐỒNG
NGƯ DÂN TẠI MỘT SỐ HUYỆN VEN ĐẦM PHÁ TAM GIANG CẦU HAI TỈNH
THỪA THIÊN HUẾ.
Võ Điều, Trần Thị Thúy Hằng, Nguyễn Đức Thành
1
Khoa Thuỷ sản, Trường Đại học Nông Lâm Huế, 102 Phùng Hưng, Huế
TÓM TẮT
Việc quy hoạch và giải tỏa nò sáo trên đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế đã có những
ảnh hưởng đến cộng đồng ngư dân có đời sống gắn liền với đầm phá, đặc biệt là sinh kế của ngư hộ. Kết quả khảo
sát cho thấy, hoạt động sinh kế của ngư dân tại một số huyện ven phá Tam Giang – Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế
có sự thay đổi trước và sau quy hoạch, giải tỏa nò sáo, không chỉ thay đổi về ngành nghề, mà còn ảnh hưởng đến
thu nhập và cũng gây ra khó khăn trong đời sống của ngư dân tại khu vực bị giải tỏa quy hoạch nò sáo.
1. GIỚI THIỆU
Quy hoạch nò sáo trên đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế là một trong
những hoạt động được sự quan tâm của nhiều cấp, ngành và cộng đồng ngư dân trong những
năm gần đây. Với mục đích bảo vệ môi trường, ổn định sản xuất thủy sản và bảo vệ nguồn lợi
thủy sản, công tác quy hoạch, sắp xếp nò sáo đã được triển khai ở nhiều địa phương quanh đầm
phá.
Qua đánh giá của nhiều nhà quản lý thủy sản, nhà khoa học, việc quy hoạch nò sáo trên
đầm phá Tam Giang – Cầu Hai bước đầu đã có hiệu quả về môi trường, kinh tế,…Tuy nhiên, do
thời gian sau quy hoạch còn ngắn, nguồn lợi thủy sản chưa kịp phục hồi, ở một số vùng, thu nhập
từ khai thác thủy sản giảm ảnh hưởng đến sinh kế và đời sống của ngư dân. Do vậy, việc đánh
giá và xem xét những “ảnh hưởng của quy hoạch, sắp xếp nò sáo đến đời sống ngư dân tại các
huyện ven phá Tam Giang, tỉnh Thừa Thiên Huế”, góp phần tìm ra giải pháp ổn định đời sống
cho ngư dân là việc làm cấp thiết.
2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU, PHƯƠNG PHÁP
2.1. Nội dung nghiên cứu
- Hiện trạng quy hoạch nò sáo tại một số huyện ven phá Tam Giang, tỉnh TTHuế
- Ảnh hưởng của việc quy hoạch nò sáo đến hoạt động sinh kế của ngư dân
- Khó khăn sau quy hoạch nò sáo.
- Đánh giá chung của ngư hộ về việc quy hoạch nò sáo
sáo và nhóm hộ nằm trong diện giải tỏa nò sáo.
Phương pháp phân tích số liệu: số liệu sau khi thu thập được xử lý trên phần mềm SPSS phiên
bản 16.0; phân tích số liệu bằng phương pháp SWOT và một số phương pháp khác.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Hiện trạng quy hoạch nò sáo tại một số huyện trên đầm phá Tam Giang
3.1.1.Tiến độ giải tỏa, sắp xếp nò sáo
Công tác quy hoạch, sắp xếp nò sáo trên đầm phá Tam Giang - Cầu Hai được triển khai
trong những năm gần đây và đã đạt được một số kết quả khả quan. Kết quả cụ thể được trình bày
ở bảng sau:
Bảng 2. Hiện trạng quy hoạch nò sáo tại một số huyện trên đầm phá Tam Giang, tỉnh
Thừa Thiên Huế
TT Địa phương
Trước QH Sau QH
Số trộ sáo Số hộ
Số trộ
sáo còn
lại
Số hộ
còn nò
sáo
Số trộ
sáo giải
tỏa
Số hộ có
nò sáo bị
giải tỏa
1 Phú Lộc 665 291 281
2 Hương Trà 44 44 22 22 22 22
3 Phong Điền 113 (118) 116 48 (46) 65
4 Quảng Điền 441 370 198 198 243 172
3.2. Ảnh hưởng của việc quy hoạch nò sáo đến thu nhập của ngư hộ
3.2.1. Hoạt động sinh kế của ngư hộ
Qua kết quả khảo sát các ngư hộ nằm trong diện quy hoạch nò sáo có sự thay đổi về hoạt
động sinh kế của gia đình trước và sau khi việc quy hoạch và giải tỏa nò sáo diễn ra.
Hình 1. Sự thay đổi về hoạt động sinh kế của ngư hộ trước và sau quy hoạch, giải tỏa nò sáo
Qua hình 1, có thể thấy rằng sinh kế của người dân trước và sau quy hoạch có sự thay
đổi. Trong các hoạt động sinh kế, chỉ có nghề khai thác bằng nò sáo giảm đến 12%, còn các nghề
khác như khai thác thủy sản bằng các nghề khác tăng 7.07% ; Trong khi các hoạt động nghề
nghiệp khác có sự tăng nhẹ như nuôi trồng thủy sản tăng 0.24%; nông nghiệp tăng 0.22%; Buôn
bán tăng 1.5% và lao động, làm nghề tăng 2.96%.
Mặc dù trước và sau quy hoạch, giải tỏa nò sáo có sự thay đổi về sinh kế, nhưng để kiểm
tra xem sự thay đổi đó có ý nghĩa về mặt thống kê hay không, chúng tôi đã tiến hành kiểm định
dấu và hạng Wilcoxon.
Bảng 3. Kiểm định Wilcoxon về sự khác nhau về sinh kế của người dân trước và
sau quy hoạch
Tổng
Hạng trung
bình
Tổng xếp
hạng
Sinh kế trước quy hoạch;
Sinh kế sau quy hoạch
Chênh lệch âm 3
a
60.67 182.00
Chênh lệch dương 95
b
49.15 4669.00
Không chênh lệch 230
c
3.4. Đánh giá chung của ngư hộ về quy hoạch nò sáo
Nhìn chung, mặt dù hiệu quả của quy hoạch chưa được phát huy hết ở các vùng, địa
phương do thời gian sau quy hoạch ngắn nhưng phần lớn các ngư hộ đều đánh giá tích cực về
quy hoạch nò sáo trên đầm phá.
Hình 5. Đánh giá chung của ngư hộ về quy hoạch nò sáo
Phần lớn các ngư hộ cho rằng quy hoạch nò sáo trên đầm phá đem lại lợi ích chung cho
cộng đồng và ổn định sinh kế cho các ngư hộ khai thác thủy sản trên đầm phá; chỉ có một tỷ lệ
nhỏ 8% số hộ cho rằng quy hoạch nò sáo không công bằng với các hộ làm nghề nò sáo vì: các hộ
khai thác di động được hưởng lợi nhiều hơn sau quy hoạch.
4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
IV.1. Kết luận
Qua đánh giá hiện trạng về quy hoạch nò sáo và các ảnh hưởng của quy hoạch đến sinh
kế của cộng đồng ngư dân chúng tôi có một số kết luận sau:
(i) Công tác quy hoạch nò sáo đã triển khai ở phần lớn các địa phương trên đầm phá Tam Giang -
Cầu Hai. Một số địa phương đã hoàn thành công tác quy hoạch như: Phú Lộc, Quảng Điền,
Phong Điền.
(ii) Một bộ phận không nhỏ ngư dân có thu nhập thấp hơn do ảnh hưởng của quy hoạch, đặc biệt là
nhóm ngư hộ nghèo. Có nhiều nguyên nhân làm cho nhóm ngư hộ nghèo có thu nhập thấp như:
chưa tìm ra nghề mới thay thế nò sáo, thiếu vốn sản xuất, không đủ sức lao động làm các nghề
khác,…
(iii) Phần lớn cộng đồng ngư dân đánh giá: quy hoạch nò sáo mang lại lợi ích chung cho cộng đồng,
ổn định sinh kế cho ngư dân.
IV.2. Kiến nghị
Qua các nội dung của hoạt động, nhóm nghiên cứu có một số kiến nghị sau:
(i) Cần có đánh giá về nhu cầu đào tạo nghề phù hợp với điều kiện các địa phương của nhóm ngư
hộ
(ii) Cần có nghiên cứu về các hoạt động sinh kế thay thế cho nhóm ngư hộ nằm trong diện quy
hoạch nò sáo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. HĐND huyện Phú Lộc,2006. Nghị Quyết số 7e/2006/NQ-HĐND9 về quy hoạch khu bảo tồn