Nghiên cứu điều kiện môi trường gây trồng vá sinh trưởng của tảo xoắn (spirulina platensis) ở phá tam giang – cầu hai, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 14

PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Spirulina có mặt trên trái đất cách nay khoảng 3,6 tỉ năm. Loài tảo này do tiến
sĩ Clement người Pháp tình cờ phát hiện vào những năm 1960 khi đến hồ Tchad ở
Trung Phi. Tên Spirulina do gốc từ Latin và Anh ngữ “Spiral”, có nghĩa là “xoắn”.
Trong các hồ tảo sống tự nhiên hay nhân tạo, với mắt thường đó là một hồ nước
xanh lục hay xanh lam tuyệt đẹp dưới ánh nắng mặt trời.Nó là một loại thần dược
điều trị bệnh suy dinh dưỡng và một số bệnh khác. Mỗi năm có khoảng 3.000 tấn
tảo được xuất khẩu, nước tiêu thụ mạnh nhất là đại lục Trung Hoa (chiếm một
nửa), tiếp theo là Mỹ. Ngày nay, tảo Spirulina đã được nuôi trồng nhiều trên các
nước như: Hoa Kỳ, Thái Lan, Ấn Độ, Nhật, Hồng Kông và Việt Nam. Ở Việt Nam
tảo Spirulina được đưa vào từ 1985. Trong những năm 1985-1995 đã có những
nghiên cứu thuộc lĩnh vực công nghệ sinh học cấp nhà nước như nghiên cứu của
GS.TS. Nguyễn Hữu Thước và cộng sự (Viện Công nghệ Sinh học thuộc Viện
Khoa học và Công nghệ Việt Nam) với đề tài "Công nghiệp nuôi trồng và sử dụng
tảo Spirulina". Hay đề tài cấp thành phố của Bác sĩ Nguyễn Thị Kim Hưng (TP Hồ
Chí Minh) và cộng sự với đề tài "Nghiên cứu sản xuất và sử dụng thức ăn có tảo
Spirulina trong dinh dưỡng điều trị" Dương Thị Hoàng Oanh, Vũ Ngọc Út và
Nguyễn Thị Kim Liên, 2011. Nghiên cứu khả năng xử lý nước thải của tảo
Spirulina platensis (Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Thủy sản lần IV. Trường Đại học
Cần Thơ),…
Spirulina là một loài vi tảo có dạng xoắn hình lò so, màu xanh lam với kích
thước chỉ khoảng 0,25 mm, chỉ được nhìn thấy dưới kính hiển vi, chúng có dạng
xoắn như lò xo nên đôi khi còn được gọi là tảo xoắn, dài khoảng ¼ nanomet.
Spirulina là một dạng tảo đa bào, được nuôi trồng trong môi trường nước lợ, ấm,
chứa kiềm, trong tự nhiên chúng sống trong các ao hồ, suối khoáng ấm áp. Chúng
sống trong môi trường giàu bicarbonat (HCO
3
-
và độ kiềm cao (pH từ 8,5 -9,5),.
Tên gọi Spirulina do nhà tảo học Deurben (người Đức) đặt năm 1927, dựa trên

kinh tế trên đầm phá đã và đang dẫn đến những hệ quả xấu, làm biến đổi chất
lượng nước, suy thoái tài nguyên thủy sinh vật và giảm đáng kể tính đa dạng sinh
học của hệ đầm phá. Vì lợi nhuận, nuôi tôm đã phát triểu đột biến, tập trung ở vùng
hạ triều các vùng đất ngập nước ven biển, trong đó có đầm phá Tam Giang – Cầu
Hai. Những lợi ích kinh tế, xã hội to lớn do nuôi tôm đem lại trong những năm đầu
tiên đã dần dần nhường chỗ cho những vấn đề nan giải về mặt môi trường, kéo
theo các vấn đề xã hội và kinh tế.
Hiện trạng khai thác, nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam, nêu lên những thành
tựu. Ngành thủy sản đã đạt được trong vài năm trở lại đây. Hàng thủy sản xuất
khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc tăng thu nhập cho đất nước. Trong những
năm tới, do nhu cầu mặt hàng thủy sản trên thế giới tăng cao, thị trường được mở
rộng thì. Ngành khai thác, nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam rất có tiềm năng phát
triển. Bên cạnh đó, vấn đề môi trường NTTS cũng rất đáng được quan tâm giải
quyết. Nghiên cứu này đề xuất giải pháp hạn chế các tác tộng của ngành khai thác,
nuôi trồng thủy sản đến môi trường và ngược lại. Trong phương pháp xử lý sinh
học thì phương pháp lọc sinh học đáp ứng hầu hết các yêu cầu làm sạch nước thải
nuôi trồng thủy sản (nước sau khi xử lý được tuần hoàn lại để nuôi trồng thủy sản).
Việc sử dụng phương pháp lọc sinh học hiếu khí có nhiều ưu thế xét về cả phương
diện kinh tế lẫn môi trường, vì quy mô các đầm ao NTTS không lớn, lọc sinh học
không cần nhiều diện tích xây dụng hệ thống xử lý nước thải như các hồ sinh học
và các hệ thống đất ngập nước, chất thải ra không có nồng độ ô nhiễm quá cao, nên
việc sử dụng các bể aeroten và bể mêta trong giai đoạn hiện nay là quá tốn kém và
không hợp lý. Nên sử dụng nguồn VSV tảo Spirulina với lợi thế về mặt thoáng
rộng, nguồn hữu cơ dồi dào do các con sông đổ về, khí CO
2
do nuôi trồng thủy hải
sản tạo ra. Và đặt biện nước ở đây có dộ kiềm thích hợp pH~ 8. Vì vậy lợi dụng về
mặt nay sẽ mang lại lợi nhuận kinh tế trong nền thủy hảo sản, và ít gây hại đến môi
trường.
Các hoạt động kinh tế của người dân quanh khu vực chủ yếu là nông nghiệp,

nghiệp hóa, đô thị hóa làm số lượng chất thải tăng lên không ngừng dẫn đến chức
năng này ở nhiều nơi, nhiều chổ trở nên quá tải, gây ô nhiễm môi trường. Khả
năng tiếp nhận và phân hủy chất thải trong một khu vực nhất định được gọi là khả
năng đệm của khu vực đó. Khi lượng chất thải lớn hơn khả năng đệm, hoặc thành
phần chất thải có nhiều chất độc, vi sinh vật gặp nhiều khó khăn trong quá trình
phân hủy thì chất lượng môi trường sẽ giảm và môi trường có thể bị ô nhiễm.
Tác động của hoạt động phát triển đến môi trường thể hiện ở khía cạnh
có lợi là tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo đó.
Mặt khác, môi trường tự nhiên đồng thời cũng tác động đến sự phát triển kinh tế -
xã hội thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên là đối tượng của hoạt động
phát triển hoặc gây ra thảm họa, thiên tai đối với các hoạt động kinh tế xã hội trong
khu vực.
Trong phạm vi một quốc gia, cũng như xét trên toàn thế giới, luôn luôn song
song tồn tại hai hệ thống kinh tế - xã hội và môi trường. Hệ thống kinh tế - xã hội
cấu thành bởi sản xuất, lưu thông phân phối, tiêu dùng, và tích lũy, tạo nên một
dòng nguyên liệu, năng lượng, chế phẩm hàng hóa, phế thải,… gây ra ô nhiễm môi
trường. Cần có sự phát triển một cách bền vững giữa môi trường và tự nhiên được
hòa hợp với nhau.
Nước là một hợp chất đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc điều hòa khí
hậu và cho sự sống của Trái Đất. Nước lá dung môi lý tưởng để hòa tan, phân bố
chất vô cơ, hữu cơ, làm nguồn dinh dưỡng cho thủy sinh vật, thực vật trên cạn, và
cả con người.
Nước thải là nước đã qua sử dụng vào các mục đích như sinh hoạt, dịch vụ,
tưới tiêu, thủy lợi, chế biến công nghiệp, chăn nuôi,… Dựa vào các nguồn gốc
nước thải ta sẽ phân loại ra và hiểu rõ đễ có hường giải quyết dễ dàng hơn.
Và việc góp phần cho sự suy thoái làm ô nhiễm môi trường đó ta hãy tìm hiểu
về nước thải được thải ra môi trường có ảnh hướng như thế nào:
- Nước thải sinh hoạt: là nước thải từ các khu vực dân cư bao gồm nước sau
khi sử dụng từ các hộ gia đình, bệnh viện khách sạn, trường học cơ quan, khu vui
chơi gải trí. Đặc trưng của nước thải sinh hoạt thường chứa các chất hữu cơ dễ

- Các chất có mùi hoặc màu;
- Các chất rắn;
- Các chất phóng xạ;
- Các vi sinh vật
Dựa vào các đặc điểm dễ hay khó bị phân hủy bởi vi sinh vật có trong nước
thải mà các chất hữu cơ gây ô nhiễm nước thải có thể chia thành 2 loại:
- Các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học: nhóm các chất hữu cơ dễ bị phân
hủy gồm các chất protein, cacbonhydrat, các chất béo có nguồn gốc động vật và
thực vật. Các chất gây ô nhiễm này thường có trong nước thải sinh hoạt, nước thải
từ các xí nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm, thủy sản…. Trong thành phần các
chất hữu cơ từ nước thải ở các khu dân cư có khoảng 40-60% protein, 25-50%
cacbonhydrat, 10% chất béo. Các hợp chất này chủ yếu làm suy giảm oxy hòa tan
trong nước dẫn đến suy thoái tài nguyên thủy sản và làm giảm chất lượng nước cấp
sinh hoạt. Trong thực tế, người ta thường áp dụng các biện pháp sinh học đễ xử lý
nước thải bị ô nhiễm bởi các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học.
- Các chất hữu cơ khó bị phân hủy sinh học: Nhóm các chất hữu cơ khó bị
phân hủy sinh học gồm các chất thuộc dạng chất hữu cơ có vòng thơm
(cacbuahydro của dầu khí), các chất đa vòng ngưng tụ, các hợp chất clo hữu cơ,
photpho hữu cơ. Trong đó, có nhiều chất là các chất hữu cơ tổng hợp và có độc
tính cao đối với con người và động thực vật. Hàng năm, trên thế giới có khoảng 60
triệu tấn các chất hữu cơ tổng hợp khó phân hủy sinh học được sản xuất trên thế
giới như các chất màu, chất hóa dẻo, thuốc trừ sâu…. Trong tự nhiên, các chất hữu
cơ khó bị phân hủy sinh học khá bền vững, có khả năng tích lũy và lưu giữ lâu dài
trong môi trường và cơ thể sinh vật, làm ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái và sức
khỏe con người. Các chất này thường có trong nước thải công nghiệp và nguồn
nước ở các vùng nông, lâm , ngư nghiệp sử dụng nhiều thuốc trừ sâu, thuốc kích
thích sinh trưởng cây trồng, các chất làm rụng lá, thuốc diệt cỏ, thức ăn trong thủy
sản,…
Trong quá trình phát triển của nền nông nghiệp, công nghiệp, ngư nghiệp hiện
đại cùng với sự bùng nổ dân số cũng như tốc độ đô thị hóa như vũ bão dẫn tới việc

một cách thỏa đáng với những tiềm năng vốn có của nó nên không đạt được kết
quả tốt.
Ngày nay, để đáp ứng nhu cầu về nguyên vật liệu cũng như nguồn thực phẩm
cho con người, hàng loạt các ngành công nghiệp, nông nghiệp, nuôi trồng và chế
biến thủy sản,… đã phát triển một cách nhanh chóng. Trong đó, ngành nuôi trồng
và chế biến thủy sản đang phát triển rất mạnh ở các đầm phá và đã có những đóng
góp quan trọng trong tăng trưởng kinh tế của vùng đi kèm theo sự phát triển du
lịch. Các loài thủy sản như: cá, tôm,… được nuôi thâm canh. Nước thải nuôi chứa
hàm lượng chất dinh dưỡng cao (NH4, P, K, Ca, Mg) và có khả năng gây phú
dưỡng hóa nguồn nước ở các vùng lân cận. Nước thải được thải ra môi trường
không đúng quy cách, không xử lý và tích tụ lâu ngày sẽ là một gánh năng to lớn
với môi trường. Vấn đề đặt ra là phải tìm những biện pháp xử lý nguồn nước thải
này một cách có hiệu quả nhất. Cũng như cách dễ dàng hấp thụ được các thành
phần được thải ra. Bên cạnh các phương pháp xử lý: lý học, hóa học, thì phương
pháp sinh học là biện pháp có chi phí xử lý thấp, đạt hiệu quả cao và cải thiện được
môi trường như việc nghiên cứu sử dụng tảo Spirulina platensis có thể phát triển
tốt trong các nguồn nước thải ao nuôi tôm, nước thải biogas và nước thải sinh hoạt,
tảo phát triển với mật độ cao nhất và làm giảm các yếu tố dinh dưỡng trong nước
thải sinh hoạt một cách có hiệu quả.
Trong những thập niên gần đây cùng với sự nổi bật của tảo Spirulina về vấn
đề xử lý nước thải và thu sinh khối, tảo Spirulina cũng đang được sự quan tâm
nghiên cứu bởi các nhà khoa học. Một số đề tài nghiên cứu sử dụng tảo spirulina
để xử lý nước thải từ hầm ủ Biogas và những công trình nuôi Spirulina để thu sinh
khối với kỹ thuật nuôi đơn giản và ít tốn kém đã được thực hiện rất thành công. Vì
Spirulina là loài tảo giàu protein, vitamin (A, C, B2, B6,…) và các khoáng chất (P,
Ca, Zn, I, Mg, Fe, Cu,…) nên được dùng làm thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm
phục vụ cho con người (Trần Đình Toại và Châu Văn Minh, 2005). Để góp phần
thúc đẩy thế mạnh của tảo Spirulina ở nhiều lĩnh vực khác, đặc biệt là đưa ứng
dụng tảo Spirulina vào vùng có nhiều thuận lợi như phá Tam Giang.
Tảo xoắn là một loại vi tảo dạng sợi xoắn màu xanh lục, chỉ có thể quan sát

dựng trang trại nuôi trồng Spirulina đầu tiên tại Mỹ. Cho đến nay đây là trang trại
nuôi trồng Spirulina lớn nhất thế giới.
Không chỉ được biết đến như một nguồn thực phẩm chức năng trên thế giới,
khả năng xử lý môi trường của tảo lam Spirulina đã đước nghiên cứu tại nhiều
nước. Năm 2000, tại Malaysia Spirulina được ứng dụng trong xử lý nước thải từ
nhà máy sãn xuất dầu cọ. Năm 2003, tại Thái Lan, khả năng làm sạch nước thải ao
nuôi tôm của Spirulina cũng đã được chứng minh. Tại Nhật Bản, cùng với chủng vi
khuẩn tía Rhodobacter sphaeroides và cùng một chủng Chlorella sorokiniana, tảo
lam Spirulina cũng được nghiên cứu để ứng dụng trong xử lý nước thải giàu hàm
lượng chất hữu cơ. Năm 2010, Spirulina cũng được các nhà khoa học Tây Ban Nha
chứng minh có khả năng xử lý nước thải ô nhiễm nitơ và photpho một cách có hiệu
quả.
Ngoài ra, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về khả năng sử dụng tảo lam
Spirulina loại bỏ một số kim loại nặng trong nước thải. Năm 2006, công trình
nghiên cứu tại trường Đại học Goana, Italia về khả năng của tảo lam Spirulina
trong việc loại bỏ đồng trong nước thải cũng đã được công bố. Năm 2007, Trường
Đại học Iowa, Mỹ cũng đã công bố khả năng hấp thụ thủy ngân của chủng
Spirulina platensis. Spirulina cũng được chúng minh có hiệu suất hấp thụ rất tốt.
2.1.2 Tình hình nghiên cứu tảo Spirulina tại Việt Nam
Từ cuối những năm 1970, tảo Spirulina được sản xuất đại trà ở một số nước
như Mỹ, Nhật Bản, Mêhicô, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái lan, Đài Loan, Cuba và Việt
Nam.
Ở nước ta, tảo Spirulina được nhập nội Pháp năm 1972. Nó đã trở thành một
đối tượng nghiên cứu sinh lý, sinh hóa, tại Viện sinh vật học (nay là viện công
nghệ sinh học) do cố Giáo sư Nguyễn Hữu Thước chủ trì. Những nghiên cứu về tác
động của ánh sáng, nhiệt độ, pH đã cho phép đẩy nhanh quá trình thích ứng của tảo
này đối với điều kiện Việt Nam. Một môi trường dinh dưỡng rẻ tiền, thích hợp cho
tảo này cũng đã được đưa ra dựa trên những nghiên cứu về tác động của các
nguyên tố khoáng lên sinh trưởng và quang hợp của tảo Spirulina. Sử dụng các môi
trường này tảo Spirulina đã được đưa vào nuôi trồng thử nghiệm đại trà tại Hà Nội,

nghiên cứu. Các kết quả nghiên cứu cho thấy các điều kiện nêu trên đã ảnh hưởng
rất rỏ rệt đến tốc độ quang hợp, sinh trưởng cũng như hàm lượng sắc tố của tảo
Spirulina. Các nguồn phế thải hữu cơ như rỉ đường, nước thải ươm tơ, phế thải
công nghiệp rượu bia cũng đã được thử nghiệm để nuôi sinh khối tảo này. Hướng
nghiên cứu này có triển vọng rất to lớn vì vừa đảm bảo làm sạch môi trường vừa
hạ giá thành sản phẩm, đồng thời rất có ý nghĩa về mặt sinh thái môi trường. Tất
nhiên, vấn đề về kỹ thuật và công nghệ của hướng nghiên cứu này cần được tiếp
tục nghiên cứu.
Ngoài ra, hoạt tính sinh lý của tảo Spirulina lên sinh trưởng của lúa ở giai
đoạn nảy mầm, lên sự ra rể của cành dâm Đậu xanh và Đậu cô ve cũng đã được
nghiên cứu. Nghiến cứu dịch phycoxianin từ tảo Spirulina và ứng dụng của nó trên
chuột thuần chủng để hạn chế sự phát triển tế bào ung thư của mô liên kết 180
khoảng 70-80% đã được công bố.
Ứng dụng của vi tảo trong sản xuất thức ăn cho ấu trùng một số loài tôm cũng
đã được nghiên cứu với chất lượng luôn ổn định, giá thành của chế phẩm có thể
chấp nhận được.
Triển vọng sử dụng nước biển và lợ cho nuôi trồng đại trà Spirulina ở nước ta
trong tương lai cũng đã được đề cập thông qua các nghiên cứu sử dụng nguồn nước
biển để nuôi trồng tảo này cũng như ảnh hưởng của các nồng độ NaCl khác nhau
lên các đặc điểm sinh lí, sinh hóa của tảo lam Spirulina cũng đã được tiến hành
nghiên cứu. Nghiên cứu các phương pháp chuyển đổi gen trên đối tượng tảo
Spirulina để tiến tới áp dụng thành công kỹ thuật AND tái tổ hợp trong việc tạo ra
được các chủng tảo lam có những đặc tính mong muốn cũng đã được công bố.
Sinh khối của tảo lam Spirulina không chỉ được nghiên cứu để tách chiết các
chất có hoạt tính sinh học có giá trị dinh dưỡng làm thực phẩm chức năng cho con
người và động vật mà vai trò quan trọng trong xử lý môi trường của tảo lam
Spirulina cũng đã được đi sâu nghiên cứu. Tảo lam Spirulina đã được sử dụng
trong xử lý nước thải giàu amoni từ một số nguồn phân hóa hóa học trong trồng
trọt ở Việt Nam để giảm thiểu ô nhiễm môi trường và giảm giá thành sản phẩm từ
Spirulina. Ngoài ra, các thử nghiệm nuôi trồng tảo này bằng nguồn nước thải ươm

, độ pH, vớ mặt thoáng
rộng lớn…
Tổ chức Y tế thế giới (WHO/OMS) công nhận tảo Spirulina là thực phẩm bảo
vệ sức khỏe tốt nhất của loài người trong thế kỉ 21. Cơ quan quản lí thực phẩm và
dược phẩm Hoa Kì (FDA) công nhận nó là một trong những nguồn protein tốt
nhất…
Trong khi đó ở khu vực phía Bắc và Nam đã được nghiên cứu nhiều và đưa
vào trồng và sản xuất với số lượng lớn nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường. Thì
khu vực miền trung lại bị bõ ngõ. Với nguồn nước mặn, lợ dồi dào, ít bị ô nhiễm,
điều kiện tự nhiên thích hợp. Áp dụng nuôi trồng tảo Spirulina để cải thiện nguồn
kinh tế rất có khả năng cao.Và lợi ích mang lại thì rất thân thiện với môi trường. Ở
nhiều nước đã có sự phát triễn rõ rệt về nghiên cứu của loài tỏa xoắn Sppirulina
này:
- Vào những năm 1990, Tổ chức nhân đạo Antenna ở Thuỵ Sĩ đã đưa ra một ý
tưởng mới, đó là dùng tảo spirulina để chống đói nghèo ở những nước kém và
đang phát triển. Và họ đã thành công.
- Điều trị bệnh suy dinh dưỡng do trong tảo Spirulina có từ 56 – 77% khối
lượng là protein. Công ty thực phẩm Đồng Tâm dùng tảo làm nguyên liệu chính để
sản xuất sữa bột dinh dưỡng cho trẻ em.
- Tại Mỹ người ta chiết xuất loại tảo này làm dược phẩm để phá huỷ các lớp
mỡ, căn bệnh của những người giàu. Nhiều vận động viên thể thao đã coi loại tảo
này là siêu thực phẩm để tăng cường sinh lực và làm săn chắc cơ bắp, đặc biệt là
các vận động viên thể hình.
- Tảo spurilina còn là thực đơn chữa béo phì vô cùng hiệu quả. Công ty dược
phẩm Equilibre Attitude của Pháp đã tăng gấp đôi doanh thu bán ra nhờ chế biến
loại tảo này thành tân dược chống béo phì.
- Các nhà khoa học tuyên bố rằng tảo spurilina còn có thể được sử dụng để
chế tạo thành thuốc chống căn bệnh thế kỉ AIDS và tăng cường sức đề kháng cho
bệnh nhân nhiễm HIV.
- Hai trường ĐH danh tiếng Harvard và Boston của Mỹ đang nhân giống tảo

- Đề xuất giải pháp kỹ thuật gây trồng phát triển loài tảo xoắn cho vùng đầm
phá ở tỉnh Thừa Thiên Huế.
3.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Đối tượng
Loài tảo xoắn vá điều kiện môi trường ở phá Tam Giang, tỉnh Thừa Thiên Huế
3.2.2. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Từ 02/01/2014- 06/05/2014
- Địa bàn thực hiện: phá Tam Giang – Cầu Hai – Huế
- Điều kiện môi trường:
+ Môi tường kiềm tính (muối natri cacbonat và pH cao)
+ Nhiệt độ nước
+ Ánh sáng
+ Các chất dinh dưỡng cần thiết: phốt pho, nitơ, sắt, cùng với các khoáng chất
khác( Fe, Cu, )
3.2.3. Nội dung nghiên cứu
3.2.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghên cứu
a) Điều kiện tự nhiên:
- Vị trí địa lý;
- Địa hình;
- Khí hậu, thủy văn;
b) Điều kiện kinh tế - xã hội
- Tình hình kinh tế;
- Tình hình xã hội;
3.2.3.2 Tìm hiểu tảo Spirulina
- Giới thiệu tảo spirulina
- Vị trí phân loại, tên gọi
- Đặc điểm sinh lý
- Đặc điểm sinh trưởng và sinh sản
- Đặc điểm sinh hóa
- Đặc điểm dinh dưỡng

- Chuẩn bị vật liệu nghiên cứu
- Các bươc thực hiện thí ghiệm
3.2.3.5. Đánh giá sinh trưởng phát triển tảo xoắn ở phá Tam Giang
Bản chất của tảo xoắn là sống ở mọi môi trường nước. Gây trồng tảo xoắn
chủ yếu mục đích kinh tế. Dựa vào các số liệu chuẩn trong nuôi trồng để xác định
chất lượng tảo sản xuất ra.
3.2.3.6. Đề xuất các giải pháp gây trồng phát triển loài tảo xoắn ở phá Tam
Giang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Giải pháp về kỹ thuật
- Giải pháp về vốn
- Giải pháp về xã hội
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Quan điểm và cách tiếp cận đề tài
Việc phát triển khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản phải phù hợp với quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của ngành và cả nước, phù hợp với xu thế
hội nhập kinh tế khu vực cũng như thế giới. Trong khi đó, phát triển khai thác thủy
sản phải kết hợp hài hòa lợi ích của các ngành kinh tế khác và của địa phương.
Khai thác phải đi đôi với bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, bảo vệ môi
trường sinh thái trên nguyên tắc phát triển bền vững. Nên đề tài sẽ xem xét bước
đầu nghiên cứu điều kiện môi trường sinh trường của tảo xoắn ở phá Tam Giang –
câu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế.
2.4.2. Phương pháp tổng quát
- Thu thập số liệu thứ cấp từ các báo cáo khoa học, báo cáo đánh giá, báo cáo
tổng kết của các cơ quan nghiên cứu, cơ quan quản lý chuyên nghành có liên quan.
- Dựa trên số liệu ở 2 môi trường xem xét tương đồng sinh cảnh
- Đánh giá sự phù hợp điều kiện sống của tảo xoắn ở phá Tam Giang.
2.4.3. Phương pháp cụ thể
2.4.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghên cứu
Thu thập từ các thông tin thứ cấp đã đước cập nhật như:
- Số liệu: kinh tế chung của năm

4
)
2
HPO
4
- Các chất khoáng: Photpho, K
+
, Na
+
, Mg
+
,
Ca
2+
, Fe, Cl….
2.4.3.3. Kỹ thuật nuôi trồng thử nghiệm
a) Vật liệu thí nghiệm
Đối tượng nghiên cứu là tảo Spirulina. Giống nuôi cấy có sẵn.
Nguồn nước trước tiên được để lắng cặn trong một ngày.
Tiếp tục được xử lý bằng Chlorine trong 2 ngày khử trùng nhằm diệt hay bất
hoạt các vi sinh vật trong nước. Vì các vi sinh vật này phổ biến dùng chlorine để
xử lý nước nuôi thủy sản, nuôi thâm canh.
Sau đó đem phơi nắng 1 ngày để diệt hay lam bất hoạt các vi khuẩn, vi rút rất
nhạy cảm với tác động của bức xạ tia cực tím (bước sóng 320-400 nm) nên cấu
trúc ADN trong tế bào của chúng bị phá vỡ. Chỉ một số ít các động vật đơn bào
(protozoa) và ký sinh trùng là không bị tiêu diệt toàn bộ mà chuyển thành dạng bào
tử.
Tiếp tục tảo được thí nghiệm trong các lọ thủy tinh có dung tích 500ml môi
trường nước là đầm phá phá Tam Giang.
a) Bố trí thí nghiệm

Loài tảo xoắn sống rất dễ. Dù là môi trường nước bị ô nhiễm, thì loài tảo này cũng
hấp thụ, củng như khả năng xử ý nước thải của tảo xoắn. Nhưng ta xét về mặt nuôi
lấy kinh tế nên sẽ dựa vào những nghiên cứu của các nhà khoa học.
Phương pháp so sánh tương đồng hoàn cảnh sinh thái của 2 môi trường từ các số
liệu:
- Điều kiện môi trường nước ở phá Tam Giang – Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Điều kiện môi trường trong sản xuất tảo lấy kinh tế trong môi trường chuẩn
Phần IV
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Tình hình cơ bản của khu vực nghiên cứu
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý, địa hình
Huyện Phú Lộc được giới hạn trong tọa độ địa lý từ 16
0
10’32’’ đến 16
0
24’45’’
vĩ độ Bắc và 107
0
19’05’’ đến 108
0
12’55’’ kinh độ Đông.
Ranh giới hành chính của huyện được xác định:
- Phía Bắc giáp thị xã Hương Thủy và huyện Phú Vang
- Phía Nam giáp thành phố Đà Nẵng
- Phía Đông giáp biển Đông
- Phía Tây giáp huyện Nam Đông
Huyện Phú Lộc có hệ thống đầm phá rộng lớn và bờ biển dài 60 km với nhiều
eo vịnh là nơi có nguồn lợi thủy sản tự nhiên phong phú. Vì vậy, vùng đầm phá ven
biển là nơi tập trung đung đúc cư dân sinh sống có từ lâu đời của huyện.

+ Nhiệt độ cao tuyệt đối: đồng bằng 44
0
C, miền núi 43
0
C
+ Nhiệt độ thấp tuyệt đối: đồng bằng 8,8
0
C, miền núi 11,2
0
C
+ Tháng có nhiệt độ cao: tháng 6 - 7 nhiệt độ từ 39 – 44
0
C
+ Tháng có nhiệt độ thấp: tháng 1 - 2 nhiệt độ từ 8,8 – 11
0
C
- Mưa:
+ Số ngày mưa trung bình trong năm: đồng bằng 164 ngày; miền núi 203 ngày.
+ Lượng mưa bình quân năm: đồng bằng 2.884 mm; miền núi 2.807 mm.
Mưa biến động thất thường qua các năm về lượng và thời gian, trung bình từ
1.900 - 3.200 mm/năm.
- Lượng bốc hơi bình quân 28,8 mm/năm
- Độ ẩm không khí:
+ Độ ẩm cao nhất là tháng 2 (98,2%)
+ Độ ẩm thấp nhất là tháng 7 (47,6%)
- Gió: các hướng gió chính là gió Đông nam, Tây nam, Tây bắc, Đông bắc
+ Gió Đông nam, Tây nam xuất hiện vào tháng 4 đến tháng 9
+ Gió Tây bắc, Đông bắc xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 3, thường có bão vào
tháng 9, 10, 11.
Phú Lộc chịu ảnh hưởng sâu sắc của khí hậu vùng Bắc Trung bộ: bão với tần

là điều kiện thuận lợi để huyện phát triển nuôi trồng thủy sản. Vùng đất nhiễm mặn
ven phá để phát triển nuôi trồng thủy sản cao triều; vùng đất nội đồng sâu trũng,
đất trồng lúa kém hiệu quả sang phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt.
4.1.1.6. Tài nguyên nước
Tài nguyên nước rất đa dạng và phong phú bao gồm nước mặn vùng biển,
nước lợ vùng đầm phá và nước ngọt vùng sông, suối, nội đồng thuận lợi cho việc
phát triển nuôi trồng thủy sản với nhiều đối tượng và hình thức đa dạng.
4.1.1.7. Môi trường và nguồn lợi thủy sản
Phú Lộc có hệ đầm phá Cầu Hai - Lăng Cô rộng lớn, với hơn 11.000 ha đất
mặt nước chuyên dùng và có khoảng hơn 1200 ha diện tích mặt nước là có tiềm
năng phát triển nuôi trồng thủy sản. Với diện tích mặt nước rộng lớn có nguồn lợi
thủy sản đa dạng và phong phú, trong đó nhiều loài có giá trị kinh tế cao như: tôm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status