MỤC LỤC
MỤC LỤC.............................................................................................................................1
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ.......................................................................................................3
1.1.Tính cấp thiết của đề tài..................................................................................................3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu........................................................................................................4
PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU....................................................5
2.1 Hiện trạng kinh tế vùng đầm phá....................................................................................5
2.2 Dân cư, lao động ven biển, ven phá................................................................................7
2.3 Xu thế chuyển dịch lao động đầm phá..........................................................................11
2.4 Đặc điểm khí hậu vùng đầm phá...................................................................................13
2.5 Đặc điểm tài nguyên, môi trường đầm phá...................................................................14
PHẦN 3.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU....................18
3.1. Đối tượng nghiên cứu...................................................................................................18
3.2. Nội dung nghiên cứu....................................................................................................18
3.3. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................................18
3.3.1. Vùng nghiên cứu.......................................................................................................18
3.3.2. Chọn mẫu..................................................................................................................19
3.3.3. Phương pháp thu thập thông tin................................................................................19
3.3.4. Phân tích số liệu........................................................................................................19
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN..................................................20
4.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu.................................................................20
4.1.1.Thực trạng phát triển kinh tế......................................................................................20
4.1.2 Thực trạng dân số và lao động...................................................................................22
4.2 Đặc điểm kinh tế xã hội các hộ nghiên cứu..................................................................24
4.3 Phân công lao động năm 2009 .....................................................................................28
4.3.1 Phương pháp phân loại nghề......................................................................................28
4.3.2 Phân công lao động theo độ tuổi năm 2009...............................................................30
4.4. Chuyển đổi nghề 2006-2009........................................................................................31
4.4.1 Phân loại lao động theo loại hình chuyển đổi............................................................31
4.4.2 Chuyển đổi nghề theo nhóm tuổi...............................................................................34
4.5 Phân loại hộ chuyển đổi................................................................................................36
Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Phú Lộc với tổng diện tích
tự nhiên 93.490 ha, chiếm 18,5% diện tích tự nhiên toàn tỉnh và dân số là
320.141 người, chiếm 30,01% dân số Thừa Thiên Huế. Đây là vùng có nhiều
tiềm năng cho phép phát triển thành một vùng kinh tế trọng điểm với nhiều
ngành kinh tế của Thừa Thiên Huế. Tuy vậy, vùng này vẫn còn rất nhiều khó
khăn; cơ sở vật chất nghèo nàn, năng suất lao động thấp; sản xuất hàng hóa và
xuất khẩu chưa đáng kể; chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn chậm,
hiệu quả thấp; vấn đề phát triển bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái vẫn
còn nhiều bất cập [6].
Khả năng tạo việc làm ở khu vực này hàng năm là hạn hẹp. Hơn nữa,
trong những năm qua, quá trình cơ cấu lại khu vực kinh tế nhà nước nói
chung và sắp xếp các doanh nghiệp nói riêng có tác động mạnh đến sự gia
tăng lao động dôi dư trong nền kinh tế, việc sắp xếp lại lao động, tinh giảm
biên chế đã làm cho nhiều lao động phải đi tìm việc ở khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh, trong đó một số lao động chuyển về nông thôn tìm kiếm việc làm
từ sản xuất nông nghiệp. Phần lớn những lao động này chỉ làm những công
việc tạm thời, hoặc làm thuê, công việc không ổn định, làm cho nhu cầu việc
làm ở nông thôn càng tăng lên. Việc làm phụ thuộc chủ yếu vào đất đai canh
tác, diện tích đất nông nghiệp tính bình quân mỗi hộ thấp. Những năm gần
đây tình trạng nông nhàn trở thành vấn đề nổi cộm, đó là một trong những
nguyên nhân đầu tiên dẫn đến di chuyển lao động nông thôn mang tính thời
vụ, tìm kiếm thêm việc làm, tăng thu nhập, mang đầy tính rủi ro và bất ổn
[10].
Những năm gần đây, nhờ chủ động thay đổi tập quán sản xuất, cũng
như việc đa dạng hoá ngành nghề trong sản xuất kinh doanh theo hướngg
Nông nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Dịch vụ, nhờ đó mà đời sống cư dân
3
2.1 Hiện trạng kinh tế vùng đầm phá
Trong những năm gần đây cùng với sự chuyển dịch của nền kinh tế thị
trường trong phạm vi toàn tỉnh, nền kinh tế của khu vực đầm phá Tam Giang
– Cầu Hai đã từng bước được tổ chức, sắp xếp lại sản xuất nên đã có những
chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng tích cực. Xu hướng của sự dịch chuyển này
là tăng dần tỷ trọng các ngành ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng cơ bản và
dịch vụ đồng thời giảm tỷ trọng các ngành nông, lâm và tiếp tục chuyển đổi
cơ cấu nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nhiều nguồn tài nguyên và tiềm năng mới nhất là tiềm năng thủy hải sản
được nghiên cứu sử dụng. Hàng loạt các cơ sở hạ tầng như bến cảng, khu nuôi
trồng thủy sản, chế biến...đã được đưa vào hoạt động nhằm duy trì và phát
huy thế mạnh của vùng. Ngoài ra các ngành tiểu thủ công truyền thống cũng
được chú ý phát triển và đóng góp một phần đáng kể vào ngân sách các địa
phương.
Kinh tế nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo với cây lúa, một số xã có
thêm trồng rừng phòng hộ, chắn gió, chắn cát....Nghề nuôi trồng thủy hải sản
rất có triển vọng, đặc biệt là nghề nuôi tôm [5].
Nuôi trồng thủy sản
Nuôi trồng thủy sản là một hoạt động kinh tế cơ bản và là phương sách
giảm nghèo. Nuôi trồng thủy sản phát triển một cách tự phát và thiếu quy
hoạch trong những năm gần đây đã gây ra nhiều vấn đề, cản trở sự lớn mạnh
của ngành thủy sản. Hơn 73% người dân nuôi trồng thủy sản tham gia nuôi
tôm chủ yếu là quảng canh cải tiến và bán thâm canh. Người dân còn triển
khai nuôi cá nước ngọt, nước lợ và mặn trong lồng và nò sáo; trong khi đó,
loài thân mềm được nuôi từ khi còn nhỏ.
Giống tôm có thể mua từ trong hoặc ngoài tỉnh nhưng chất lượng vẫn
còn là vấn đề nan giải. Giống cá biển chủ yếu đánh bắt từ tự nhiên. Nguồn
giống cá nước ngọt phải đi mua từ xa và chất lượng kém. Kĩ thuật nông dân
hạn chế, dịch bệnh tôm bùng nổ mỗi năm, ảnh hưởng đến hơn 90% ngư dân.
Mất mùa liên tục khiến cho người nông dân rơi vào cảnh nợ nần. Dịch vụ
vững nguồn lợi đầm phá dựa vào nguyên tắc đồng quản lý. Cho đến tháng 2
năm 2008 hiệp hội nghề cá cấp tỉnh đã thành lập 28 chi hội nghề cá ở cơ sở
[1].
Lĩnh vực nông-lâm nghiệp
Nông lâm nghiệp hay nói rõ hơn là nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn
nuôi được xem là nguồn sinh kế ổn định cho cộng đồng ngư dân ven đầm phá
Thừa Thiên Huế và quan trọng đối với kinh tế tỉnh nhà. Điều quan trọng là
6
phải tối đa hóa hiệu quả mà ngành kinh tế này mang lại cho người dân địa
phương. Trong lúc nông nghiệp được xem là hoạt động sinh tồn thì nuôi trồng
thủy sản là mũi nhọn kinh tế, vì thế nhiều diện tích nông nghiệp đã được
chuyển thành diện tích nuôi trồng thủy sản. Lúa vẫn là cây nông nghiệp chính
mặc dù chi phí đầu vào tăng lên đáng kể trong khi đó giá bán ra
không cao. Lượng chất thải dinh dưỡng, BOD (nhu cầu lượng oxi sinh
học) và thuốc trừ sâu từ nông nghiệp và chất thải vật nuôi là nguồn gây ô
nhiễm nghiêm trọng nguồn nước đầm phá. Hệ thống thủy lợi cần được nâng
cấp và đẩy mạnh ngăn ngừa xâm nhập mặn. Hoạt động lâm nghiệp hạn chế do
diện tích lâm nghiệp chỉ tập trung chủ yếu vùng cuối đầm phá thuộc huyện
Phú Lộc [1].
Lĩnh vực phi nông nghiệp
Nhìn chung ngành công nghiệp ở khu vực ven phá phát triển chưa
tương xứng với tiềm năng của nó. Các hoạt động dịch vụ thương nghiệp ở đây
có tham gia vào quá trình phát triển kinh tế nhưng chưa phát huy hết vai trò
của nó trong nền kinh tế của vùng. Do tình trạng kinh tế ở đây còn thấp kém,
các ngành công nghiệp, thương nghiệp, tín dụng ngân hàng chưa đủ mạnh để
giữ vững và phát huy hết vai trò của nó trong quá trình chuyển đổi cơ cấu
kinh tế. Ngành du lịch vẫn mang tính tự phát. Các hoạt động du lịch mới chỉ
giữa các khu vực. Một sự khác biệt trong sự phân bố dân cư của vùng là mật
độ dân cư cao ở những khu vực dễ khai thác các tiềm năng tự nhiên, đó là các
vùng có tài nguyên đất, nước, khí hậu, khoáng sản. Mặc dù đã thực hiện các
biện pháp sinh đẻ có kế hoạch song đây cũng là vùng có tỷ lệ gia tăng dân số
khá cao.
Việc tăng nhanh dân số ở các vùng ven phá đã thúc đầy mạnh mẽ quá
trình sử dụng các diện tích đất hoang hóa và các tài nguyên khác. Ở những
giai đoạn đầu việc tăng dân số đã kéo theo sự mở rộng nhanh các khu vực bãi
bồi màu mở ở cửa sông cho các cây trồng lương thực, thực phẩm...Việc lấn
phá, lấn biển ngày càng được thực hiện mạnh mẽ và có hiệu quả hơn. Các hệ
thống đê bao chống mặn, hệ thống đồng ruộng làng mạc được xây dựng khắp
nơi tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ổn định và tăng cường nơi cư trú.
Những xóm làng mới dần được hình thành, làm tiền đề cho việc mở rộng quy
mô khai thác, nuôi trồng thủy hải sản.
Chính việc tăng cường số lượng định cư và sự hấp dẫn của nền kinh tế
nông nghiệp ở vùng ven phá, ven biển đã lôi cuốn con người vào việc đánh
bắt thủy hải sản. Cùng với việc mở rộng sử dụng đất lập nên các quần cư của
các xóm làng nông nghiệp, những người dân khai thác đã tụ hội lại dựa vào
những cộng đồng ven bờ để khai thác. Có thể nhận thấy cư dân ven phá hình
thành ở trên cơ cấu nông dân vẫn là chủ yếu. Tuy nhiên, khả năng đất nông
nghiệp dần dần bị hạn chế lại và khả năng thâm canh không cao hơn. Cho nên
8
tuy nông nghiệp và thủy sản có đa dạng hơn song lại có phần lạc hậu hơn các
vùng khác.
Trong giáo dục mạng lưới trường lớp đã được đầu tư, đội ngũ giáo viên
cũng được bồi dưỡng nâng cao trình độ, vì vậy trẻ em trong độ tuổi đi học đến
trường đã được tăng lên, tỷ lệ người không biết đọc, biết viết giảm đi. Hiện
Tình hình di chuyển lao động tự do từ nông thôn ven biển ra thành thị
tìm việc làm diễn ra với cường độ lớn, mục đích chủ yếu của họ là kiếm việc
làm để có thu nhập cao hơn. Điều này đã làm tăng thêm sức ép việc làm tại đô
thị và nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp. Hiện trạng trên là hiện tượng tất
yếu trong quan hệ cung cầu lao động dưới tác động của cơ chế thị trường
trong hoàn cảnh còn có nhiều lao động ở các vùng ven biển, ven phá chưa có
việc làm, thu nhập lại quá thấp. Vì vậy vấn đề tạo việc làm cho lao động ở các
vùng ven biển, ven phá sao cho phù hợp với tính chất và khả năng của người
lao động cần được nghiên cứu và quan tâm hơn.
Với quá trình đô thị hóa nên dân số thành thị tăng lên quá nhanh, song
nó cũng là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Tại đây đã tạo nên một thị
trường tiêu thụ hàng nông sản, cơ khí, hóa chất phục vụ nông nghiệp, các cơ
quan, các trung tâm văn hóa....Nhờ vậy lao động được nâng cao về trình độ
chuyên môn kỹ thuật thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Sự
phát triển mạng lưới đô thị còn làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất, đất nông
nghiệp giảm đi và đất thổ cư, đất chuyên dùng tăng lên do yêu cầu cải thiện
cơ sở hạ tầng: nhà ở, đường giao thông, các công trình phục vụ dân cư xã hội,
xây dựng cơ sở sản xuất, công nghiệp tiểu thủ công nghiệp...[5].
Trình độ lao động
Mặc dù có lực lượng lao động đông đảo nhưng trình độ lao động còn bị
hạn chế, thời gian rỗi còn nhiều. Ngoài ngành nghề chính là nông nghiệp,
nuôi trồng và khai thác thủy hải sản còn có một số nghề khác như xây dựng,
đan thêu....
Trong mấy năm gần đây dưới tác động của kinh tế thị trường, đã từng
bước tổ chức sắp xếp lại sản xuất nên trình độ lao động cũng được nâng cao.
Bước đầu người dân ở đây đã có kinh nghiệm trong kinh tế thị trường, mạnh
dạn áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Phần lớn người dân ở đây vốn có truyền thống cần cù, ham học hỏi, có
khả năng nắm bắt các tiến bộ về công nghệ và khoa học kỹ thuật. Hệ thống
địa. Trong lịch sử trước đây có các dòng di cư có tổ chức từ các vùng dưới
thấp lên các khu kinh tế mới ở các tỉnh cao nguyên như Gia Lai, Kontum, Đắc
Lắc trong những năm sau 1975. Loại hình di cư này được tổ chức và khuyến
khích bởi nhà nước. Mục tiêu chính nhằm khai thác các tài nguyên thiên
nhiên ở cao nguyên trung bộ và để phân bố lại dân số giữa miền xuôi và miền
núi. Hầu hết người dân di cư trong giai đoạn đó được khuyến khích ở lại lâu
dài ở nơi mà họ đến và canh tác các vụ mùa trồng cà phê và hồ tiêu...
Từ đầu thập niên 90, nhiều thanh niên Thừa Thiên Huế và vùng đầm
phá bắt đầu di cư. Những người này chủ yếu là tự nguyện đi tìm việc làm ở
những thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh. Ở Vinh Hưng có chừng
1.000 người di cư, chủ yếu đến thành phố Hồ Chí Minh. Ở Phú Diên có 5.656
11
người trong số 11.908 người rời xa gia đình. Độ tuổi di dân chủ yếu từ 15 đến
25, và phụ nữ chiếm 30% số người di cư. Họ chủ yếu là các công việc như
thợ may, thợ uốn tóc làm công ăn lương, hoặc bán vé số, thợ nề, thợ đóng
giày. Họ làm việc ở các thành phố đó trong vòng một năm và đến cuối năm
họ trở về và mang tiền dành dụm được về cho gia đình. Lao động nữ thường
để dành được nhiều tiền hơn lao động nam.
Cũng có những lao động theo mùa vụ, chỉ làm công việc trong khoảng
thời gian rảnh rổi giữa 2 vụ trồng lúa hoặc nuôi trồng thuỷ sản. Những người
này chủ yếu làm các công việc theo mùa vụ mang tính chất tạm thời như thợ
nề hay giúp việc trong nhà.
Ngoài ra, nhiều lao động trong vùng đi làm việc theo diện “xuất khẩu
lao động”. Ở Quảng Phước có 25 người đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan và
Malayxia. Ở Phú Diên có 12 người đi lao động ở Malayxia và 15 người nữa
cũng sắp đi lao động ở đó, chủ yếu làm việc trong các công xưởng. Không
giống như những người di cư theo mùa vụ, lao động xuất khẩu đi nước ngoài
ảnh hưởng của địa hình núi, trường gió mùa Đông Bắc bị biến dạng đáng kể
cả về hướng và tốc độ so với ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ. Về mùa đông, hướng
gió Tây Bắc chiếm ưu thế với vận tốc trung bình 1,6m/s.Vào mùa hè, tại đây,
hướng gió thịnh hành là Tây - Nam và hướng Đông.
Mưa. Do nằm cạnh tâm mưa lớn Bạch Mã có lượng mưa trung bình trên
3.000 mm/năm, khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu Hai thuộc vùng mưa
nhiều, đạt trung bình 2.744 mm /năm, cao hơn nhiều so với lượng mưa trung
bình cả nước. Các đặc điểm đặc trưng của vùng này là mùa mưa thường diễn
ra vào thời điểm cuối năm (vào mùa đông từ tháng Chín đến Mười hai) với
tổng lượng mưa là 2.000 mm (72.8%). Lượng mưa cao tập trung vào tháng
Mười và Mười một với đỉnh điểm vào tháng Mười (740mm, 26,96%). Lượng
mưa trong các tháng còn lại không đáng kể. Do lượng mưa cao tập trung vào
một vài tháng gây ra lũ lụt vào mùa đông. Vào mùa hè, trời thường khô vì
lượng mưa thấp.
Bão. Vùng bờ biển Bình - Trị - Thiên hàng năm thường có từ 0 tới 4
cơn bão với tốc độ gió 20 - 40 m/s. Tính trung bình trong 98 năm gần đây thì
đạt tới 0,8 trận bão/năm.
Nắng, nhiệt độ không khí, bốc hơi, khô hạn: Nhiệt độ không khí trung
bình ở khu vực là 25.20C, ngang với nhiệt độ không khí trên toàn quốc, nhiệt
độ cao nhất vào tháng Bảy (29.60C) và thấp nhất là vào tháng Mười hai
(19.90C). Tổng số giờ nắng trong năm thuộc loại cao, đạt 1.900 - 2.000 giờ
do nhiệt độ trung bình năm cao (25,20C) [3].
Vùng thường chịu tác động có hại của các hiện tượng thiên nhiên không
bình thường: bão tố, lốc xoáy, triều dâng, gió mạnh, giá rét...những tác động
này có năm gây ra những tổn thất to lớn cho nhân dân cả về tính mạng và của
13
cải. Nông dân trong vùng có thu nhập bình quân hàng năm thuộc vào loại cao
14
Oxy hoà tan: Hàm lượng ô xy hoà tan đạt ở giá trị trung bình tháng
2/2004 là 6,0 mg/L. Trong tháng 4 trung bình tầng mặt đạt 6,87 mg/L và tầng
đáy 6,61 mg/L; Tháng 5/2006 hàm lượng DO tầng mặt trung bình là 6,5
mg/L và tầng đáy 6,24 mg/L [3].
Đa dạng sinh học ở phá Tam Giang-Cầu Hai
- Phân vùng sinh thái:
Các kết quả trên cho thấy nhân tố quan trọng nhất của trong số các
thông số môi trường nước ảnh hưởng đến tất cả các vi sinh vật thủy sinh ở
Đầm phá là độ mặn. Sự thay đổi độ mặn phức tạp (theo mùa, giai đoạn và
ngày) và không gian (lớp, vùng) dẫn đến kết quả là hình thành 4 vùng đệm
của hệ sinh thái thủy sinh của Đầm phá Tam Giang - Cầu Hai:
+ Tiểu vùng nước nhạt: Khu vực Ô lâu (Điền Hải ): Vùng cửa sông Ô
lâu, gần như ngọt về mùa mưa và không còn phân tầng, độ mặn nằm trong
khoảng 0,02 - 0,2%o và mùa khô khoảng gần 1%0.
+ Tiểu vùng nước nhạt - lợ: Từ Quảng Ngạn - Quảng Công, đây là khu
vực có độ mặn biến động rất nhanh.
+ Tiểu vùng nước lợ: Chiếm phần lớn diện tích vùng lòng chảo đầm
phá.
+ Tiểu vùng nước lợ - mặn: Chiếm diện tích không lớn, thường chỉ
phân bố ở cửa đầm phá. Đặc điểm nổi bật là sự phân tầng rất mạnh của độ
mặn tại khu vực này [3].
- Sự phong phú về loài:
Theo ước tính, có khoảng 1.000 loài sống ở phá Tam Giang-Cầu Hai;
trong số đó, 938 loài đã được đặt tên. Có thể nói đây là Đầm phá nơi người ta
đã có nghiên cứu toàn diện nhất. Sinh vật nổi chiếm số lượng lớn nhất trong
số các loài đó – 250 loài, cá – 230 loài, chim – 73 loài, động vật nổi có 66
Một số cảnh báo về chất lượng nước đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
- Hiện tượng axit hoá: Axít hoá thể hiện rõ nét ở khu vực ô Lâu, chỉ
sau 1 tháng độ pH đã giảm từ mức độ kiềm yếu xuống mức độ axit (6,34 6,45), thấp hơn giới hạn cho phép .
- Hiện tượng mặn hoá: Vùng cửa Ô Lâu, chỉ sau 1 tháng (từ tháng 4 tháng 5/2006), khu vực Quảng Ngạn - Quảng Công đã chuyển từ thuỷ
vực nước nhạt với độ mặn < 1 %o thành thuỷ vực nước lợ với độ mặn từ
10 - 15 %o. Vùng cửa sông Hương chịu ảnh hưởng trực tiếp của hai khối
nước ngọt và nước mặn. Vào tháng 4/2006, độ mặn ở đây tương đối thấp, chỉ
đạt giá trị từ 4,5 - 11 %o, nhưng vào tháng 5/2006, độ mặn khu vực này đã
tăng lên gấp 2 lần (8 -33 %o ).
- Giảm nồng độ oxy hoà tan trong nước: Sự giảm nồng độ oxy hoà tan
trong nước đầm phá, sẽ gây ra hiện tượng suy hô hấp của sinh vật và dẫn đến
16
tử vong. Tại Tam Giang - Cầu Hai, sự suy giảm ô xy mang tính cục bộ đã
được ghi nhận vào tháng 5/2006 tại 10 trạm thuộc Ô Lâu, Hải Dương, Thuỷ
Tú và hai trạm thuộc đầm Cầu Hai.
- Hiện tượng nhiễm bẩn vi sinh vật: Đây là vấn đề lớn đối với vệ sinh,
môi trường khu vực đầm phá. Mức độ ô nhiễm cao hơn từ 3 - 30 lần giới hạn
cho phép là vấn đề đáng cảnh báo.
- Sự gia tăng hàm lượng dầu trong nước : Hàm lượng dầu trong nước
khu vực Tam Giang - Cầu Hai thuộc vào loại tương đối cao, tháng 4/2006,
hàm lượng trung bình đạt 0.305 mg/L; Tháng 5, hàm lượng dầu trung bình
cao hơn so với tháng 4 đạt đến 0,402 mg/L. Đặc biệt ở một số trạm hàm
lượng dầu đạt đến giá trị 0,8 -0,9 mg/L. ở giá trị này có thể sẽ làm ảnh hưởng
đến sự phát triển và sinh trưởng của sinh vật [3].
17
18
Đây là các xã ven phá, vị trí gần với thành phố Huế nên thuận lợi cho
quá trình đa dạng hóa nền kinh tế. Cộng đồng cư dân nơi ngoài tham gia sản
xuất nông nghiệp còn tiến hành các hoạt đông sinh kế khác, một phần sống
khai thác phụ thuộc vào tài nguyên đầm phá.
3.3.2. Chọn mẫu
Chọn 40 hộ từ 2 xã, mỗi xã chọn 20 hộ. Chọn hộ có chủ đích: các hộ
thuộc các nhóm khác nhau. Phân theo thu nhập, phân theo hoạt động ngành
nghề, phân theo nhóm tuổi.
3.3.3. Phương pháp thu thập thông tin
Đối với thông tin cấp cộng đồng:
+ Loại thông tin: Báo cáo về tình hình phát triển kinh tế, xã hội xã Quảng
Thành, Phú Mỹ, báo cáo hoạt động các HTX, báo cáo tổng kết hoạt động xây
dựng Làng văn hóa.
+ Phương pháp thu thập: Phỏng vấn người am hiểu: các cán bộ xã, các tổ
trưởng, trưởng thôn, các phòng ban. Tìm hiểu trên sách, báo, internet.
Đối với thông tin cấp cá nhân:
+ Loại thông tin: Đánh giá của các cá nhân trông cộng đồng, đặc điểm kinh tế
- xã hội và sinh kế của người dân, nhận thức của người dân về thực trạng và
xu thế chuyển đổi ngành nghề ở địa phương.
+ Phương pháp thu thập: Phỏng vấn cấu trúc, bán cấu trúc, quan sát, ghi chép.
3.3.4. Phân tích số liệu
Sử dụng phần mềm Excel để xử lý số liệu.
19
Ha
242,91
87,92
Tỷ lệ hộ nghèo
%
15
10
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên
%
1,14
1,11
Tỷ lệ dùng nước sạch
%
100
100
Tỷ lệ hộ dùng điện
%
100
100
Nguồn:[22]
4.1.1.Thực trạng phát triển kinh tế
Trồng trọt
Bảng 2: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính 2008
Chỉ tiêu
ĐVT
Phú Mỹ
Quảng Thành
Lúa cả năm
- Diện tích
Ha
Hoa màu, rau các loại đã được chú trọng đầu tư gieo trồng, hình thành
các vùng chuyên canh như Thành Trung, Thanh Hà, Tây Thành, Phú Ngạn,
Phú Lương (Quảng Thành), An Lưu, Dưỡng Mong...(Phú Mỹ). Ở Phú Mỹ
diện tích trồng rau là 35 ha với sản lượng 2.700 tấn. Ở Quảng Thành nhỉnh
hơn với 65 ha diện tích cho sản lượng 3.000 tấn mỗi năm.
Chăn nuôi
Trong thời gian qua, các dịch bệnh ở địa phương cũng như các địa
phương lân cân liên tiếp xảy ra như: dịch lợn tai xanh, dịch cúm gia cầm, dịch
lở mồm long móng ở trâu bò... đã gây ra nhiều thiệt hại đáng kể. Tâm lý của
đa số bà con nông dân đã bị dao động, thị trường đầu ra gặp nhiều khó khăn.
Tuy nhiên tổng đàn gia súc, gia cầm vẫn duy trì được ở mức ổn định
Bảng 3: Tình hình chăn nuôi 2008
Chỉ tiêu
ĐVT
Phú Mỹ
Quảng Thành
Đàn lợn
Con
2.345
9.000
Đàn trâu, bò
Con
216
550
Đàn gia cầm
Con
4.128
60.000
Nguồn: [22]
Trong các loại gia súc, lợn là vật nuôi chiếm ưu thế, trong đó tổng đàn
mối. Các ngành nghề được duy trì như: mộc, nề, gò hàn, khai thác cát sạn,
may mặc, điện tử, các ngành nghề thủ công truyền thống như làm nón, hàng
mã....
Ngoài ra, nhân dân đã được tạo điều kiện phát triển, mở rộng các loại
hình kinh doanh, dịch vụ như: vật liệu xây dựng, dịch vụ vật tư nông nghiệp,
dịch vụ ăn uống, các hoạt động kinh doanh giải trí...Bên cạnh đó các hoạt
động dịch vụ như cơ giới hoá phục vụ sản xuất nông nghiệp, dịch vụ thương
mại và các dịch vụ dân sinh khác cũng có bước phát triển đáp ứng ngày càng
tốt hơn nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân.
4.1.2 Thực trạng dân số và lao động
Công tác dân số kết hợp lồng ghép các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình
được duy trì thường xuyên. Nhờ đó mà tỷ suất sinh hàng năm đều giảm, tỷ lệ
tăng dân số tự nhiên giảm còn 1,14% ở Quảng Thành và 1,11% ở Phú Mỹ.
22
Tuy nhiên, việc giảm tỷ suất sinh chưa được vững chắc, tỷ lệ sinh con thứ 3
trở lên giảm chậm.
Bảng 4: Đặc điểm dân số 2008
Chỉ tiêu
ĐVT
Quảng Thành
Phú Mỹ
Tổng số nhân khẩu
Người
11.411
9.631
Tổng số lao động
Người
- Lao động dịch vụ, thương mại
Bảng 5 : Phân loại lao động năm 2008
Loại lao động
ĐVT Quảng Thành
Phú Mỹ
Nông – Lâm –Ngư nghiệp Người
3.600
3.200
Công nghiệp, Tiểu thủ CN Người
500
800
Dịch vụ, Thương Mại
Người
1.900
1.100
Nguồn: [22]
Trông cơ cấu phân loại lao động, lao động Nông – lâm – ngư nghiệp vẫn
chiếm đa số trong cơ cấu lao động của vùng. Ở Quảng Thành, lĩnh vực này
thu hút 3.600 lao động, ở Phú Mỹ có 3.200 lao động tham gia.
23
Lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ, đa phần là
lao động tiểu thủ công nghiệp. Ở Quảng Thành, số lao động thuộc nhóm là
500 người. Trong khi đó, ở Phú Mỹ , do các ngành nghề thủ công phát triển
mạnh nên thu hút được 800 lao động tham gia.
Nhóm lao động trong dịch vụ, thương mại đang có chiều hướng tăng
lên trong những năm qua. Lao động trong lĩnh vực ở Quảng Thành là 1.900
người, tổng số lao động dịch vụ, thương mại ở Phú Mỹ là 1.100 lao động.
Bảng 6: Đặc điểm kinh tế, xã hội của hộ khảo sát
Các chỉ tiêu
ĐVT
Quảng Thành
Phú Mỹ
Tuổi TB chủ hộ
Tuổi
55,65
48,3
Trình độ học vấn
Lớp
3,95
4,25
Nhân khẩu/hộ
Người
5,4
4,65
Lao động/hộ
Người
3,35
3,15
Loại hộ khá
Hộ
6
4
Loại hộ trung bình
Hộ
12
16
Loại hộ nghèo
trình độ học vấn trung bình ở Quảng Thành lại thấp hơn Phú Mỹ.
Trung bình mỗi hộ gia đình ở Quảng Thành có 5,4 nhân khẩu, ở Phú Mỹ
là 4,65, và hầu hết nhân khẩu đều nằm trong độ tuổi lao động. Ở hai vùng,
nhân khẩu trong gia đình tham gia vào lực lượng lao động khá sớm. Số lao
động trong gia đình trải đều từ mức tuổi từ 16 đến trên 45 phân thành 2 thế
hệ, một số gia đình có 3 thế hệ cùng chung sống. Đây là nhân khẩu cao so
với các vùng khác, một mặt phản ánh việc thực hiện công tác dân số, kế
hoạch hóa gia đình chưa tốt, nhưng mặt khác lại cung cấp lực lượng lao động
tại chổ dồi dào cho gia đình. Ở Phú Mỹ độ tuổi lao động bình quân thấp hơn
so với Quảng Thành, một phần là do dân số trẻ, nhưng nguyên nhân khác là
nhóm tuổi trẻ tham gia lao động sớm. Ngành nghề thủ công truyền thống như
làm nón được khôi phục tạo ra nhiều việc làm, thu hút nhiều lao động tham
gia, tạo thêm thu nhập và giảm thời gian nhàn rỗi trong nhóm nông hộ. Vì vậy
25