Đánh giá ảnh hưởng của việc quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp có sự tham gia tại vùng dự án 3PAD huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn. - Pdf 24

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––
TRIỆU TUẤN LINH

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƢỞNG CỦA VIỆC QUY HOẠCH
SỬ DỤNG ĐẤT VÀ GIAO ĐẤT LÂM NGHIỆP
CÓ SỰ THAM GIA TẠI VÙNG DỰ ÁN 3PAD
HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN

Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Trần Thị Thu Hà
tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên.
Để có được kết quả này, trước hết tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu
sắc nhất tới TS. Trần Thị Thu Hà, là người hướng dẫn khoa học đã tận tình,
tận tâm hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và giành nhiều thời
gian quý báu giúp tác giả hoàn thành luận văn.
Cuối cùng tác giả xin gửi lời cảm ơn đến các bạn bè, đồng nghiệp gần
xa và những người thân trong gia đình đã động viên và tạo mọi điều kiện giúp
đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu, học tập cũng như thời gian thực hiện
luận văn này./.
Tác giả Triệu Tuấn Linh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢ M ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Phần 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
1.1.1. Tình hình quy hoạch sử dụng đất 4
1.1.2. Tình hình giao đất lâm nghiệp 5
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 8
1.2.1. Tình hình quy hoạch sử dụng đất 8

Pác Nặm 36
4.2.1. Thay đổi kết cấu tài nguyên rừng trước và sau khi giao đất
lâm nghiệp 36
4.2.2.Công tác quản lý bảo vệ rừng trước và sau khi giao 37
4.3. Ảnh hưởng của việc quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp
tới ý thức quản lý bảo vệ và sử dụng đất lâm nghiệp của người dân
tại địa phương trong phát triển kinh tế - xã hội 39
4.3.1. Tác động về ý thức người dân trong quản lý và sử dụng đất
lâm nghiệp 39
4.4. Ảnh hưởng của giao đất giao rừng đến sự thay đổi về cơ cấu sản
xuất hàng hoá 44
4.5. Ảnh hưởng của công tác giao đất giao rừng về mặt xã hội 42
4.6. Những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện công tác quy hoạch sử
dụng đất và giao đất giao rừng có sự tham gia nhằm quản lý sử
dụng tài nguyên rừng bền vững 46
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

v
4.6.1. Giải pháp về chính sách 46
4.6.2. Giải pháp về khoa học, kỹ thuật 47
4.6.3. Giải pháp về quản lý 48
Phần 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 49
5.1. Kết luận 49
5.1.1. Kết quả Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp có sự tham gia 49
5.1.2. Giao đất lâm nghiệp có sự tham gia của người dân 49
5.2. Tồn tại 51
5.3. Kiến nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
PHỤ LỤC 57


Pác Nặm 24
Bảng 4.1: Kết quả quy hoạch sử dụng đất huyện Pác Nặm giai đoạn 2010
- 2020 33
Bảng 4.2: Kết quả giao đất lâm nghiệp ở huyện Pác Nặm năm 2010
thuộc dự án 3PAD Bắc Kạn 35
Bảng 4.3: Diễn biến đất rừng trước và sau khi giao ở 2 xã Bằng Thành và
Công Bằng 36
Bảng 4.4: Số hộ nghèo được giao đất lâm nghiệp theo Dự án 3 PAD 45
Bảng 4.5: Tổng hợp cơ cấu cây trồng vật nuôi trước và sau khi giao đất
lâm nghiệp có sự tham gia tại Bằng Thành và Công Bằng 43
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng và đất rừng là tài nguyên quý giá của con người, là tư liệu sản
xuất chủ yếu để tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Để rừng được bảo vệ và
phát triển tốt cũng như làm tăng được những giá trị mà rừng mang lại một
cách bền vững thì rừng cần phải được gắn với chủ quản lý sử dụng một cách
cụ thể.
Vấn đề giao đất, giao rừng gắn với chủ quản lý sử dụng cụ thể đã được
thực hiện từ rất lâu ở trên thế giới. Chính phủ các nước có nền kinh tế phát
triển như Thụy Điển, Nhật Bản, Pháp, Ấn Độ… rất quan tâm chú ý tới những
vấn đề này. Ở Thụy Điển nhà nước chỉ quản lý 25% diện tích rừng và đất
rừng, các công ty lớn sở hữu 25%, còn lại 50% diện tích rừng và đất rừng còn
lại thuộc sở hữu của các hộ tư nhân. Bên cạnh đó, chính phủ nhiều nước còn
thực hiện nhiều giải pháp nhằm khuyến khích người dân tham gia quản lý sử
dụng rừng một cách hiệu quả như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển
lâm nghiệp, hỗ trợ các hoạt động lâm sinh, cho vay vốn với lãi suất thấp,…
Ở Việt Nam, vấn đề giao đất giao rừng diễn ra là tương đối chậm so với
thế giới và có sự diễn biến phức tạp theo các thời kỳ, nó phụ thuộc vào ý thức

Huyện Pác Nặm là một huyện miền núi vùng cao thuộc tỉnh Bắc Kạn
có diện tích rừng rất lớn. Rừng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội nhất là đối với đời sống của người dân nơi đây, đất lâm
nghiệp là tư liệu sản xuất vô cùng quan trọng đối với người dân miền núi,
vùng cao. Trước đây, công tác quy hoạch và giao đất lâm nghiệp thường được
triển khai thiếu tính khoa học, chồng chéo, mất công bằng dẫn tới khiếu nại
và tranh chấp tình trạng “mạnh ai người nấy nhận” xảy ra phổ biến nên hộ thì
rất nhiều đất, có những hộ nghèo lại không có đất hoặc hầu hết các hộ nhận
đất trên sổ và thực địa khác nhau, ….
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
Năm 2009, Dự án 3PAD “Quan hệ đối tác vì người nghèo trong phát
triển nông lâm nghiệp Bắc Kạn” tiến hành giao đất với phương pháp tiếp cận
có sự tham gia theo quy trình 7 bước gồm quy hoạch và giao đất. Dự án này
bước đầu đã được đánh giá thành công. Tuy nhiên chưa có những đánh giá tác
động của hoạt động này một cách đầy đủ để làm cơ sở khoa học và thực tiễn
cho việc thực thi chính sách giao đất rừng của chính phủ. Vì vậy việc tiến
hành nghiên cứu: “Đánh giá ảnh hưởng của việc quy hoạch sử dụng đất và
giao đất lâm nghiệp có sự tham gia tại vùng dự án 3PAD huyện Pác Nặm,
tỉnh Bắc Kạn” là rất cần thiết cả về ý nghĩa khoa học và lý luận thực tiễn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
Phần 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.1.1. Tình hình quy hoạch sử dụng đất

vào sự điều tra tài nguyên thiên nhiên ở cấp tiếp theo (cấp huyện). Các nhà
chức trách địa phương bổ sung chi tiết hơn các đồ án đó với sự phối hợp của
các chủ sử dụng đất (FAO 1993) [22].
Ở Thái Lan việc quy hoạch phân theo 3 cấp, gồm cấp quốc gia, cấp
vùng và cấp địa phương. Quy hoạch nhằm thể hiện cụ thể những chương trình
kinh tế - xã hội của Hoàng gia Thái Lan, gắn liền với tổ chức hành chính và
quản lý nhà nước, phối hợp với tổ chức chính phủ và chính quyền địa phương.
Dự án phát triển Hoàng gia đã xác định vùng nông nghiệp chiếm một vị trí
quan trọng về kinh tế - xã hội, chính trị ở Thái Lan. Các dự án đều tập trung
vào vấn đề như đất đai, nông nghiệp, lao động, (FAO, 1993) [22].
Ở các nước như Trung Quốc, Lào, Campuchia công tác quy hoạch đất
đai bắt đầu phát triển nhưng mới dừng lại ở quy hoạch tổng thể các ngành.
Để có phương pháp chung làm cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch
đất đai trên phạm vi toàn thế giới, năm 1993 tổ chức FAO đã đưa ra quan
điểm quy hoạch đất đai nhằm sử dụng đất một cách có hiệu quả bền vững và
đáp ứng tốt các nhu cầu của hiện tại và môi trường. Phương pháp quy hoạch
đất đai được áp dụng ở 3 cấp quốc gia, tỉnh, địa phương. (FAO, 1993) [22].
1.1.2. Tình hình giao đất lâm nghiệp
Vấn đề giao đất lâm nghiệp đã được các nước trên thế giới quan tâm
thực hiện từ rất lâu, có thể điểm qua tình hình giao đất lâm nghiệp tại một số
quốc gia như sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
Ở Thụy Điển, nhà nước quản lý 25% diện tích rừng và đất rừng, các
công ty lớn sở hữu 25%, còn lại 50% diện tích rừng và đất rừng và đất rừng
còn lại thuộc sở hữu của các hộ tư nhân.
Ở Nhật Bản, có 3 hình thức sở hữu đất lâm nghiệp đó là sở hữu nhà
nước, sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân gồm:
- Nhà nước sở hữu 7,84 triệu ha chiếm 31,2% rừng và đất rừng của cả

nông dân trồng cây trên đất mình làm chủ thì hoàn toàn được hưởng sản phẩm
trên mảnh đất đó”. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
chính phủ đã áp dụng chính sách nhạy bén thúc đẩy phát triển kinh tế trang
trại rừng và kinh doanh đa dạng để có lợi trước mắt và lâu dài.
Có 2 hình thức sở hữu đất đai là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể (sở
hữu cộng đồng). Sở hữu nhà nước đối với đất trang trại quốc doanh hoặc đất
do nhà nước sử dụng, sở hữu tập thể đối với đất của các làng nông thôn.
Ở Thái Lan, đang thí điểm giao rừng cho cộng đồng, đã giao được
khoảng 200.000 ha ở gần các điểm dân cư, nhà nước trợ cấp tối đa cho mỗi hộ
50 rai và tối thiểu là 5 rai (1 rai = 1.600 m
2
). Thái Lan dự kiến áp dụng một
chính sách nông lâm nghiệp toàn diện, chú trọng tới các vấn đề xã hội, môi
trường và người nghèo, lấy cộng đồng làm đơn vị cơ sở. (FAO 1976) [5]
Ở Phần Lan, sở hữu tư nhân về rừng và đất rừng mang tính truyền thống,
có tới 2/3 diện tích rừng và đất rừng thuộc sở hữu của tư nhân và có khoảng
430.000 chủ rừng, bình quân mỗi chủ rừng sở hữu 33 ha (FAO 1976) [5].
Ở Ấn Độ, vào những năm 70 của thế kỷ 20, Ấn Độ đã phát triển lâm
nghiệp xã hội (LNXH). Năm 1986, nước này đã hoàn thành mục tiêu phát triển
LNXH tại các bang khác nhau. Ấn Độ đã coi cộng đồng như một đối tác quản
lý những vùng đất rừng của chính phủ. Chính phủ cho phép các cộng đồng
được sử dụng tất cả các sản phẩm không phải là gỗ, còn việc phân chia quyền
lợi cây gỗ lại có sự thay đổi nhiều giữa các bang, gỗ được sử dụng làm chất đốt
ở Bi Har và được phép sử dụng ở Orissa thì ở Rajas than có đến 60% nguồn thu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
nhập của cộng đồng là từ buôn bán gỗ. Tại Ấn Độ, liên kết quản lý rừng đã
đem lại những lợi ích nhất định cho cả 2 bên: Chính phủ (cơ quan lâm nghiệp)
và cộng đồng địa phương. Chính sách lâm nghiệp quốc gia 1988 khẳng định sự

theo cấp huyện, tỉnh và cả nước. Quy hoạch sử dụng đất cấp xã chưa được đề
cập đến.
1.2.1.3. Thời kỳ 1987 - 1993
Năm 1988, Luật Đất đai đầu tiên của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam được ban hành, trong đó có một số điều nói về quy hoạch đất đai.
Tuy nhiên nội dung quy hoạch đất đai chưa được nêu ra.
Ngày 15/04/1991 Tổng cục quản lý ruộng đất (nay là Bộ Tài nguyên và
Môi trường) đã ra thông tư 106/QH - KH/RD hướng dẫn lập quy hoạch sử
dụng đất. Thông tư đã hướng dẫn cụ thể quy trình, nội dung và phương pháp
lập quy hoạch sử dụng đất. Kết quả là nhiều tỉnh đã lập quy hoạch sử dụng đất
cấp lớn hơn, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa được thực hiện (Lương
Văn Hinh, 2003) [9].
1.2.1.4. Thời kỳ 1993 đến nay
Năm 1993 Luật Đất đai chính thức được công bố. Trong luật này các
điều khoản nói về quy hoạch đất đai được cụ thể hơn Luật Đất đai 1988.
Từ năm 1993 Tổng cục địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi
trường) đã triển khai quy hoạch đất đai toàn quốc giai đoạn 1996 - 2010. Dự
án quy hoạch này đã được Chính Phủ thông qua và Quốc Hội phê chuẩn tại
kỳ họp thứ XI Quốc Hội khoá IX. Đây là căn cứ quan trọng để xây dựng quy
hoạch đất đai của các bộ, ngành và các tỉnh. Quy hoạch đất đai theo lãnh thổ
hành chính đã và đang triển khai ở hầu hết các tỉnh trong toàn nước. Vấn đề
quy hoạch sử dụng đất đai ngày càng được Nhà nước quan tâm, vì vậy hàng
loạt các văn bản liên quan đến quy hoạch đã ra đời.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
Ngày 12/10/1998, Tổng cục địa chính ra công văn số 1814/CV - TCĐC
về công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Ngày 1/10/2001, Chính Phủ ban hành Nghị định 64/NĐ - CP của Chính
Phủ về việc triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở 4 cấp hành chính.

làm ồ ạt, mang tính hình thức, chạy theo số lượng diện tích, chưa có quy
hoạch đất đai, chưa phân hạng 3 loại rừng và xác định giao đất lâm nghiệp
cho từng đối tượng cụ thể.
Giai đoạn 1983 - 1989 việc tổ chức thực hiện chủ trương giao đất giao
rừng của ngành lâm nghiệp là nghiêm túc, cụ thể, có những bước đi cơ bản và
đã đạt được những thành tựu đáng kể, đã tạo ra động lực phát triển kinh tế
nông lâm nghiệp miền núi, bước đầu đã hình thành nên thị trường ở trung du
miền núi. Thực tế cho thấy, ở nhiều nơi sau khi tập thể, hộ gia đình, cá nhân
nhận đất lâm nghiệp đã tiến hành tổ chức sản xuất kinh doanh và đã có thu
nhập đáng kể do xác định được cơ cấu cây trồng vật nuôi thích hợp với điều
kiện khí hậu, đất đai ở địa phương cụ thể như cây quế ở Yên Bái, cây Vải
thiều ở Bắc Giang, cây Tiêu, cây Cà phê ở Tây Nguyên.
Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng trên thực tế hiệu quả của việc sử dụng
đất thời gian này còn thấp, chỉ sử dụng hiệu quả khoảng 30% diện tích được
giao, số còn lại vẫn bị khai thác và không được bảo vệ, bỏ hoang hóa. Đặc
biệt từ năm 1988, nhà nước chuyển đổi cơ chế kinh tế, thay đổi phương pháp
quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp, hơn 3,7 triệu ha đất lâm nghiệp giao cho
hợp tác xã nông nghiệp do không có người làm chủ cụ thể nên khi hợp tác xã
tan vỡ thì hầu hết số diện tích này đều bị tàn phá.
- Thời kỳ 1993 đến nay:
Sau khi luật đất đai 1993 ra đời, Chính phủ ban hành Nghị định 02/CP,
Nghị định 01/CP, Nghị định 163/CP,… Sự ra đời của các chính sách này
nhằm gắn lao động với đất đai, tạo thành động lực để phát triển sản xuất nông
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
lâm ngư nghiệp, công tác giao đất lâm nghiệp được thực hiện theo những
nguyên tắc và quy định mới.
Theo số liệu thống kê, kiểm kê ban hành tại Quyết định số 1828/QĐ-
BNN-KL ngày 11/8/2011 của Bộ Nông nghiệp và PTNT, tính đến 31/12/2010

đình có hiệu quả kinh tế cao, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, cải
thiện đời sống của người dân, một bộ phận người dân đã giàu lên từ sản xuất
kinh doanh trên đất được giao, mở hướng sản xuất hàng hóa gắn với thị
trường tiêu thụ ở nhiều nơi, góp phần xóa đói giảm nghèo, góp phần thay đổi
bộ mặt nông thôn miền núi. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện
chính sách giao đất lâm nghiệp, bên cạnh những kết quả đạt được, cũng còn
nhiều hạn chế như:
Quy trình giao đất lâm nghiệp chưa thực sự có hiệu quả bởi chưa có
quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp trước khi giao, không coi trọng việc bàn
giao ranh giới đất đai cụ thể ngoài thực địa, dẫn tới tình trạng sau khi giao
nhiều trường hợp nhiều hộ gia đình, cá nhân, không xác định được ranh giới
đất của mình ở ngoài thực địa. Có tình trạng giao đất sai thẩm quyền, sai tinh
thần nghị định số 02/CP, một số nơi trong quá trình thực hiện còn nhầm giữa
giao đất theo nghị định 02/CP và khoán đất theo nghị định 01/CP. Một số lâm
trường cũng đứng ra giao đất cho hộ gia đình, giao cả vào rừng đặc dụng,
rừng phòng hộ. Thiếu kiểm tra theo dõi việc sử dụng đất được giao, nhiều hộ
được giao 3 - 4 năm vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
không làm khế ước giao rừng theo quy định.
Vấn đề hỗ trợ, chuyển giao kỹ thuật canh tác cho các hộ nhận đất lâm
nghiệp còn nhiều bất cập, lực lượng khuyến nông, khuyến lâm hiện nay còn
quá mỏng, nội dung chuyển giao còn nghèo nàn, chưa phù hợp với điều kiện
tự nhiên đa dạng của miền núi, chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất của
người dân địa phương.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
Chưa xác định rõ địa vị pháp lý của các loại chủ rừng bao gồm hộ gia
đình, cá nhân, doanh nghiệp tư nhân kinh doanh rừng trồng, lâm trường quốc
doanh, ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ, các chủ rừng là công ty liên
doanh, các chủ rừng là nhà đầu tư nước ngoài, các cộng đồng dân cư,…

o
C. Độ ẩm
không khí trung bình 84 - 85%.
Lượng mưa trung bình hàng năm của huyện là 1.346 mm, thuộc vùng
mưa ít của tỉnh. Các tháng có lượng mưa lớn là tháng 4, 5, 6, 7, tổng lượng
mưa của 4 tháng này chiếm tới trên 90% tổng lượng mưa cả năm, các tháng
còn lại có lượng mưa nhỏ. Do sự phân bố lượng mưa không đều và chênh
lệch lớn nên đã gây khó khăn (lũ quét, hạn hán, ) trong việc phát triển nông
lâm nghiệp trên địa bàn huyện.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
Sông ngòi: Huyện Pác Nặm có hệ thống sông suối khá dày đặc, có 3
sông lớn: sông Năng, sông Công Bằng, sông Nghiên Loan. Hệ thống suối bao
gồm hơn 40 con suối lớn nhỏ khác nhau: Nặm Khiếu, Khuổi Tuốn, Khuổi
Mạn, Khuổi Keo, Nà Trang, Nà Lại,
2.1.3. Tài nguyên thiên nhiên
2.1.3.1. Tài nguyên đất
Theo kết quả kiểm kê đất đai của huyện Pác Nặm, diện tích các loại đất
cụ thể như sau:
Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất của huyện Pác Nặm năm 2010
TT
Nội dung
ĐVT
Diện tích (ha)

TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN
ha
47.539, 00
1

3.890,80

1.2.2 Đất rừng sản xuất
ha
26.255,50

- Đất có rừng
ha
7.522,41

+ Rừng tự nhiên
ha
6.265,70

+ Rừng trồng
ha
1.256,71

- Đất chưa có rừng
ha
18.733,09
2
ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP
ha
1.028,49
3
ĐẤT CHƯA SỬ DỤNG
ha
6.848,62


+ Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp: 7,12 ha.
+ Đất quốc phòng, an ninh: 5,01 ha.
+ Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp: 5,54 ha.
+ Đất sử dụng vào mục đích công cộng: 246,22 ha.
+ Đất nghĩa trang, nghĩa địa: 0,16 ha.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Trích đoạn Giao đất lâm nghiệp có sự tham gia của người dân Thay đổi kết cấu tài nguyên rừng trước và sau khi giao đất Tác động về ý thức người dân trong quản lý và sử dụng đất Kết quả Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp có sự tham gia
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status