Báo cáo kiến tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Lời cảm ơn!
Trong suốt quá trình kiến tập vừa qua em đã có cơ hội được học tập ,làm
việc với các anh, các chị hiện đang làm việc tại phòng Lao Động TB&XH
Huyện Pác Nặm, Tỉnh Bắc Kạn. Em nhận thấy rằng đợt kiến tập này là một quá
trình trải nghiệm thực tế rõ nhất, với những vốn kiến thức mới, kĩ năng mới mà
các anh, các chị tại cơ sở kiến tập đã chỉ dạy, đồng thời từ đó thấy hiểu hơn về
nghành Quản Trị Nhân Lực mà em đang theo học. Bài báo cáo kiến tập là kết
quả của quá trình học tập, áp dụng kiến thức cơ sở nghành và sự giúp đỡ của các
anh, chị trong Phòng Lao Động Thương Binh Và Xã Hội Huyện Pác Nặm, Tỉnh
Bắc Kạn, đã cung cấp cho em những thông tin bổ ích, những tài liệu, số liệu
phục vụ cho công việc nghiên cứu, hoàn chỉnh đề tài của em. Ngoài ra em
thường xuyên nhận được sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo khoa Tổ chức và quản
lý nhân lực - Trường Đại học Nội Vụ Hà Nội.
Để hoàn thành được đề tài, thời gian qua em luôn nhận được sự giúp đỡ từ
chính những người dân tại địa phương, đặc biệt là các hộ gia đình còn gặp nhiều
khó khăn về kinh tế, đã giúp em tìm hiểu được nhiều vấn đề liên quan hơn, phân
tích được sâu sát hơn vấn đề mình cần nghiên cứu.
Em xin chân thành cảm ơn các cán bộ công tác tại phòng Lao Động
TB&XH đã tạo điều kiện để em có thể hoàn thành đợt thực tế vừa qua, đặc biệt
là sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo – Khoa Quản Trị Nhân Lực - Trường Đại học
Nội Vụ Hà Nội đã giúp em hoàn thành đề tài.
Một lần nữa em xin trân trọng cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Hoàng Thị Hà
Sinh viên: Hoàng Thị Hà
Lớp: 1205.QTNE
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên:............................................................................12
2.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội:....................................................................13
2.2. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu................................................................17
2.2.1. Chỉ tiêu nghiên cứu về kết quả và hiệu quả kinh tế trong SXKD của
các hộ nông dân:..........................................................................................17
2.2.2. Chỉ tiêu nghiên cứu về thu nhập hàng năm của các hộ:....................18
2.2.3. Chỉ tiêu phản ánh chi tiêu cho các nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của các
hộ nông dân:................................................................................................18
2.2.4. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế - xã hội của công tác xóa đói giảm
nghèo...........................................................................................................18
2.3 Tình hình đói nghèo và nội dung công tác xóa đói giảm nghèo ở xã
Nghiên Loan - Huyện Pác Nặm - Tỉnh Bắc Kạn.........................................18
Sinh viên: Hoàng Thị Hà
Lớp: 1205.QTNE
Báo cáo kiến tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
2.3.1. Thực trạng đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo giai đoạn
trước năm 2006............................................................................................18
2.3.2. Thực trạng đói nghèo và nội dung của công tác xóa đói giảm nghèo
giai đoạn 2006 - 2008..................................................................................22
2.4. Các yếu tố tác động tới hiệu quả kinh tế - xã hội của công tác xóa đói
giảm nghèo ở xã:.........................................................................................23
2.5. Đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế-xã hội của công tác xóa đói giảm
nghèo ở xã Nghiên Loan - Huyện Pác Nặm - Tỉnh Bắc Kạn 2006 - 2008..26
2.5.1. Kết quả đạt được:..............................................................................26
CHƯƠNG III.....................................................................................................38
GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG
13
14
15
Các từ viết tắt
XĐGN
KHKT
GDTH
CP
SRD
SXKD
KHHGĐ
UBND
LHPN
M3
CSXH
PTNT
GDP
LĐTB&XH
CNH-HĐH
Sinh viên: Hoàng Thị Hà
Viết đầy đủ/ý nghĩa
Xoá đói giảm nghèo
Khoa học kỹ thuật
Giáo dục tiểu học
Chính phủ
Dự án phát triển nông thôn bền vững
Sản xuất kinh doanh
trong những năm qua cho thấy, mặc dù số hộ nghèo trong cả nước đã giảm
mạnh, song trên thực tế công cuộc xóa đói, giảm nghèo còn vô cùng gian nan.
Nguy cơ tái nghèo có thể tăng do tác động của kinh tế thị trường và hội nhập
kinh tế quốc tế; do đầu tư phát triển kinh tế giữa các vùng chưa đồng đều; cơ hội
về việc làm của người nghèo ngày càng khó khăn hơn do đổi mới công nghệ
trong sản xuất, yêu cầu trình độ của người lao động ngày càng cao. Đói nghèo
trở lại là vấn đề luôn rình rập một bộ phận khá lớn số hộ nghèo vừa vượt khỏi
ngưỡng nghèo. Chỉ cần gặp thiên tai, dịch bệnh, đau ốm hoặc biến động giá cả,
thì các hộ này lại dễ rơi vào tình trạng đói nghèo.
Huyện Pác Nặm - Tỉnh Bắc Kạn là huyện có địa bàn rộng, kinh tế chủ yếu
là nông nghiệp, đất đai chủ yếu là đồi núi, diện tích đất trồng trọt nói chung và
đất canh tác nói riêng rất hạn hẹp, chất đất xấu, không đáp ứng được nhu cầu
của người dân về đất canh tác; mặt khác sau khi thực hiện cơ chế khoán 10 năm
1986, một bộ phận dân cư không có đất canh tác (do không có đất của ông, cha
để lại), thường xuyên phải gánh chịu thiên tai, lũ quét, dịch bệnh gia súc, gia
Sinh viên: Hoàng Thị Hà
1
Lớp: 1205.QTNE
Báo cáo kiến tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
cầm đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất và đời sống của nhân dân.
Xã Nghiên Loan là xã có điều kiện kinh tế khó khăn của huyện Pác Nặm,
kinh tế chủ yếu là sản xuất thuần nông. Đây cũng là xã có số lượng đối tượng
chính sách lớn với gần 1.500 đối tượng. Theo thống kê năm 2006, trên địa bàn
xã Nghiên Loan có 195 hộ/tổng số 285 hộ thuộc diện đói nghèo, trong đó có 75
hộ đói, 120 hộ nghèo, chiếm 68,4%. Vì thế công tác xoá đói giảm nghèo
(XĐGN) đang là yêu cầu cấp bách được đặt ra trên địa bàn huyện, xã.
Báo cáo kiến tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
đề xuất, giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội trong công tác
xoá đói giảm nghèo trên địa bàn xã cũng như trong toàn huyện.
2.2. Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế, xã hội, đánh giá hiệu
quả kinh tế - xã hội của công tác xoá đói giảm nghèo.
- Tìm hiểu thực trạng và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của công tác xoá
đói giảm nghèo ở xã Nghiên Loan – Huyện Pác Nặm – Tỉnh Bắc Kạn.
- Xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế - xã hội của công tác
xoá đói giảm nghèo.
- Đề xuất một số giải pháp để cải thiện, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội
của công tác xoá đói giảm nghèo trên địa bàn xã cũng như trong toàn huyện.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Làm rõ cơ sở lý luận của đề tài.
- Nêu rõ thực trạng công tác xóa đói giảm nghèo.
- Cách thức hỗ trợ của địa phương, các chính sách hỗ trợ được xây dựng tại
địa phương.
- Sự quan tâm của chính quyền, địa phương.
- Phân tích khái niệm liên quan.
- Các yếu tố gây nên và ảnh hưởng tới công tác xóa đói giảm nghèo.
4. Phạm vi nghiên cứu.
1.3.
Đối tượng nghiên cứu:
Hiệu quả kinh tế - xã hội của công tác xoá đói giảm nghèo các hộ nông
dân và cộng đồng dân cư xã Nghiên Loan – Huyện Pác Nặm – Tỉnh Bắc Kạn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Đánh giá tại xã Nghiên Loan – Huyện Pác Nặm – Tỉnh Bắc
sâu, vùng xa việc đảm bảo các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống vẫn chưa được
đáp ứng đầy đủ, vì vậy mà vẫn còn tồn tại các hộ gia đình nghèo đói trên cả nước.
Trong thực tế công tác xóa đói giảm nghèo này gặp phải nhiều khó khăn, bấp cập,
do nhiều yếu tố khác nhau, nhưng muốn đẩy lùi đói nghèo thì ta phải tìm hiểu rõ
những nguyên nhân nào dẫn tới nghèo đói, từ đó đưa ra giải pháp khắc phục và hỗ
trợ.
- Pác Nặm là một huyện trong đó tỉ lệ các hộ gia đình nghèo đói cao nhất
tỉnh Bắc Kạn, vì vậy việc nâng cao đời sống cũng như đẩy lùi đói nghèo còn là
một vấn đề nan giải. Thông qua đề tài “ Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội
trong công tác xóa đói giảm nghèo tại xã Nghiên Loan, huyện Pác Nặm,
Sinh viên: Hoàng Thị Hà
4
Lớp: 1205.QTNE
Báo cáo kiến tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Tỉnh Bắc Kạn” với những hiểu biết còn hạn chế của bản thân để đưa ra các giải
pháp và kiến nghị, em mong các cấp ủy, ban nghành, địa phương sẽ quan tâm
hơn nữa tới đời sống người dân, đặc biệt là những hộ còn gia cảnh nghèo khó, từ
đó hướng tới xóa đói, giảm nghèo một cách bền vững.
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
1.1. Cơ cấu tổ chức Phòng Lao Động TB&XH Huyện Pác Nặm.
Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
Địa chỉ: xã Bộc Bố, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
Số điện thoại: 02813 893 173.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội
giảm
nghèo;
Thẻ
BHYT
Kế toán
Báo cáo kiến tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
( Nguồn: Phòng Lao Động TB&XH Huyện Pác Nặm 2014)
Phòng Tổ chức Lao động – TB&XH huyện Pác Nặm được thành lập vào
tháng 8 năm 2003. Đến năm 2005 Phòng Tổ chức Lao động – TB&XH sáp nhập
đổi tên thành Phòng Nội vụ - Lao động – TB&XH.
Thực hiện theo Nghị định số 14/2008/NĐ-CP, ngày 04 tháng 02 năm
2008 của Thủ tướng Chính phủ Qui định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc
Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Đến ngày
01/4/2008 chính thức tách Phòng Nội vụ - Lao động - Thương binh và Xã hội
thành 02 phòng:
1. Phòng Nội vụ.
2. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội.
Phòng Lao động – TB&XH huyện Pác Nặm, kể từ khi thành lập đến nay
đã đạt được những kết quả trong công tác ưu đãi xã hội, an sinh và xã hội được
tặng thưởng nhiều giấy khen của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh
Bắc Kạn, của UBND huyện Pác Nặm về hoạt động trong công tác lao động việc
làm, an sinh xã hội, ưu đãi người có công…
Trong 11 năm (từ năm 2003 đến năm 2014) Phòng luôn đạt danh hiệu tập
thể lao động tiên tiến và 10 năm liên tục đạt chi bộ trong sạch vững mạnh. Ngoài
ra Phòng còn được tặng nhiều bằng khen, giấy khen cho cán bộ công chức trong
đơn vị.
nhu cầu cơ bản tối thiểu của cuộc sống như: Ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục,
đi lại, giao tiếp xã hội. Ở Việt Nam, theo chuẩn đói nghèo mới được điều chỉnh
được điều chỉnh năm 2005 thì: Đối với khu vực nông thôn, hộ có thu nhập dưới
200.000đồng/người/tháng là hộ nghèo; khu vực thành thị, hộ có thu nhập dưới
260.000đ/người/tháng là hộ nghèo.
+ Xóa đói giảm nghèo là gì? Xoá đói giảm nghèo là nhằm tăng khả năng tự
cung, tự cấp lương thực, thực phẩm, có đủ điền kiện tiếp cận với y tế, giáo dục.
Nói tóm lại là xoá đói giảm nghèo là nhằm đảm bảo nhu cầu tối thiểu về cuộc
sống như: Ăn, mặc, ở, vệ sinh, đi lại, y tế, giáo dục… cho một bộ phận dân cư
đang trong tình trạng đói nghèo.
* Ý nghĩa của xóa đói giảm nghèo:
Nhằm cải thiện đời sống của người dân về vật chất và tinh thần, nâng cao
dân trí, ổn định xã hội thông qua giải quyết công ăn việc làm cho người lao
động, tiến tới xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Vậy để công tác xoá đói giảm nghèo đạt được kết quả trên cả lĩnh vực kinh
tế và xã hội, các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương cần đặc biệt quan
Sinh viên: Hoàng Thị Hà
7
Lớp: 1205.QTNE
Báo cáo kiến tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
tâm đến vấn đề đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như: Điện, đường, trường, trạm,
nước sinh hoạt để nâng cao dân trí. Hỗ trợ vốn sản xuất với lãi suất ưu đãi thông
qua ngân hàng chính sách xã hội; đồng thời cần kêu gọi các tổ chức tín dụng
quốc tế, các chương trình dự án phi chính phủ đầu tư vốn, kỹ thuật cho người
dân, đặc biệt đối với khu vực vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân
tộc thiểu số. Tăng cường công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật trồng trọt,
Việt Nam đã công bố chiến lược “tăng trưởng toàn diện và xóa đói giảm nghèo”
Việt Nam đã ký vào Tuyên bố Thiên niên kỷ với 8 mục tiêu:
1- Xóa bỏ tình trạng cùng cực và thiếu đói.
2- Đạt phổ cập giáo dục tiểu học.
3- Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế phụ nữ.
4- Giảm tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh.
5- Tăng cường sức khỏe bà mẹ.
6- Phòng chống bệnh HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh khác.
7- Đảm bảo bền vững môi trường.
8- Thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì mục đích phát triển.
Những mục tiêu này mang kết quả trực tiếp và gián tiếp xóa đói giảm
nghèo một cách bền vững bởi nguy cơ đói nghèo, tái đói nghèo đều có thể xảy ra
trong những biến cố của môi trường thiên nhiên, của quá trình hội nhập và phát
triển. Một quốc gia khi không giải quyết dứt điểm xóa đói giảm nghèo thì luôn
ẩn chứa nguy cơ phát triển không bền vững dẫn đến những hậu quả bất ổn định
kinh tế- xã hội. Những mục tiêu đó cũng gợi mở những phương thức tác động
trực tiếp hay gián tiếp đến việc xóa đói giảm nghèo.
Trong gần 20 năm đổi mới, nhờ thực hiện cơ chế, chính sách phù hợp với
thực tiễn nước ta, công cuộc xóa đói, giảm nghèo đã đạt được thành tựu đáng kể,
có ý nghĩa to lớn cả về kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh - quốc phòng, phát
huy được bản chất tốt đẹp của dân tộc ta và góp phần quan trọng trong sự nghiệp
phát triển đất nước bền vững. Do đời sống của nhân dân ngày càng được cải
thiện, cùng với định hướng chung là từng bước tiếp cận với trình độ của các
nước đang phát triển trong khu vực, nên chuẩn nghèo đã được điều chỉnh lại,
trong đó có tính đến các nhân tố ảnh hưởng. Chuẩn nghèo mới áp dụng cho giai
đoạn 2006 - 2010 quy định: Hộ nghèo là những hộ ở khu vực nông thôn có thu
nhập bình quân 200.000 đồng/người/tháng trở xuống, đối với những hộ ở khu
vực thành thị có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng trở xuống.
Theo quy định này, ước tính năm 2005 cả nước ta có khoảng 3,9 triệu hộ nghèo,
Sinh viên: Hoàng Thị Hà
Trong những năm tới, xã hội hóa các hoạt động xóa đói giảm nghèo cần
được các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và mọi người tiếp tục quan tâm và
thúc đẩy lên một tầm cao mới, nhằm tăng cường hơn nữa trách nhiệm của xã hội
và của mọi người dân trong việc giải quyết vấn đề nghèo đói ở nước ta.
1.3.2. Thực tiễn xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Bắc Kạn và huyện Pác Nặm.
. Tỉnh Bắc Kạn là một tỉnh mới được tái thành lập cách đây hơn 10 năm,
Sinh viên: Hoàng Thị Hà
10
Lớp: 1205.QTNE
Báo cáo kiến tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
điều kiện về kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn, đời sống đại bộ phận dân
cư còn rất thấp, trước những khó khăn, thách thức đó, ngay từ những năm đầu
tái lập tỉnh, Đảng bộ tỉnh đã ban hành Nghị quyết chuyên đề về công tác xoá đói
giảm nghèo, coi trọng công tác cán bộ các cấp nhằm tăng cường công tác
chuyển giao khoa học kỹ thuật, hướng dẫn người dân áp dụng các tiến bộ kỹ
thuật vào sản xuất; đồng thời các cấp chính quyền từ tỉnh đến huyện hàng năm
dành một khoản kinh phí cho việc trợ cước, trợ giá đầu vào cho nông dân như:
giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật...
Đối với công tác xoá đói giảm nghèo của huyện Pác Nặm - tỉnh Bắc Kạn,
trước khi huyện Pác Nặm được thành lập, bao gồm 10 xã (được tách ra từ huyện
Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn) đều là những xã đặc biệt khó khăn nằm trong chương
trình 134, 135/CP, xã có khoảng cách xa trung tâm huyện nhất là 65 km, xã gần
nhất 5 km, đường xá đi lại khó khăn (8/10 xã không có đường ô tô đến trung tâm
xã), sông suối chia cắt, diện tích đất chủ yếu là đồi núi cao, có độ dốc lớn...
không có điều kiện phát triển kinh tế, đời sống của đại bộ phận nhân dân rất
thấp, hàng năm chỉ đủ ăn trong 8 tháng, thời gian còn lại phải vay mượn kiếm
là một trong những xã khó khăn nhất của huyện Pác Nặm - tỉnh Bắc Kạn trước
những năm 2006, trình độ dân trí thấp, đội ngũ cán bộ thiếu và yếu về năng lực,
đường xá đi lại khó khăn… Do vậy đề tài nghiên cứu chọn xã Nghiên Loan là để
đánh giá sau khi thực hiện công tác XĐGN, hiệu quả kinh tế - xã hội mang lại ở
xã như thế nào?
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên:
a. Vị trí địa lý, địa hình.
* Vị trí địa lý:
Xã Nghiên Loan là xã vùng sâu, vùng xa của huyện Pác Nặm - tỉnh Bắc
Kạn, cách trung tâm huyện Pác Nặm 20 km.
Phía Bắc giáp với xã Bành Trạch huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn.
Phía Nam giáp với xã Thượng Giáo huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn.
Phía Đông giáp với xã Xuân La huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn.
Phía Tây giáp với xã Cao Trĩ huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn.
Xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 2.705,18 ha, chiếm 5,7% diện tích toàn
huyện, với 8 thôn bản, đây là một trong những xã khó khăn nhất của huyện Pác
Nặm, đường xá đi lại khó khăn, trình độ dân trí thấp. Nhìn chung xã Nghiên
Loan huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn là xã thuộc diện đặc biệt khó khăn, trong
Sinh viên: Hoàng Thị Hà
12
Lớp: 1205.QTNE
Báo cáo kiến tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
những năm tới cần tiếp tục có sự đầu tư thích đáng để khai thác triệt để mọi tiềm
năng của xã nhằm phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân.
* Địa hình: Xã Nghiên Loan là xã có diện tích tự nhiên tương đối lớn, tuy
nhiên đất đai ở đây chủ yếu là đồi núi cao và có độ dốc cao, sông suối chia cắt,
100
100
8
8
1.526,46 1.541,27
8
1.550,8
100,97
100,61
1
230,39
107,14
103,77
207,20
222,01
13
Lớp: 1205.QTNE
104,20
74,09
30,11
43,45
63,12
11,24
105,80
74,09
31,71
44,44
66,99
13,16
101,75
110,91
84,57
83,55
147,75
111,50
101,53
100,00
105,31
102,27
106,13
117,08
1.314,1
16,40
13,42
0,30
42,07
17,50
13,42
1,12
43,00
18,43
13,42
2,50
103,31
106,70
100
373,33
102,21
105,31
100
223,21
bản
2.2.2- Đất khác
2.3- Đất sông suối, mặt
13,12
10,90
năm 2006 đến năm 2008 đều tăng, điều này được giải thích người dân ở xã
Nghiên Loan trong 3 năm qua đã tích cực khai hoang phục hoá ruộng đất, đặc
biệt là đất trồng lúa và đất trồng mầu.
Sinh viên: Hoàng Thị Hà
14
Lớp: 1205.QTNE
Báo cáo kiến tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Còn đối với đất sản xuất nông nghiệp. Năm 2006 bình quân đất sản xuất
nông nghiệp của xã Nghiên Loan là 1.478 m 2/nhân khẩu. Tương ứng các năm
2007 và năm 2008 như sau: 1.524 m2 và 1.539 m2/nhân khẩu.
b. Tình hình dân số, lao động của xã qua 3 năm 2006 - 2008:
Bảng 2: Tình hình dân số, lao động và kinh tế của xã.
Chỉ tiêu
ĐVT
2006
2007
2008
So sánh
So sánh
- Hộ trung bình, khá
3. Tổng số khẩu,
Nt
Nt
Nt
Khẩu
75
120
90
1.502
54
110
126
1.554
37
98
160
1.594
175,67
146,34
60,89
103,92
83,07
99,16
công tác tại tại địa phương nhằm tăng cường công tác chuyển giao khoa học kỹ
thuật sản xuất cho người dân. Kết quả là từ năm 2006 trở lại đây, người dân đã
Sinh viên: Hoàng Thị Hà
15
Lớp: 1205.QTNE
Báo cáo kiến tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
biết áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, tăng năng suất, sản lượng cây
trồng, tăng thu nhập, đời sống được cải thiện rõ rệt.
Bảng 3: Tình hình cơ cấu lao động của xã tính đến 31/12/2006.
Chỉ tiêu
1- Lao động trong độ tuổi
Trong đó: Theo cơ cấu giới:
+ Nam
+ Nữ
2- Theo cơ cấu ngành, nghề:
+ Lao động nông nghiệp
+ Lao động ngư nghiệp
+ Lao động dịch vụ
+ Lao động TCN & XDCB
+ Lao động khác
3- Lao động có khả năng lao
Xã Nghiên Loan
Số lượng (người)
Tỷ lệ (%)
584
xuyên
+ Lao động thiếu việc làm
24
4,1
Qua bảng số liệu cho thấy, xã Nghiên Loan có 584 lao động, trong đó lao
động nông nghiệp chiếm trên 91,2% trong toàn xã.
Trong những năm qua, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của xã đã giảm, song dân
số cũng như lao động phân bố chủ yếu trong ngành nông nghiệp, nguồn lao
động dồi dào và có tốc độ tăng tương đối nhanh (do tốc độ tăng dân số tự nhiên
trước đây cao trên 2%). Tuy nhiên trình độ lao động ở đây còn thấp, hầu hết là
lao động phổ thông trong nông nghiệp, chưa qua đào tạo, cũng từ đó công tác
tạo việc làm cho người lao động còn gặp rất nhiều khó khăn, nên hàng năm có
một lực lượng lớn lao động còn thiếu việc làm.
c. Tình hình cơ sở hạ tầng của xã qua 3 năm 2006 - 2008.
Sinh viên: Hoàng Thị Hà
16
Lớp: 1205.QTNE
Báo cáo kiến tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Bảng 4: Tình hình cơ sở hạ tầng của xã.
Chỉ tiêu
Xã Nghiên Loan
- Đường điện
Km
1
4
8
11
- Công trình nước sạch
Cái
4
7
10
+ Nhà nước đầu tư
Nt
4
7
10
+ Dân tự làm
Nt
0
0
0
Tình hình cơ sở hạ tầng của xã trong những năm qua đã được quan tâm đầu
tư xây dựng để phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội, kết cấu hạ tầng cơ sở
bước đầu phát huy được tác dụng trong điều kiện kinh tế - xã hội của huyện nói
chung và của xã nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, trong những năm gần đây
nhờ có sự đầu tư của Chính phủ (chủ yếu là chương trình 134, 135/CP) và các
nguồn lực của địa phương, thì cho đến nay, trên địa bàn xã, các thôn bản đều đã
có phân trường nhằm thu hút con em dân tộc đến lớp học, nâng cao dân trí.
Cùng với hệ thống thuỷ lợi, trường học được xây dựng, các công trình nước
sạch, cơ sở y tế... cũng được quan tâm đầu tư hoàn thiện, điều kiện sống của
người dân được nâng lên như được sử dụng nước sạch, chăm sóc sức khoẻ...
2.2. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu.
2.2.1. Chỉ tiêu nghiên cứu về kết quả và hiệu quả kinh tế trong SXKD
của các hộ nông dân:
- Về chi phí đầu tư: Chi cho các yếu tố sản xuất như đầu tư về vốn, lao
- Chỉ tiêu phản ánh đối tượng được hưởng hỗ trợ từ chương trình xóa đói
giảm nghèo.
- Chỉ tiêu về số chương trình chuyển giao KHKT được tổ chức, tập huấn.
2.3 Tình hình đói nghèo và nội dung công tác xóa đói giảm nghèo ở xã
Nghiên Loan - Huyện Pác Nặm - Tỉnh Bắc Kạn.
2.3.1. Thực trạng đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo giai đoạn
trước năm 2006.
Để có biện pháp, chủ trương thực hiện chương trình XĐGN đúng hướng và
hiệu quả, ngay sau khi huyện được thành lập tháng 8 năm 2003, huyện đã thành
Sinh viên: Hoàng Thị Hà
18
Lớp: 1205.QTNE
Báo cáo kiến tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
lập Ban Chỉ đạo XĐGN ở cấp huyện và chỉ đạo thành lập Ban Chỉ đạo XĐGN ở
các xã. Toàn huyện đã tiến hành phân loại hộ đói, nghèo, tìm ra các nguyên
nhân gây nên đói nghèo. Kết quả điều tra cho thấy, tỷ lệ hộ đói nghèo ở xã
Nghiên Loan còn cao.
Nhìn chung các hộ đói nghèo còn rất nhiều hạn chế trong việc tiếp cận và
sử dụng các nguồn lực, hầu hết các hộ này là những hộ thiếu vốn sản xuất,
không nắm được các quy trình sản xuất, trình độ canh tác lạc hậu. Nhiều hộ
được đầu tư vốn nhưng làm ăn không có hiệu quả, có những hộ vay vốn về để
chi tiêu cho sinh hoạt ăn uống, thậm chí có những hộ ăn mất cả vốn. Nói chung,
các hộ nghèo tiếp cận cái mới còn hạn chế và chậm đổi mới để phù hợp với
những điều kiện mới, cơ hội làm ăn mới.
Có thể nói trước năm 2006, tình trạng đói nghèo ở Nghiên Loan là khá gay
gắt, tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao, đời sống nhân dân trong xã còn gặp rất nhiều
phối hợp thực hiện nhiệm vụ của các cấp, các ngành, các đoàn thể, hiệp hội và
đặc biệt là sự nỗ lực của chính các hộ gia đình đói nghèo trong toàn huyện cũng
như tại Nghiên Loan. Đây không những đã thể hiện được tính nhân đạo, cưu
mang, tình đoàn kết tương thân, tương ái mà còn thể hiện rõ trách nhiệm của
cộng đồng đối với người nghèo, với những gia đình chính sách; đồng thời đây
cũng là thể hiện sự quyết tâm xây dựng Chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta đã lựa
chọn, phấn đấu vì mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ
và văn minh”.
Trong những năm đầu thành lập huyện còn gặp nhiều khó khăn về mọi mặt,
khí hậu thời tiết diễn biến phức tạp, mùa khô nắng hạn kéo dài, mùa mưa thì
mưa lũ dồn dập, làm cho sản xuất nông nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, năng
suất cây trồng, đặc biệt là lúa, ngô tăng trưởng không ổn định. Mặt khác trình độ
dân trí còn thấp đã ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình chuyển giao khoa học kỹ
thuật, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, với những khó khăn này ít nhiều
đã làm ảnh hưởng đến công tác xoá đói giảm nghèo của huyện cũng như
Nghiên Loan. Nhưng với sự nỗ lực và quyết tâm cao của Đảng uỷ, chính quyền,
các cấp, sự đồng tình ủng hộ của các ngành, đoàn thể từ huyện đến xã, mà quan
trọng nhất là hoạt động có hiệu quả của Ban xoá đói giảm nghèo các cấp, công
tác xoá đói giảm nghèo trên địa bàn hai xã cũng như trong toàn huyện vẫn thu
được những thắng lợi đáng kể, góp phần làm giảm số hộ đói nghèo, từng bước
nâng cao mức sống cho các gia đình thuộc diện đói nghèo, đặc biệt đối với các
gia đình đói nghèo thuộc diện chính sách.
Bảng 5: Thực trạng đói nghèo của toàn huyện và xã năm 2005.
TT
Đơn vị
Sinh viên: Hoàng Thị Hà
Tổng số hộ
38,2
Như vậy nếu ta so sánh các chỉ tiêu trên trong toàn huyện với xã Nghiên
Loan thì ta thấy, tỷ lệ hộ đói nghèo trong cùng thời điểm tháng 12/2005 của xã
Nghiên Loan cao hơn rất nhiều, tới 15,95%. Điều này được giải thích rằng, xã
Nghiên Loan cách trung tâm huyện lỵ tới 20 km, đường xá đi lại khó khăn, trình
độ dân trí thấp và không đồng đều, nên việc tiếp cận với các tiến bộ kỹ thuật vào
sản xuất khó khăn hơn, mặt khác các ngành, nghề như thương mại dịch vụ, tiểu
thủ công nghiệp của xã Nghiên Loan ít được đầu tư hơn, nên thu nhập của người
dân chủ yếu phụ thuộc vào ngành sản xuất nông nghiệp, thu nhập thấp.
Nhìn chung công tác xoá đói giảm nghèo của huyện Pác Nặm nói chung và
của xã Nghiên Loan nói riêng trong những năm qua đang có những chuyển biến
tích cực, nhiều hộ đói nghèo đã cố gắng vươn lên, dần dần biết cách làm ăn, tăng
được nguồn thu nhập, đời sống từng bước được cải thiện, số hộ đói nghèo đã
được thu hẹp lại, tình hình tai tệ nạn xã hội ngày càng giảm mạnh, an ninh trật tự
được ổn định hơn.
Năm 2005 là năm thứ hai thực hiện chương trình quốc gia xoá đói giảm
nghèo, năm được xem là bản lề để nâng tầm công tác xoá đói giảm nghèo lên
một tầm cao mới, chuẩn bị cho bước đột phá về công tác xoá đói giảm nghèo
trong những giai đoạn tiếp theo. Nhận thức được tầm quan trọng của năm bản lề,
được sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền các cấp, sự phối kết hợp của
các cấp, các ngành, các đoàn thể, hiệp hội và nhân dân, công tác chỉ đạo của Ban
xoá đói giảm nghèo đã có rất nhiều thuận lợi về mặt chủ quan. Tuy nhiên, do
tình hình thời tiết khí hậu diễn biến bất thường như nắng hạn kéo dài, mưa lũ
triền miên đã làm cho sản xuất của toàn huyện nói chung và sản xuất nông
nghiệp trên địa bàn nói riêng gặp rất nhiều khó khăn trong đó xã Nghiên Loan
cũng không nằm ngoài tình trạng đó, đặc biệt là trong tháng 7 và tháng 8 năm
Sinh viên: Hoàng Thị Hà
21