MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
KBNN : Kho bạc Nhà nước
NSNN : Ngân sách Nhà nước
NS : Ngân sách
KSC : Kiểm soát chi
ĐVSDNS : Đơn vị sử dụng Ngân sách
KT-XH : Kinh tế - xã hội
TCTC : Tự chủ tài chính
CQHCNN : Cơ quan hành chính nhà nước
CBCC : Cán bộ công chức
KQKB : Kho quỹ Kho bạc
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình thu ngân sách trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.Error: Reference
source not found
Bảng 2.2: Tình hình chi ngân sách trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.Error: Reference
source not found
Bảng 2.3: Kết quả thực hiện cơ chế tự chủ của các cơ quan hành chính nhà nước
tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2007 - 2011 Error: Reference source not
found
Bảng 2.4: Tình hình chi thường xuyên NSNN qua KBNN Quảng Bình giai đoạn
2006 - 2011 Error: Reference source not found
Bảng 2.5: Kết quả KSC thường xuyên NSNN qua KBNN Quảng Bình giai đoạn
năm 2006 đến 2011 Error: Reference source not found
HÌNH
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách tài chính công là 1 trong 4 mục tiêu quan trọng của chương trình
tổng thể “Cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010” mà Thủ tướng
kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước đối với đơn vị thực hiện cơ chế
tự chủ tài chính qua Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Bình” để đưa ra những giải
pháp nhằm góp phần giải quyết những vấn đề hạn chế, yếu kém trong công tác kiểm
soát chi đối với đơn vị tự chủ tài chính qua Kho bạc Nhà nước hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng và những hạn chế của công
tác kiểm soát chi qua Kho bạc Nhà nước đối với các đơn vị thực hiện cơ chế tự chủ về
tài chính trong thời gian qua, cũng như yêu cầu đổi mới của công tác quản lý ngân sách
nhà nước trong thời gian tới nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát
chi qua Kho bạc Nhà nước đối với các đơn vị thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính, đáp
ứng được yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý, điều hành ngân sách nhà nước, hoàn
thiện quá trình cải cách tài chính công, phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận và thực tiễn của công
tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước.
Cơ chế tự chủ tài chính được áp dụng đối với các cơ quan hành chính nhà
nước và các đơn vị sự nghiệp công lập. Nhưng trong phạm vi nghiên cứu của luận
văn, tác giả chỉ đề cập đến công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước đối với các
cơ quan hành chính nhà nước thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính qua Kho bạc Nhà
nước Quảng Bình, bao gồm các khoản chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua
Kho bạc nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (số liệu chi ngân sách nhà nước từ
năm 2006 đến 2011).
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng các phương pháp luận cơ bản kết hợp các phương pháp điều
tra, quan sát trực tiếp, thông kê, so sánh, phân tích, đối chiếu và tổng hợp.
2
5. Những đóng góp của luận văn
Đề tài đã đi sâu nghiên cứu thực trạng và nguyên nhân còn tồn đọng những
hạn chế công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước đối với
cơ quan hành chính nhà nước thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định
nước thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính tại tỉnh Quảng Bình hiện nay. Trên cơ sở
đó, đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi ngân
sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Quảng Bình.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước đối
với cơ quan hành chính nhà nước thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính qua Kho bạc
Nhà nước
Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà
nước đối với các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện cơ chế tự chủ tài chính qua
Kho bạc Nhà nước Quảng Bình
Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên
ngân sách nhà nước đối với các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện cơ chế tự
chủ tài chính qua Kho bạc Nhà nước Quảng Bình
4
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CƠ QUAN HÀNH
CHÍNH NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ
TÀI CHÍNH QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.1. Lý luận chung về kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho
bạc Nhà nước
1.1.1 Chi ngân sách nhà nước và quản lý chi ngân sách nhà nước
1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của ngân sách nhà nước
* Khái niệm:
Lịch sử nhân loại đã cho thấy, khi xuất hiện Nhà nước thì Nhà nước đó phải
có nguồn lực để bảo vệ chính thể nhà nước và đảm bảo cho các mặt hoạt động phát
triển của mình. Một trong những nguồn lực quan trọng nhất là NSNN. Do đó khi
xuất hiện Nhà nước tất yếu phải có NSNN. NSNN phục vụ cho giai cấp thống trị.
Nó là công cụ để giai cấp thống trị bảo vệ Nhà nước, đảm bảo hoạt động bộ máy
cao nguồn thu của NSNN
- Phục vụ lợi ích chung của nền kinh tế
- Gồm nhiều quỹ khác nhau có các chức năng, nhiềm vụ, quyền hạn riêng, góp
phần thu – chi có hiệu quả hơn.
* Vai trò:
NSNN có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động KT-XH, an ninh quốc
phòng và đối ngoại của đất nước.
- NSNN là công cụ tập trung quyền lực tài chính đảm bảo các khoản chi theo
nguyên tắc cân đối tài chính tích cực
- NSNN là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế
1.1.1.2. Khái niệm, đặc điểm và phân loại về chi ngân sách nhà nước
* Khái niệm:
Chi NSNN là quá trình phân phối, sử dụng quỹ NSNN theo những nguyên tắc
nhất định cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
6
Về thực chất, chi NSNN chính là việc cung cấp các phương tiện tài chính cho việc
thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước. Cho nên, chi NSNN có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, chi NS luôn gắn với nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà
nước phải đảm nhận. Mức độ và phạm vi chi tiêu NSNN phụ thuộc vào nhiệm vụ
của Nhà nước trong từng thời kỳ.
Thứ hai, tính hiệu quả của các khoản chi NSNN được thể hiện ở tầm vĩ mô và
mang tính toàn diện cả về KT-XH, chính trị và ngoại giao.
Thứ ba, các khoản chi NSNN đều là các khoản cấp phát không hoàn trả trực tiếp.
Thứ tư, chi NSNN thường liên quan đến phát triển KT-XH, tạo việc làm mới,
thu nhập, giá cả và lạm pháp,
*Đặc điểm chi NSNN:
Chi NSNN có những đặc điểm chủ chốt sau:
+ Chi NSNN gắn liền với các hoạt động của bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ
kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước.
+ Các khoản chi NSNN mang tính chất không hoàn trả trực tiếp
vay, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính, chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới
1.1.1.3 Quản lý chi ngân sách nhà nước
* Khái niệm quản lý:
Quản lý là một quá trình định hướng và tổ chức thực hiện các mục tiêu đã định
trên cơ sở những nguồn lực xác định nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Đặc điểm của
quản lý là tác động có hướng đích, có mục tiêu xác định; thể hiện mối quan hệ giữa
hai bộ phận là chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.
Hoạt động quản lý bao gồm các chức năng cơ bản: dự báo, hoạch định, tổ
chức, điều hành, kiểm tra, kiểm soát và đánh giá. Trong đó, kiểm tra là chức năng
quan trọng, nó được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý. Kiểm tra
là việc xem xét để đánh giá, phân loại, đo lường các sai lệch nảy sinh trong quá
trình hoạt động so với mục tiêu, kế hoạch đã định để điều chỉnh các mục tiêu hay
định hướng cho các hoạt động. Nếu nội dung kiểm tra cần thời gian dài, mức độ chi
8
tiết, phạm vi rộng, tính chất phức tạp và thường gắn liền với xử lý thì được gọi là
thanh tra. Như vậy giữa kiểm tra và thanh tra không có một ranh giới rõ ràng.
*Khái niệm quản lý chi NSNN
Quản lý chi NS là quá trình Nhà nước vận dụng các quy luật khách quan, sử
dụng hệ thống các phương pháp tác động đến hoạt động chi NSNN nhằm đạt được
hiệu quả cao nhất trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước đảm
nhận
Đối tượng của quản lý chi NSNN là toàn bộ các khoản chi của NSNN được bố
trí để phục vụ cho việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước trong từng giai đoạn
nhất định
Tác động của quản lý chi NSNN mang tính tổng hợp, hệ thống, bao gồm nhiều
biện pháp khác nhau được biểu hiện bằng cơ chế quản lý.
Cơ sở của quản lý chi NSNN là sự vận dụng các quy luật kinh tế - xã hội phù
hợp với thực tiễn khách quan
Mục tiêu của việc quản lý chi NSNN là với một lượng tiền nhất định phải đem
lại kết quả tốt nhất về kinh tế và xã hội; đồng thời giải quyết hài hòa mối quan hệ về
tác quản lý chi NSNN.
*Nguyên tắc quản lý chi NSNN
Quản lý chi NSNN phải tuân thủ các nguyên tắc trong chu trình quản lý chi
NSNN, từ khâu lập dự toán cho tới chấp hành dự toán chi và quyết toán chi NSNN,
cụ thể như sau:
+ Đối với khâu lập dự toán chi NSNN: Dự toán chi NSNN phải được xây
dựng dựa trên các căn cứ khách quan như chiến lược, kế hoạch, mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội của Nhà nước, hệ thống các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn và định
mức chi tiêu hiện hành, từ kết quả phân tích việc chấp hành dự toán chi của những
năm trước …; việc xây dựng dự toán phải đảm bảo chi tiết theo mục lục NSNN hiện
hành và phải sát với nhu cầu thực tế của các đơn vị thụ hưởng ngân sách.
+ Đối với khâu chấp hành dự toán chi NSNN: NSNN phải đảm bảo đáp ứng
đầy đủ, kịp thời mọi nhu cầu chi tiêu của các đơn vị thụ hưởng ngân sách theo dự
10
toán đã được phê duyệt; mọi khoản chi NSNN đều được thanh toán trực tiếp qua
KBNN cho các cơ quan, đơn vị thụ hưởng và các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ
cho Nhà nước; mọi khoản chi NSNN đều phải được KBNN kiểm soát trước khi
thanh toán, chi trả cho các đơn vị; phân định rõ trách nhiệm của người chuẩn chi –
thủ trưởng cơ quan đơn vị với KBNN – kế toán của Nhà nước.
+ Đối với khâu quyết toán NSNN: Phản ánh trung thực, đầy đủ và chính xác
mọi khoản chi của Nhà nước (chi tiết theo mục lục NSNN) theo quy định của Luật
NSNN; đảm bảo đúng trình tự, thủ tục và thời gian theo luật định; phải được kiểm
soát trước khi Quốc hội phê chuẩn
1.1.2. Kiểm soát chi ngân sách nhà nước
1.1.2.1 Khái niệm về kiểm soát trong quản lý
Kiểm soát là một chức năng của quản lý, “ở đâu có quản lý thì ở đó có kiểm tra,
kiểm soát”. Kiểm soát chi (KSC) NSNN cũng vậy, đó là chức năng quản lý Nhà nước
trong lĩnh vực chi NSNN. Trong khuôn khổ của đề tài này tác giả đề cập đến việc
kiểm soát của KBNN đối các khoản chi thường xuyên NSNN. Do vậy, để hiểu được
khái niệm về KSC NSNN chúng ta cần nghiên cứu từ chức năng quản lý nói chung
*Khái niệm
KSC NSNN là quá trình các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thẩm
định, kiểm tra kiểm soát các khoản chi NSNN theo các chính sách, chế độ , tiêu
chuẩn và định mức chi tiêu do Nhà nước quy định dựa trên cơ sở những nguyên tắc,
hình thức và phương pháp quản lý tài chính trong từng thời kỳ.
Tác động của KSC NSNN mang tính tổng hợp, hệ thống bao gồm nhiều biện
pháp khác nhau, được biểu hiện dưới dạng cơ chế kiểm soát.
Cơ sở của KSC NSNN là sự vận dụng các quy luật KT-XH phù hợp với thực
tiễn khách quan.
*Đối tượng của KSC NSNN: là toàn bộ các khoản chi của NSNN được bố trí
để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong từng
thời kỳ lịch sử nhất định.
12
*Phân loại kiểm soát chi NSNN
Có rất nhiều cách phân loại KSC NSNN, nếu phân loại theo thời gian thì có
các hình thức KSC NSNN sau:
- Kiểm soát trước khi chi hay còn gọi là kiểm soát phòng ngừa là loại hình kiểm
soát bao gồm những biện pháp phòng ngừa được áp dụng trước khi một nghiệp vụ phát
sinh, nhằm đề phòng rủi ro, loại trừ các sai phạm trước khi chúng xuất hiện.
- Kiểm soát trong quá trình chi là hoạt động kiểm soát được tiến hành ngay
trong quá trình tác nghiệp nhằm phát hiện, ngăn ngừa sai lầm có thể xảy ra.
- Kiểm soát sau khi đã chi: mặc dù chức năng kiểm tra, phê duyệt báo cáo
quyết toán thuộc về cơ quan tài chính, nhưng về phía Kho bạc cũng cần phải đôn
đốc, nhắc nhở các ĐVSDNS quyết toán các khoản chi đúng chế độ, đúng thời gian
quy định. Thực hiện xác nhận và nhận xét, làm căn cứ để cơ quan tài chính xét
duyệt một cách nhanh chóng và kịp thời.
1.1.2.3. Sự cần thiết phải thực hiện kiểm soát chi ngân sách nhà nước
Thứ nhất, do yêu cầu của công cuộc đổi mới: Đổi mới về cơ chế quản lý tài
chính nói chung và đổi mới cơ chế quản lý NSNN nói riêng, đòi hỏi mọi khoản chi
của NSNN phải đảm bảo chi đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả. Trong điều kiện
không có trong dự toán chi NSNN đã được duyệt hoặc không đúng tiêu chuẩn định
mức chi tiêu của Nhà nước; thiếu hồ sơ, chứng từ có liên quan,…. Vì vậy, cần thiết
phải có cơ quan chức năng có thẩm quyền để thực hiện kiểm tra kiểm soát đối với
các khoản chi của cơ quan, đơn vị có trong dự toán hay không; có đúng mục đích,
đối tượng đã được duyệt không; có đúng chế độ, định mức, tiêu chuẩn chi tiêu
không; có đầy đủ hồ sơ chứng từ thanh toán hay không…. Qua đó, phát hiện và
chấn chỉnh kịp thời các gian lận, sai phạm, sai sót và lãng phí trong việc sử dụng
NSNN của các đơn vị, đảm bảo mọi khoản chi NSNN được sử dụng đúng mục đích,
tiết kiệm và có hiệu quả.
Thứ tư, do tính đặc thù của các khoản chi NSNN: Các khoản chi của NSNN
thường mang tính chất không hoàn trả trực tiếp như các đơn vị được NSNN cấp
14
phát kinh phí sẽ không phải hoàn trả trực tiếp cho Nhà nước về số kinh phí đã sử
dụng; cái mà họ phải hoàn trả cho Nhà nước chính là kết quả công việc đã được
giao. Tuy nhiên, việc dùng các chỉ tiêu định lượng để đánh giá kết quả công việc
trong một số trường hợp sẽ gặp khó khăn và không toàn diện. Do vậy, cần thiết phải
có một cơ quan nhà nước có chức năng, nhiệm vụ để thực hiện kiểm tra kiểm soát
các khoản chi của NSNN để đảm bảo cho việc chi trả của Nhà nước là phù hợp với
các nhiệm vụ đã giao.
Thứ năm, do yêu cầu của mở cửa hội nhập: theo kinh nghiệm của các nước
trên thế giới va khuyến nghị của Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), thì việc kiểm tra, kiểm
soát và thực hiện chi trả trực tiếp các khoản chi NSNN từ KBNN đến từng đối
tượng sử dụng là rất cần thiết, để đảm bảo yêu cầu, kỉ cương quản lý tài chinh và sử
dụng kinh phí NSNN đúng mục đích, có hiệu quả.
1.1.2.4. Trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan, đơn vị trong việc quản
lý, cấp phát và thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước
*Cơ quan tài chính các cấp
Cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm, quyền hạn trong quản lý, cấp phát
các khoản chi NSNN như sau:
Thẩm tra việc phân bổ dự toán NSNN cho các đơn vị sử dụng NSNN. Trường
công tác KSC NSNN qua KBNN, tổ chức bộ máy KBNN được thống nhất từ Trung
ương đến địa phương và thể hiện ở hình 1.1.
Theo sơ đồ 1.1, bộ máy của KBNN được tổ chức thành 3 cấp Tại Kho bạc Nhà nước
Tại KBNN tổ chức quản lý Quỹ ngân sách trung ương; ban hành các văn
bản chế độ hướng dẫn công tác KSC thuộc trách nhiệm và quyền hạn; tổng hợp,
kiểm tra và giám sát tình hình quản lý, KSC NSNN của các cấp chính quyền
địa phương.
16
Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Kho bạc Nhà nước
*Tại Kho bạc Nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
KBNN tỉnh, thành phố thực hiện kiểm soát và thanh toán, chi trả các khoản
chi của NS tỉnh, thành phố và các khoản chi NS Trung ương theo ủy quyền hoặc
các nhiệm vụ chi do KBNN thông báo; hướng dẫn, tổng hợp, kiểm tra công tác
KSC NSNN của KBNN các huyện trực thuộc.
*Tại Kho bạc Nhà nước quận, huyện, thị xã
KBNN quận, huyện thực hiện kiểm soát, thanh toán, chi trả các khoản chi của
NS huyện, NS xã và các khoản chi của NS trung ương, NS tỉnh ủy quyền hoặc các
nhiệm vụ chi do KBNN tỉnh thông báo.
1.1.3.2 Nội dung công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc
Nhà nước
KSC NSNN qua KBNN là việc KBNN thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát các
khoản chi NSNN theo các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi tiêu do
Nhà nước quy định theo những nguyên tắc, hình thức và phương pháp quản lý tài
chính trong quá trình cấp phát, thanh toán và chi trả các khoản chi của NSNN.
Nội dung KSC NSNN của KBNN bao gồm:
- Kiểm tra, kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ chi thường xuyên
17
KBNN
Các Vụ
chức năng
chữa, mua sắm trang thiết bị phương tiện làm việc phải thực hiện đúng các quy định
về hình thức đấu thầu, chọn nhà thầu phù hợp hoặc phải thẩm định giá theo quy
định; Các khoản chi có tính chất thường xuyên được chia đều cho 12 tháng trong
18
năm để chi, các khoản chi có tính chất thời vụ hoặc chỉ phát sinh vào một số thời
điểm như đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm, sửa chữa lớn và các khoản chi có tính
chất không thường xuyên khác phải thực hiện theo dự toán năm.
1.2. Kiểm soát chi ngân sách nhà nước đối với các cơ quan hành chính
nhà nước thực hiện cơ chế tự chủ tài chính qua Kho bạc nhà nước
1.2.1 Khái quát về cơ chế tự chủ tài chính đối với cơ quan hành chính nhà nước
1.2.1.1. Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước
* Khái niệm:
Cơ quan hành chính nhà nước (CQHCNN) là những chủ thể chủ yếu của quy
phạm pháp luật hành chính. Là những cơ quan thực hiện các loại hoạt động chấp
hành điều hành đối với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội mà khi thực hiện
các nhiệm vụ này CQHCNN phải phục tùng hành chính Nhà nước.
Nền hành chính nhà nước là hệ thống các CQHCNN ở Trung ương và chính
quyền địa phương, cơ sở, gắn với hệ thống thể chế hành chính nhà nước, đội ngũ
cán bộ công chức (CBCC) và hệ thống quản lý tài chính công, tài sản công để thực
thi quyền hành pháp nhằm quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội.
* Đặc điểm chung của các cơ quan trong bộ máy nhà nước là được Nhà
nước thành lập để thực hiện chức năng nhiệm vụ của nhà nước và có tính quyền lực
nhà nước thể hiện trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn Luật định cơ quan
nhà nước ra các quy định có tính chất bắt buộc thi hành đối với những người có liên
quan. Đồng thời kiểm tra việc thực hiện quyết định và trong trường hợp cần thiết có
quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp Luật.
* Đặc trưng của cơ quan hành chính:
Hoạt động của cơ quan hành chính mang tính thường xuyên, liên tục tương đối
ổn định là cầu nối trực tiếp đưa đường lối chính sách pháp Luật vào cuộc sống.
Các cơ quan hành chính là hệ thống rất phức tạp có số lượng đông đảo nhất có
hoạt động thường xuyên của các cơ quan quản lý nhà nước, được phân bổ vào một
nhóm mục chi để tạo thuận lợi chủ động cho các cơ quan, đơn vị trong quá trình chi
20
tiêu thực hiện nhiệm vụ;
Quyền của cơ quan được giao tự chủ, tự chịu trách nhiệm: Được tự quyết định
bố trí số kinh phí được giao tự chủ vào các mục chi cho phù hợp; được quyền điều
chỉnh giữa các mục chi (điều chỉnh thực hiện nhiệm vụ này sang thực hiện nhiệm vụ
khác) nếu xét thấy cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đồng thời phải xây
dựng quy chế chi tiêu nội bộ nhưng không được vượt mức chi, chế độ chi do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành;
Kinh phí tiết kiệm được sử dụng: bổ sung thu nhập cho CBCC; chi khen
thưởng, phúc lợi; trích lập quỹ dự phòng để ổn định thu nhập cho CBCC (nếu thấy
cần thiết);
Kinh phí được giao tự chủ cuối năm chưa sử dụng hết được chuyển nguồn
sang năm sau tiếp tục sử dụng.
*Đối với khoản kinh phí không giao tự chủ:
Gồm các khoản chi không thường xuyên (đã có mục tiêu cụ thể) như: Chi sửa
chữa lớn, kinh phí mua sắm tài sản cố định mà kinh phí thường xuyên không đáp
ứng được; chi đóng niên liễm cho các tổ chức quốc tế; vốn đối ứng các dự án; kinh
phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao; kinh phí thực hiện
chương trình mục tiêu quốc gia; kinh phí tinh giản biên chế; kinh phí nghiên cứu
khoa học; kinh phí đào tạo lại; vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
Kinh phí không giao tự chủ được phân bổ và kiểm soát chi theo quy định hiện
hành của Luật NSNN; cuối năm không sử dụng hết phải nộp trả NSNN.
*Phương pháp xác định kinh phí giao tự chủ:
Được xác định trên số biên chế được giao, định mức phân bổ ngân sách theo
quy định của Thủ tướng Chính phủ và các hoạt động đặc thù hàng năm của từng cơ
quan. Ngoài nguồn kinh phí NSNN cấp theo quy định, kinh phí giao tự chủ còn bao
gồm: Thu phí, lệ phí được để lại theo chế độ quy định; các khoản thu hợp pháp khác
được pháp luật cho phép.
cho các hoạt động phúc lợi, chi phục vụ các hoạt động nghiệp vụ.
Số kinh phí tiết kiệm được, cuối năm chưa sử dụng hết được chuyển sang năm
22