LỜI CẢM ƠN
Tôi xin kính gửi lời cám ơn chân thành tới : Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng
Kế toán Ngân sách Nhà nước, Phòng Tổng hợp Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng
Bình, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã tạo điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn
thành luận văn này.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn tới PGS.TS Lê Hùng Sơn đã trực tiếp
hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Thầy đã chỉ dạy cho tôi nhiều kiến thức và kỹ năng tổng hợp các lý luận, kiến thức
thực tiễn quản lý và phương pháp làm việc khoa học trong công tác và nghiên cứu,
các định hướng hoàn thiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo và các đồng nghiệp đã giúp
đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin trân trọng cảm ơn./.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2012
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Tú Linh
MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
KBNN
: Kho bạc Nhà nước
: Cán bộ công chức
KQKB
: Kho quỹ Kho bạc
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
BẢNG
Bảng 2.3: Kết quả thực hiện cơ chế tự chủ của các cơ quan hành chính nhà nước
tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2007 - 2011...........Error: Reference source not found
Bảng 2.4: Tình hình chi thường xuyên NSNN qua KBNN Quảng Bình...........Error:
Reference source not found
giai đoạn 2006 - 2011...............................................Error: Reference source not found
Bảng 2.5: Kết quả KSC thường xuyên NSNN qua KBNN Quảng Bình giai đoạn
năm 2006 đến 2011...................................................Error: Reference source not found
HÌNH
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách tài chính công là 1 trong 4 mục tiêu quan trọng của chương trình
tổng thể “Cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010” mà Thủ tướng
Chính phủ đã phê duyệt theo Quyết định số 136/2001/QĐ- Ttg ngày 17-9-2001.
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 130/200005/NĐ-CP và 43/2005/NĐ-CP , quy
định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý
tự chủ tài chính qua Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Bình” để đưa ra những giải
pháp nhằm góp phần giải quyết những vấn đề hạn chế, yếu kém trong công tác KSC
chi đối với đơn vị TCTC qua KBNN hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng và những hạn chế của công
tác KSC qua KBNN đối với các đơn vị thực hiện cơ chế TCTC trong thời gian qua,
cũng như yêu cầu đổi mới của công tác quản lý NSNN trong thời gian tới nhằm đưa ra
các giải pháp hoàn thiện công tác KSC qua KBNN đối với các đơn vị thực hiện cơ chế
TCTC, đáp ứng được yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý, điều hành NSNN, hoàn
thiện quá trình cải cách tài chính công, phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận và thực tiễn của công
tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN.
Cơ chế tự chủ tài chính được áp dụng đối với các CQHCNN và các đơn vị sự
nghiệp công lập. Nhưng trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ đề cập
đến công tác KSC NSNN đối với các CQHCNN thực hiện cơ chế TCTC qua KBNN
Quảng Bình, bao gồm các khoản chi thường xuyên NSNN qua KBNN trên địa bàn
tỉnh Quảng Bình (số liệu chi NSNN từ năm 2006 đến 2011).
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng các phương pháp luận cơ bản kết hợp các phương pháp điều
tra, quan sát trực tiếp, thống kê, so sánh, phân tích, đối chiếu và tổng hợp.
5. Những đóng góp của luận văn
Đề tài đã đi sâu nghiên cứu thực trạng và nguyên nhân còn tồn đọng những
hạn chế công tác KSC NSNN qua KBNN đối với CQHCNN thực hiện cơ chế
KBNN tỉnh Quảng Bình.
4
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước đối
với cơ quan hành chính nhà nước thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính qua Kho bạc
Nhà nước
Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà
nước đối với các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện cơ chế tự chủ tài chính qua
Kho bạc Nhà nước Quảng Bình
Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên
ngân sách nhà nước đối với các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện cơ chế tự
chủ tài chính qua Kho bạc Nhà nước Quảng Bình
5
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CƠ QUAN HÀNH
CHÍNH NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ
TÀI CHÍNH QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.1. Lý luận chung về kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho
bạc Nhà nước
1.1.1 Chi ngân sách nhà nước và quản lý chi ngân sách nhà nước
1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của ngân sách nhà nước
* Khái niệm:
hay bãi bỏ một khoản thu, chi nào của NSNN cũng chỉ có một cơ quan quyền lực
cao nhất của Nhà nước - Quốc hội quyết định. Mặt khác tính quyền lực của Nhà
nước đối với NSNN còn thể hiện ở chỗ Chính phủ không thể thực hiện thu, chi NS
một cách tuỳ tiện mà phải dựa trên cơ sở pháp lý đã được xác định trong các văn
bản pháp luật do cơ quan quyền lực của nhà nước ban hành.
Thứ hai là có hai mặt thu và chi: giữ vai trò quyết định, có ý nghĩa lớn trong
việc nâng cao nguồn thu của NSNN
Thứ ba là NSNN gồm nhiều quỹ khác nhau có các chức năng, nhiềm vụ,
quyền hạn riêng, góp phần thu – chi có hiệu quả hơn, phục vụ lợi ích chung của nền
kinh tế.
* Vai trò:
NSNN có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động KT-XH, an ninh quốc
phòng và đối ngoại của đất nước. NSNN là công cụ tập trung quyền lực tài chính
đảm bảo các khoản chi theo nguyên tắc cân đối tài chính tích cực và là công cụ điều
tiết vĩ mô nền kinh tế.
1.1.1.2. Khái niệm, đặc điểm và phân loại về chi ngân sách nhà nước
* Khái niệm:
Chi NSNN là quá trình phân phối, sử dụng quỹ NSNN theo những nguyên tắc
nhất định cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
*Đặc điểm chi NSNN:
7
Về thực chất, chi NSNN chính là việc cung cấp các phương tiện tài chính cho việc
thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước. Cho nên, chi NSNN có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, chi NS luôn gắn với nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà
nước phải đảm nhận. Mức độ và phạm vi chi tiêu NSNN phụ thuộc vào nhiệm vụ
của Nhà nước trong từng thời kỳ.
Thứ hai, tính hiệu quả của các khoản chi NSNN được thể hiện ở tầm vĩ mô và
1.1.1.3 Quản lý chi ngân sách nhà nước
* Khái niệm quản lý:
Quản lý là một quá trình định hướng và tổ chức thực hiện các mục tiêu đã định
trên cơ sở những nguồn lực xác định nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Đặc điểm của
quản lý là tác động có hướng đích, có mục tiêu xác định; thể hiện mối quan hệ giữa
hai bộ phận là chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.
Hoạt động quản lý bao gồm các chức năng cơ bản: dự báo, hoạch định, tổ chức,
điều hành, kiểm tra kiểm soát và đánh giá. Trong đó, kiểm tra kiểm soát là chức năng
quan trọng, nó được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý. Kiểm tra là
việc xem xét để đánh giá, phân loại, đo lường các sai lệch nảy sinh trong quá trình
hoạt động so với mục tiêu, kế hoạch đã định để điều chỉnh các mục tiêu hay định
hướng cho các hoạt động. Nếu nội dung kiểm tra cần thời gian dài, mức độ chi tiết,
phạm vi rộng, tính chất phức tạp và thường gắn liền với xử lý thì được gọi là thanh
tra. Như vậy giữa kiểm tra và thanh tra không có một ranh giới rõ ràng.
* Khái niệm quản lý chi NSNN:
Quản lý chi NS là quá trình Nhà nước vận dụng các quy luật khách quan, sử dụng
hệ thống các phương pháp tác động đến hoạt động chi NSNN nhằm đạt được hiệu quả
cao nhất trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước đảm nhận.
Đối tượng của quản lý chi NSNN là toàn bộ các khoản chi của NSNN được bố trí
để phục vụ cho việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước trong từng giai đoạn nhất định
Tác động của quản lý chi NSNN mang tính tổng hợp, hệ thống, bao gồm nhiều
biện pháp khác nhau được biểu hiện bằng cơ chế quản lý.
Cơ sở của quản lý chi NSNN là sự vận dụng các quy luật KT-XH phù hợp với
9
thực tiễn khách quan.
Mục tiêu của việc quản lý chi NSNN là với một lượng tiền nhất định phải đem
lại kết quả tốt nhất về KT-XH; đồng thời giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích
tác quản lý chi NSNN.
* Nguyên tắc quản lý chi NSNN
Quản lý chi NSNN phải tuân thủ các nguyên tắc trong chu trình quản lý chi
NSNN, từ khâu lập dự toán cho tới chấp hành dự toán chi và quyết toán chi NSNN,
cụ thể như sau:
+ Đối với khâu lập dự toán chi NSNN: Dự toán chi NSNN phải được xây
dựng dựa trên các căn cứ khách quan như chiến lược, kế hoạch, mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội của Nhà nước, hệ thống các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn và định
mức chi tiêu hiện hành, từ kết quả phân tích việc chấp hành dự toán chi của những
năm trước …; việc xây dựng dự toán phải đảm bảo chi tiết theo mục lục NSNN hiện
hành và phải sát với nhu cầu thực tế của các đơn vị thụ hưởng NS.
+ Đối với khâu chấp hành dự toán chi NSNN: NSNN phải đảm bảo đáp ứng
đầy đủ, kịp thời mọi nhu cầu chi tiêu của các đơn vị thụ hưởng ngân sách theo dự
toán đã được phê duyệt; mọi khoản chi NSNN đều được thanh toán trực tiếp qua
KBNN cho các cơ quan, đơn vị thụ hưởng và các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ
cho Nhà nước; mọi khoản chi NSNN đều phải được KBNN kiểm soát trước khi
thanh toán, chi trả cho các đơn vị; phân định rõ trách nhiệm của người chuẩn chi –
thủ trưởng cơ quan đơn vị với KBNN – kế toán của Nhà nước.
+ Đối với khâu quyết toán NSNN: Phản ánh trung thực, đầy đủ và chính xác
mọi khoản chi của Nhà nước (chi tiết theo mục lục NSNN) theo quy định của Luật
NSNN; đảm bảo đúng trình tự, thủ tục và thời gian theo luật định; phải được kiểm
soát trước khi Quốc hội phê chuẩn
1.1.2. Kiểm soát chi ngân sách nhà nước
1.1.2.1 Khái niệm về kiểm soát trong quản lý
Kiểm soát là công việc nhằm soát xét lại những quy định, những quá trình thực thi
các quyết định quản lý được thể hiện trên các nghiệp vụ để nắm bắt, điều hành và quản
lý. Nói một cách chung nhất, kiểm soát được hiểu là tổng hợp những phương sách để
nắm bắt và điều hành đối tượng quản lý. Như vậy có thể hiểu cấp trên kiểm soát cấp
phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời
kỳ lịch sử nhất định.
12
*Phân loại kiểm soát chi NSNN
Có rất nhiều cách phân loại KSC NSNN, nếu phân loại theo thời gian thì có
các hình thức KSC NSNN sau:
Kiểm soát trước khi chi hay còn gọi là kiểm soát phòng ngừa là loại hình kiểm soát
bao gồm những biện pháp phòng ngừa được áp dụng trước khi một nghiệp vụ phát sinh,
nhằm đề phòng rủi ro, loại trừ các sai phạm trước khi chúng xuất hiện.
Kiểm soát trong quá trình chi là hoạt động kiểm soát được tiến hành ngay
trong quá trình tác nghiệp nhằm phát hiện, ngăn ngừa sai lầm có thể xảy ra.
Kiểm soát sau khi đã chi: mặc dù chức năng kiểm tra, phê duyệt báo cáo quyết
toán thuộc về cơ quan tài chính, nhưng về phía Kho bạc cũng cần phải đôn đốc,
nhắc nhở các ĐVSDNS quyết toán các khoản chi đúng chế độ, đúng thời gian quy
định. Thực hiện xác nhận và nhận xét, làm căn cứ để cơ quan tài chính xét duyệt
một cách nhanh chóng và kịp thời.
1.1.2.3. Sự cần thiết phải thực hiện kiểm soát chi ngân sách nhà nước
Thứ nhất, do yêu cầu của công cuộc đổi mới: Đổi mới về cơ chế quản lý tài
chính nói chung và đổi mới cơ chế quản lý NSNN nói riêng, đòi hỏi mọi khoản chi
của NSNN phải đảm bảo chi đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả. Trong điều kiện
hiện nay, khi khả năng của NSNN còn khá hạn hẹp mà nhu cầu chi phát triển kinh tế
xã hội ngày càng tăng thì việc kiểm soát chặt chẽ các khoản chi NSNN thực sự là
mối quan tâm hàng đầu của Nhà nước, các ngành và các cấp. Thực hiện tốt công tác
này có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện tiết kiệm chống lãng phí nhằm tập
trung mọi nguồn lực tài chính để phát triển KT-XH, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn
định tiền tệ và lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia; đồng thời, cũng góp phần
không; có đầy đủ hồ sơ chứng từ thanh toán hay không…. Qua đó, phát hiện và
chấn chỉnh kịp thời các gian lận, sai phạm, sai sót và lãng phí trong việc sử dụng
NSNN của các đơn vị, đảm bảo mọi khoản chi NSNN được sử dụng đúng mục đích,
tiết kiệm và có hiệu quả.
Thứ tư, do tính đặc thù của các khoản chi NSNN: Các khoản chi của NSNN
thường mang tính chất không hoàn trả trực tiếp như các đơn vị được NSNN cấp
14
phát kinh phí sẽ không phải hoàn trả trực tiếp cho Nhà nước về số kinh phí đã sử
dụng; cái mà họ phải hoàn trả cho Nhà nước chính là kết quả công việc đã được
giao. Tuy nhiên, việc dùng các chỉ tiêu định lượng để đánh giá kết quả công việc
trong một số trường hợp sẽ gặp khó khăn và không toàn diện. Do vậy, cần thiết phải
có một cơ quan nhà nước có chức năng, nhiệm vụ để thực hiện kiểm tra kiểm soát
các khoản chi của NSNN để đảm bảo cho việc chi trả của Nhà nước là phù hợp với
các nhiệm vụ đã giao.
Thứ năm, do yêu cầu của mở cửa hội nhập: theo kinh nghiệm của các nước
trên thế giới va khuyến nghị của Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), thì việc kiểm tra, kiểm
soát và thực hiện chi trả trực tiếp các khoản chi NSNN từ KBNN đến từng đối
tượng sử dụng là rất cần thiết, để đảm bảo yêu cầu, kỉ cương quản lý tài chinh và sử
dụng kinh phí NSNN đúng mục đích, có hiệu quả.
1.1.2.4. Trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan, đơn vị trong việc quản
lý, cấp phát và thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước
Cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm, quyền hạn trong quản lý, cấp phát
các khoản chi NSNN như sau: thẩm tra việc phân bổ dự toán NSNN cho các đơn vị
sử dụng NSNN. Trường hợp việc phân bổ không phù hợp với nội dung trong dự
toán do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao, không đúng chính sách, chế độ, tiêu
chuẩn, định mức, thì yêu cầu cơ quan phân bổ NS điều chỉnh lại; bố trí nguồn để
đáp ứng nhu cầu chi, trường hợp nhu cầu chi vượt quá khả năng thu và huy động
Các Vụ
chức năng
KBNN tỉnh, thành
phố
KBNN quận,
huyện
Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Kho bạc Nhà nước
Theo sơ đồ 1.1, bộ máy của KBNN được tổ chức thành 3 cấp tại KBNN
Tại KBNN tổ chức quản lý Quỹ ngân sách trung ương; ban hành các văn bản chế
16
độ hướng dẫn công tác KSC thuộc trách nhiệm và quyền hạn; tổng hợp, kiểm tra và giám
sát tình hình quản lý, KSC NSNN của các cấp chính quyền địa phương.
KBNN tỉnh, thành phố thực hiện kiểm soát và thanh toán, chi trả các khoản
chi của NS tỉnh, thành phố và các khoản chi NS Trung ương theo ủy quyền hoặc
các nhiệm vụ chi do KBNN thông báo; hướng dẫn, tổng hợp, kiểm tra công tác
KSC NSNN của KBNN các huyện trực thuộc.
KBNN quận, huyện thực hiện kiểm soát, thanh toán, chi trả các khoản chi của
NS huyện, NS xã và các khoản chi của NS trung ương, NS tỉnh ủy quyền hoặc các
nhiệm vụ chi do KBNN tỉnh thông báo.
1.1.3.2 Nội dung công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc
Nhà nước
KSC NSNN qua KBNN là việc KBNN thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát các
khoản chi NSNN theo các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi tiêu do
Nhà nước quy định theo những nguyên tắc, hình thức và phương pháp quản lý tài
chính trong quá trình cấp phát, thanh toán và chi trả các khoản chi của NSNN.
Nội dung KSC NSNN của KBNN bao gồm:
năm để chi, các khoản chi có tính chất thời vụ hoặc chỉ phát sinh vào một số thời
điểm như đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm, sửa chữa lớn và các khoản chi có tính
chất không thường xuyên khác phải thực hiện theo dự toán năm.
1.2. Kiểm soát chi ngân sách nhà nước đối với các cơ quan hành chính
nhà nước thực hiện cơ chế tự chủ tài chính qua Kho bạc nhà nước
1.2.1 Khái quát về cơ chế tự chủ tài chính đối với cơ quan hành chính nhà nước
1.2.1.1. Khái niệm và đặc điểm cơ quan hành chính nhà nước
Theo Giáo trình Luật hành chính Việt Nam do PGS. TS Nguyễn Cửu Việt biên
soạn, cơ quan hành chính nhà nước có khái niệm và những đặc điểm như sau:
* Khái niệm:
Cơ quan hành chính nhà nước là một loại cơ quan trong bộ máy nhà nước,
được thành lập theo quy định của pháp luật, có tổ chức và hoạt động theo quyết
định của pháp luật; sử dụng quyền lực nhà nước thực thi chức năng, nhiệm vụ trong
18
phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định.
CQHCNN là một loại cơ quan thuộc quyền lực Hành pháp, được lập ra để
thực thi pháp luật do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành. Thẩm quyền chỉ giới
hạn trong phạm vi chấp hành, điều hành và chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực
cùng cấp. Tổ chức của CQHCNN có mối quan hệ trực thuộc theo một thứ bậc chặt
chẽ (quan hệ mệnh lệnh) tạo thành một hệ thống thống nhất từ Trung ương xuống
các cấp ở địa phương.
Chức năng quan trọng và chủ yếu của CQHCNN là quản lý, điều hành các lĩnh
vực đời sống KT-XH một cách độc lập tương đối trong phạm vi một quốc gia hay
một địa phương nhất định.
* Đặc điểm của cơ quan hành chính nhà nước:
CQHCNN là một loại cơ quan nhà nước, là một bộ phận cấu thành bộ máy
nhà nước. Do vậy, CQHCNN cũng mang đầy đủ các đặc điểm chung của các cơ
vực nhất định.
Hai là, CQHCNN nói chung là cơ quan chấp hành, điều hành của cơ quan
quyền lực nhà nước.
Thẩm quyền của các CQHCNN chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp
hành, điều hành. Hoạt động chấp hành – điều hành hay còn gọi là hoạt ddoognj
quản lý hành chính nhà nước là phương diện hoạt động chủ yếu của CQHCNN.
Các CQHCNN đều trực tiếp hoặc gián tiếp phụ thuộc vào cơ quan quyền lực
nhà nước, chịu sự lãnh đạo, giám sát, kiểm tra của các cơ quan quyền lực nhà nước
cấp tương ứng và chịu trách nhiệm báo cáo trước cơ quan đó.
Các CQHCNN có quyền thành lập ra các cơ quan chuyên môn để giúp cho
CQHCNN hoàn thành nhiệm vụ.
Ba là, CQHCNN là hệ thống cơ quan có mối liên hệ chặt chẽ và có đối tượng
quản lý rộng lớn. CQHCNN là một hệ thống cơ quan được thành lập từ trung ương
đến cơ sở, đứng đầu là chính phủ, tạo thành một chỉnh thể thống nhất, được tổ chức
theo hệ thống thứ bậc, có mối quan hệ mật thiết phụ thuộc nhau về tổ chức và hoạt
động nhằm thực thi quyền quản lý hành chính nhà nước.
Hầu hết các CQHCNN đều có hệ thống các đơn vị cơ sở trực thuộc. Các đơn
vị, cơ sở của bộ máy hành chính nhà nước là nơi trực tiếp tạo ra của cải vật chất và
20
tinh thần cho xã hội.
Bốn là, hoạt động của CQHCNN mang tính thường xuyên, liên tục và tương
đối ổn định, là cầu nối đưa đường lối, chính sách pháp luật vào cuộc sống.
Tất cả các CQHCNN có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đó là mối quan hệ
trực thuộc trên – dưới, trực thuộc ngang – dọc, quan hệ chéo… tạo thành một hệ
thống thống nhất mà trung tâm chỉ đạo là Chính phủ.
Năm là, CQHCNN có chức năng quản lý nhà nước dưới hai hình thức là ban
hành các văn bản quy phạm và văn bản cá biệt trên cơ sở pháp luật và các văn bản
của các CQHCNN cấp trên nhằm chấp hành, thực hiện các văn bản đó. Mặt khác
nhóm mục chi để tạo thuận lợi chủ động cho các cơ quan, đơn vị trong quá trình chi
tiêu thực hiện nhiệm vụ.
Quyền của cơ quan được giao tự chủ, tự chịu trách nhiệm: được tự quyết định
bố trí số kinh phí được giao tự chủ vào các mục chi cho phù hợp; được quyền điều
chỉnh giữa các mục chi (điều chỉnh thực hiện nhiệm vụ này sang thực hiện nhiệm vụ
khác) nếu xét thấy cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đồng thời phải xây
dựng quy chế chi tiêu nội bộ nhưng không được vượt mức chi, chế độ chi do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
Kinh phí được giao tự chủ cuối năm chưa sử dụng hết được chuyển nguồn
sang năm sau tiếp tục sử dụng.
*Đối với khoản kinh phí không giao tự chủ:
Gồm các khoản chi không thường xuyên (đã có mục tiêu cụ thể) như: Chi sửa
chữa lớn, kinh phí mua sắm tài sản cố định mà kinh phí thường xuyên không đáp
ứng được; chi đóng niên liễm cho các tổ chức quốc tế; vốn đối ứng các dự án; kinh
phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao; kinh phí thực hiện
chương trình mục tiêu quốc gia; kinh phí tinh giản biên chế; kinh phí nghiên cứu
khoa học; kinh phí đào tạo lại; vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
Kinh phí không giao tự chủ được phân bổ và kiểm soát chi theo quy định hiện
hành của Luật NSNN; cuối năm không sử dụng hết phải nộp trả NSNN.
*Phương pháp xác định kinh phí giao tự chủ:
Được xác định trên số biên chế được giao, định mức phân bổ ngân sách theo
quy định của Thủ tướng Chính phủ và các hoạt động đặc thù hàng năm của từng cơ
quan. Ngoài nguồn kinh phí NSNN cấp theo quy định, kinh phí giao tự chủ còn bao
gồm: Thu phí, lệ phí được để lại theo chế độ quy định; các khoản thu hợp pháp khác
22
được pháp luật cho phép.
*Sử dụng kinh phí quản lý hành chính tiết kiệm được:
Kết thúc năm ngân sách, sau khi được cơ quan quản lý cấp trên đánh giá đã