LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa
học độc lập của tác giả. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung
thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả
NGUYỄN THỊ CHINH
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban lãnh đạo Trường Đại học
Kinh tế quốc dân, Viện đào tạo Sau đại học, các Thầy giáo, Cô giáo của trường
đã đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức lý luận và phương pháp nghiên cứu để tôi
thực hiện luận văn này.
Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Trần Quý Liên,
người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện
và hoàn thiện luận văn.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Thầy, Cô giáo trong Hội đồng
bảo vệ luận văn đã chỉ dẫn, bổ sung những ý kiến quý báu giúp tôi nhận thức sâu
sắc hơn về nội dung nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các nhà quản lý, các cán bộ nhân viên Công ty Liên
doanh TNHH Flexcon Việt Nam đã tạo điều kiện cung cấp cho tôi những số liệu và
thông tin hữu ích để thực hiện luận văn.
Sau cùng, tôi xin chân thành cảm ơn những người bạn, những đồng nghiệp và
gia đình đã dành cho tôi sự động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong quá trình học
tập và thực hiện luận văn.
Một lần nữa, tôi xin phép được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc của mình.
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Thị Chinh
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BHXH
BHYT
Dư đầu kỳ
Tổng sản phẩm quốc nội
(Gross Domestic Product)
Giá trị gia tăng
Giá thành sản phẩm
Kiểm tra chất lượng sản phẩm
Kê khai thường xuyên
Kiểm kê định kỳ
Kinh phí công đoàn
Liên doanh
Nhân công trực tiếp
Nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu trực tiếp
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
(Small and medium enterprise)
Sản phẩm dở dang
Sản phẩm hỏng ngoài định mức
Sản xuất
SXKD
TK
TNHH
THNSX
VND
XDCB
Sản xuất kinh doanh
Tài khoản
Trách nhiệm hữu hạn
Thiệt hại ngừng sản xuất
Việt nam đồng
Xây dựng cơ bản
i
Chương 2: Cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong doanh nghiệp.
Chương 3: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
hàng may mặc gia công tại Công ty Liên doanh TNHH Flexcon Việt Nam
Chương 4: Đánh giá thực trạng và các giải pháp đề xuất hoàn thiện kế toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm hàng may mặc gia công tại Công ty Liên
doanh TNHH Flexcon Việt Nam”.
Trong Chương 1, Tác giả trình bày các vấn đề bao gồm: Tính cấp thiết của đề
tài, Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu; Mục
tiêu nghiên cứu; Câu hỏi nghiên cứu; Phạm vi nghiên cứu; Phương pháp nghiên
cứu; Ý nghĩa của việc nghiên cứu; Kết cấu và nội dung đề tài.
Trong Chương 2, Tác giả trình bày cơ sở lý luận về kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp.
Trong quá trình nghiên cứu các khái niệm, sự phân loại chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm cũng như mối quan hệ của chúng được tác giả đưa ra nghiên cứu
dưới nhiều góc độ khác nhau nhằm thấy được tác dụng của chúng trong việc quản lý
hoạt động sản xuất kinh doanh và đem lại hiệu quả cao đối với doanh nghiệp.
Trong Chương 3, Tác giả trình bày khái quát quá trình hình thành và phát
triển, chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty Liên doanh
TNHH Flexcon Việt Nam. Tác giả tập trung khảo sát thực trạng kế toán chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Cuối chương 3, tác giả đánh giá và
khái quát lại thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành của Công ty.
Chương 4, Tác giả đưa ra một số vấn đề để thảo luận kết quả nghiên cứu, các
giải pháp đề xuất và kết luận về công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại Công ty Liên doanh TNHH Flexcon Việt Nam.
Tác giả khái quát những ưu điểm trong công tác kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm tại Công ty LD TNHH Flexcon Việt Nam như sau:
Thứ nhất, xét về cơ bản, doanh nghiệp đã chấp hành tương đối nghiêm chỉnh
chế độ kế toán và Luật kế toán do nhà nước ban hành.
iii
Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo hình thức bộ máy kế toán tập
trung, toàn bộ công tác kế toán đều do Trưởng phòng TCKT điều hành, hiện nay
Phòng kế toán gồm 5 kế toán viên, các phần hành kế toán được thực hiện và tự kiểm
tra bởi các kế toán viên. Công ty không có kế toán trưởng và kế toán tổng hợp, mọi
nhiệm vụ của kế toán trưởng và kế toán tổng hợp được thực hiện bởi Trưởng phòng
TCKT. Có một tồn tại đó là, Trưởng phòng TCKT là người nước ngoài do đó chưa
hiểu hết được chế độ kế toán cũng như luật kế toán Việt Nam, Điều này là một
trong những bất cập mà hiện Công ty vẫn chưa giải quyết được và cấp quản lý cũng
không coi đó là một nhược điểm.
Thứ hai, về mặt tổ chức hệ thống thông tin kế toán tại Công ty,
- Hệ thống tài khoản đang sử dụng: mặc dù công ty đã xây dựng một hệ thống
các tài khoản kế toán riêng tương đối phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình dựa trên Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 , tuy
nhiên Công ty lại không sử dụng các tài khoản kế toán như tài khoản 151 – Hàng
mua đang đi đường, TK 152 – Nguyên liệu, vật liệu; TK 153 – Công cụ, dụng cụ;
TK 156 – Hàng hóa; TK 157 – Hàng gửi bán; TK 159 - Dự phòng giảm giá hàng
tồn kho; TK 142 – Chi phí trả trước ngắn hạn; TK 531 – Hàng bán bị trả lại; TK
532 - Giảm giá hàng bán; Tk 611 – Mua hàng; TK 631 – Giá thành sản xuất; TK
002 - Vật tư hàng hóa nhận giữ hộ, nhận gia công. Đặc biệt những tài khoản này
liên quan và có ảnh hưởng rất lớn trong công tác chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm của doanh nghiệp.
- Phương pháp kế toán hàng toán hàng tồn kho: là doanh nghiệp sản xuất
nhưng công ty không áp dụng phương pháp kế toán hàng tồn kho nào trong số hai
phương pháp kê khai thường xuyên và kiểm kê định kỳ. Đây là một trong những
nhược điểm rất lớn trong công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại Công ty. Trong quá trình tổng hợp chi phí sản xuất, phế liệu thu hồi được
nhập vào kho nhưng sẽ không được ghi giảm chi phí.
Thứ ba là việc đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ:
Khi đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ, phần chi phí chế biến tính cho sản
bàn Tỉnh Bắc Giang, Phòng kế toán và Phòng XNK được bố trí tại Hà Nội), do đó
việc lưu chuyển chứng từ còn gặp nhiều khó khăn.
Hơn nữa công ty lại không hề có một quy định nào về việc thu nạp chứng từ
sau bao nhiêu ngày kể từ ngày phát sinh nghiệp vụ kinh tế dẫn đến một số bất cập
tiêu biểu như: chứng từ phát sinh của tháng này nhưng đến tháng sau nhân viên kinh
tế ở các bộ phận mới gửi về phòng kế toán, trong quá trình lưu chuyển chứng từ
thường xuyên xảy ra tình trạng mất mát, nhàu nát, bẩn chứng từ,…những bất cấp
này ảnh hưởng đến việc ghi nhận chi phí sản xuất kinh doanh không được đúng kỳ,
do đó ảnh hưởng đến tính chính xác của các báo cáo chi phí.
Thứ ba, việc kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp hiện nay mới chỉ dừng ở
mức tổng hợp và so sánh mà chưa xây dựng thành hệ thống. Doanh nghiệp cũng
chưa lập được dự toán chi phí và dự toán giá thành định kỳ nên quá sản xuất sản
v
phẩm của Công ty vẫn được tiến hành ngoài tầm kiểm soát chi phí.
Công ty yêu cầu các bộ phận cắt giảm giảm chi phí nhưng chính công tác quản
lý kho nguyên vật liệu và thành phẩm của doanh nghiệp còn nhiều tồn tại, dẫn đến
khi tập hợp chi phí NVL trực tiếp luôn không có phần cắt giảm chi phí cho phế liệu,
nguyên vật liệu thu hồi sau quá trình sản xuất sản phẩm.
Thứ tư, khi tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh kế toán gặp khó khăn trong
việc xác định chi phí NVLTT, chi phí sản xuất chung phát sinh cho các đơn hàng,
mã hàng do các nhân viên kinh tế ở các bộ phận sản xuất không diễn giải chi tiết
trong các chứng từ kế toán dẫn đến sự thiếu chính xác trong việc tổng hợp chi phí
sản xuất cho từng mã hàng và đơn hàng. Do đó doanh nghiệp cần thiết lập hệ thống
quản lý và kiểm soát chi phí ngay từ khi các nguyên vật liệu nhập kho đi vào sản
xuất.
Qua việc nêu lên sự cần thiết và yêu cầu của hoàn thiện kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm của Công ty LD TNHH Flexcon Việt Nam cũng
như mục tiêu phát triển sản xuất kinh của doanh nghiệp, tác giả đưa ra một số giải
pháp hoàn thiện như sau:
• Hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty
Chi phí chế biến
đầu kỳ
+
Chi phí chế biến
PS trong kỳ
x
Số lượng SPDDCK
quy đổi
Số lượng SPHT +
Số lượng sản phẩm dở
dang cu kỳ quy đổi
• Xây dựng mô hình tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp
Công ty nên xây dựng mô hình tổ chức kế toán quản trị theo loại mô hình kết hợp.
Theo mô hình này, kế toán trưởng chịu trách nhiệm chung về toàn bộ công tác kế toán
trong doanh nghiệp, từ việc tổ chức xây dựng bộ máy kế toán, lưu chuyển chứng từ,
vận dụng tài khoản, hệ thống báo cáo…nhằm cung cấp thông tin cho nhà quản trị. Các
bộ phận kế toán có chức năng thu thập và cung cấp thông tin kế toán, vừa tổng hợp vừa
chi tiết…đồng thời lập dự toán tổng hợp và chi tiết theo yêu cầu quản lý.
• Hoàn thiện việc phân loại chi phí phục vụ kế toán quản trị
Để nâng cao giá trị của thông tin cung cấp cho các đối tượng có nhu cầu, kế
toán cần tiến hành phân loại chi phí trên khía cạnh kế toán quản trị, cụ thể là theo
cách ứng xử của chi phí hay mối quan hệ của chi phí với mức độ hoạt động.
• Xây dựng hệ thống chi phí sản xuất định mức và giá thành định mức
vii
Chi phí sản xuất định mức (hay chi phí tiêu chuẩn) là số tiền tối thiểu để hoàn
thành một đơn vị sản phẩm, dịch vụ hay công việc. Ngoài ra chi phí sản xuất định
mức còn được xác định bằng cách tổng cộng của chi phí NVLTT định mức, chi phí
NCTT định mức và chi phí SXC định mức để sản xuất một đơn vị sản phẩm.
Giá thành định mức của sản phẩm là giá thành được tính trên cơ sở các định
mức chi phí sản xuất hiện hành tính cho một đơn vị sản phẩm.
công tác hạch toán kế toán, nhất là công tác kế toán chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm một cách chi tiết và cụ thể giúp doanh nghiệp vận dụng một cách linh
hoạt và dễ dàng hơn.
Thứ hai, về phía doanh nghiệp:
- Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp
+ Các nhà quản trị doanh nghiệp cần nâng cao hơn nữa trình độ và khả năng
nhận thức của mình trong công tác kế toán để giúp doanh nghiệp tăng khả năng
cạnh tranh với các đối thủ trong nước và trên thế giới.
+ Việc bố trí các phòng ban như hiện tại: phòng Kế toán thuộc văn phòng trên
Hà Nội, còn các phòng ban khác cùng các phân xưởng sản xuất lại nằm trên địa bản
tỉnh Bắc Giang, do đó việc lưu chuyển chứng từ bị chậm trễ, đôi khi xảy ra sự mất
mát, gây khó khăn trong công tác ghi nhận chi phí của doanh nghiệp. Do đó nhà
quản trị cần có những đổi mới trong vấn đề trên giúp bộ phận kế toán có cái nhìn
thực tế và rõ nét hơn liên quan giữa vấn đề sản xuất và công tác kế toán.
+ Nhà quản trị cũng cần yêu cầu bộ phận kế toán tổng hợp các thông tin trong
lĩnh vực này để phân tích và rút ra những kết luận về bức tranh tài chính của công
ty, từ đó đưa ra những chính sách, chế độ kế toán phù hợp.
- Đối với nguồn nhân lực thực hiện công tác kế toán
+ Cần nắm vững luật kế toán, chuẩn mực và chế độ kế toán mới ban hành và
chế độ quản lý tài chính của công ty, đảm bảo hạch toán các nghiệp vụ đúng và đủ
theo nguyên tắc kế toán.
+ Chủ động đưa ra những sáng kiến liên quan đến công tác kế toán của doanh
ix
nghiệp.
+ Cần xây dựng các kế hoạch tài chính đảm bảo cho doanh nghiệp luôn chủ
động trong chi tiêu.
- Sự hỗ trợ về khoa học kỹ thuật và giáo dục đào tạo trong doanh nghiệp
+ Hiện nay doanh nghiệp đang sử dụng phần mềm kế toán để hạch toán các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế như: phần mềm này
không thể tính đúng và chính xác được giá thành sản phẩm, vì vậy việc tính toán giá
Một trong những ngành công nghiệp xuất khẩu đóng góp cho sự tăng trưởng
GDP hàng năm là công nghiệp dệt may. Với ưu thế thị trường xuất khẩu rộng lớn
như Hoa Kỳ, châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Angola, New Zealand, Ấn Độ, Nga…
thị trường trong nước tiềm năng, nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ đã góp
phần cho sự tăng trưởng của ngành. Tuy nhiên, ngành vẫn chưa tự sản xuất được
nguyên phụ liệu mà hầu như phải nhập khẩu.
Công ty LD TNHH Flexcon Việt Nam cũng là một trong những doanh nghiệp
thuộc ngành may mặc, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam
nói riêng đang gặp nhiều khó khăn do đó cũng không thoát khỏi những ảnh hưởng
tiêu cực.
Vì vậy doanh nghiệp cần xem khó khăn là cơ hội để cải cách, tái cơ cấu doanh
nghiệp, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả và vận dụng khoa học, công nghệ mới.
1
Doanh nghiệp thực hiện các điều chỉnh về sản phẩm, thị trường phù hợp với điều
kiện mới, liên doanh, liên kết để giảm chi phí sản xuất.
Mặt khác, chủ doanh nghiệp cần thẳng thắn thảo luận tình hình của doanh
nghiệp với toàn thể đội ngũ quản lý, thông báo đến từng người lao động để tranh
thủ sự thông cảm, đồng thuận, phát huy sáng kiến, giải pháp. Điều chỉnh kế hoạch
kinh doanh theo tín hiệu thị trường.
Việc tác giả đi sâu vào nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm hàng may mặc gia công tại Công ty Liên Doanh TNHH
Flexcon Việt Nam” nhằm góp phần tháo gỡ các vấn đề khó khăn giúp doanh nghiệp
có những bước đi vững chắc hơn trong thời gian tới.
1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Qua tìm hiểu một số công trình nghiên cứu có liên quan mật thiết đến đề tài
luận văn của các khóa trước như đề tài: “ Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty cổ phần phát triển công trình và ứng
dụng công nghệ Bắc Hà” được thực hiện bởi học viên Đỗ Mai Anh do PGS.TS Trần
Quý Liên hướng dẫn hay công trình “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm tại công ty cổ phần mía đường Sơn La” do học viên Lường Thị
Nam có ảnh hưởng đến công tác kế toán như thế nào?
- Nội dung kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của Công ty LD
TNHH Flexcon Việt Nam?
- Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất tại Công ty LD TNHH Flexcon Việt
Nam ?
- Cách thức tổng hợp chi phí sản xuất, kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang
cuối kỳ tại Công ty LD TNHH Flexcon Việt Nam ?
- Ưu và nhược điểm trong công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại công ty?
- Giải pháp hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại Công ty LD TNHH Flexcon Việt Nam ?
1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm tại Công ty LD TNHH Flexcon Việt Nam. Số liệu kế toán sử dụng
được lấy từ nguồn phòng kế toán của Công ty LD TNHH Flexcon Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về mặt không gian, tác giả nghiên cứu “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm hàng may mặc gia công tại Công ty Liên Doanh TNHH
Flexcon Việt Nam”.
+ Về mặt thời gian, nguồn dữ liệu dùng để phân tích được phòng kế toán của
3
công ty tổng hợp trong các tháng của năm 2012.
+ Đề tài được tác giả xem xét trên hai khía cạnh kế toán tài chính và kế toán
quản trị.
1.6. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn có sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học biện chứng, duy
vật lịch sử gắn với chế độ kinh tế và các phương pháp tổng hợp, phân tích.
- Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của các môn khoa học
khác như: điều tra thực tế, thống kê,…
1.7. Ý nghĩa của nghiên cứu
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ
SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
TRONG DOANH NGHIỆP
2.1. Vai trò, bản chất của chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
2.1.1. Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất
2.1.1.1. Khái niệm chi phí sản xuất:
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động
sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản
xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm).
Nền sản xuất xã hội của bất kỳ phương thức sản xuất nào cũng gắn liền với sự
vận động và tiêu hao các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản xuất. Nói cách khác,
quá trình sản xuất hàng hóa là quá trình kết hợp của ba yếu tố: tư liệu lao động, đối
tượng lao động và sức lao động. Đồng thời, quá trình sản xuất hàng hóa cũng chính
là quá trình tiêu hao của chính bản thân các yếu tố trên. Như vậy để tiến hành sản
xuất hàng hóa, người sản xuất phải bỏ chi phí về thù lao lao động, về tư liệu lao
động và đối tượng lao động.
Do đó việc hình thành nên các chi phí sản xuất để tạo nên giá trị sản phẩm sản
xuất là tất yếu khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người sản xuất.
Để hiểu rõ bản chất của CPSX, cần phân biệt rõ khái niệm chi phí và chi tiêu.
Chi phí thực chất là sự dịch chuyển giá trị các yếu tố sản xuất vào đối tượng tính
giá. Như vậy, chỉ được tính là chi phí của kỳ hạch toán những hao phí về tài sản và
lao động có liên quan đến khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong kỳ chứ không phải
mọi khoản chi ra trong kỳ hạch toán. Ngược lại, chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần các
loại vật tư, tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp, bất kể nó được dùng vào mục đích gì.
Tổng số chi tiêu trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm chi tiêu cho quá trình cung
cấp, chi tiêu cho quá trình sản xuất kinh doanh, chi tiêu cho quá trình tiêu thụ.
6
2.1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất
Phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại, từng
Toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ được chia thành các khoản mục sau:
- Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp: phản ánh toàn bộ chi phí nguyên vật liệu
chính, phụ, nhiên liệu…tham gia trực tiếp vào việc sản xuất và chế tạo sản phẩm
hay thực hiện lao vụ, dịch vụ.
- Chi phí nhân công trực tiếp: gồm tiền lương, phự cấp lương và các khoản
trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất ra sản phẩm.
- Chi phí sản xuất chung: bao gồm những chi phí dùng cho hoạt động sản xuất
chung trong phạm vi phân xưởng sản xuất (trừ chi phí vật liệu và nhân công trực
tiếp), bao gồm các khoản chi phí sau:
+ Chi phí nhân viên phân xưởng: gồm tiền lương và các khoản trích theo
lương của nhân viên quản lý, nhân viên kế toán, thống kê, thủ kho, tiếp liệu, vận
chuyển, sửa chữa máy móc, tài sản ở phân xưởng sản xuất.
+ Chi phí vật liệu: phản ánh chi phí về vật liệu sử dụng chung như: dùng cho
sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ, vật liệu văn phòng và những vật liệu dùng chung cho
nhu cầu quản lý chung của phân xưởng, đội sản xuất.
+ Chi phí dụng cụ sản xuất: phản ánh chi phí về CCDC xuất dùng cho nhu cầu
sản xuất chung ở phân xưởng, đội sản xuất như: khuôn mẫu, dụng cụ gá lắp, dụng
cụ sửa chữa, dụng cụ bảo hộ lao động, dàn giáo trong XDCB.
+ Chi phí khấu hao TSCĐ: phản ánh tohàn bộ chi phí khấu hao TSCĐ sử dụng
ở các phân xưởng, đội sản xuất như: khấu hao máy móc thiết bị sản xuất, phương
tiện vận tải truyền dẫn, nhà xưởng, vườn cây lâu năm, sục vật sinh sản, súc vật làm
việc…
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: gồm các chi phí về lao vụ mua ngoài phục vụ
cho hoạt động sản xuất chung ở phân xưởng, đội sản xuất như: chi phí điện, nước,
điện thoại, sửa chữa TSCĐ thuê ngoài…
+ Chi phí bằng tiền khác: phản ánh những chi phí khác ngoài chi phí kể trên
phục vụ cho nhu cầu SXC của phân xưởng, đội sản xuất.
Cách phân loại này có tác dụng phục vụ cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất
theo định mức, cung cấp số liệu để tính giá thành sản phẩm, phân tích tình hình thực
8
hoạt động tối đa mà doanh nghiệp dự tính thực hiện. Chi phí bất biến có hai đặc
điểm sau: Tổng chi phí bất biến không thay đổi khi mức độ hoạt động của doanh
nghiệp thay đổi trong phạm vi phù hợp và chi phí bất biến của 1 đơn vị sản phẩm sẽ
9
thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi.
+ Chi phí khả biến (biến phí): là những khoản chi phí biến đổi theo sự thay đổi
về mức hoạt động của doanh nghiệp. Biến phí thường rất đa dạng và phong phú có
thể là chi phí NVLTT, chi phí NCTT, tiền hoa hồng cho khách hàng…Biến phí
thường có những đặc điểm như: Tổng chi phí khả biến thay đổi khi mức đội hoạt
động của doanh nghiệp thay đổi và chi phí khả biến của một đơn vị sản phẩm sẽ
không thay đổi khi mức độ hoạt động của doanh nghiệp thay đổi.
+ Chi phí hỗn hợp: là những chi phí vừa mang tính bất biến vừa mang tính khả
biến. Chi phí hỗn hợp thường bao gồm chi phí SXC, chi phí sử dụng máy thi công,
chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp.
Hầu hết các khoản mục chi phí phát sinh của doanh nghiệp thường mang tính
chất chi phí hỗn hợp là chủ yếu, các khoản chi phí này thường khó kiểm soát. Để
quản lý được thì các nhà quản trị doanh nghiệp thường phải tìm cách tách chúng ra
thành 2 bộ phận chi phí bất biến và chi phí khả biến.
f)Theo mối quan hệ với thời kỳ xác định kết quả kinh doanh:
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành chi phí thời kỳ
và chi phí sản phẩm (chi phí hàng hóa).
+ Chi phí thời kỳ: là những chi phí phát sinh làm ảnh hưởng trực tiếp đến lợi
nhuận của một thời kỳ, chi phí này không phải là một phần giá trị của sản phẩm
được sản xuất ra hoặc hàng hóa mua vào, chúng được tính trừ hết trong kỳ phát sinh
để xác định kết quả kinh doanh.
Nói cách khác thì chi phí thời kỳ trong một kỳ kinh doanh (theo thời gian), có
thể liên quan đến nhiều đối tượng, nhiều sản phẩm khac nhau, hay đây chính là
những chi phí phát sinh được coi là phí tổn trong kỳ và phải tính đầy đủ trên báo
cáo thu nhập (chi phí bán hàng, quản lý).
+ Chi phí sản phẩm: là những chi phí gắn liền với sản phẩm được sản xuất ra
- Chi phí xác định và chi phí cơ hội:
+ Chi phí xác định: là những chi phí mà sự phát sinh của chúng đi cùng với sự
giảm đi của tài sản hay sự gia tăng nợ phải trả. Các chi phí nguyên liệu, nhân
công,bán hàng, quản lý…đều là những chi phí xác định. Chi phí khấu hao tuy
không chỉ tiền nhưng cũng là chi phí xác định.
+ Chi phí cơ hội: là lợi ích bị mất đi vì chọn phương án và hành động này thay
cho phương án và hành động khác.
- Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được:
+ Chi phí kiểm soát được: là những chi phí mà một cấp quản lý cụ thể có thể
11