NGUYỄN THỊ NGUYỆT
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ Ở HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Hà Nội, năm 2012
NGUYỄN THỊ NGUYỆT
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ Ở HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Du lịch và Khách sạn
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS Lại Phi Hùng
Hà Nội, năm 2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập chương trình cao học và viết luận văn
chuyên ngành Quản trị kinh doanh Du lịch và Khách sạn tại khoa Du lịch
và Khách sạn, trường Đại học Kinh tế quốc dân, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ của quý thầy cô trường Đại học Kinh tế quốc dân cũng
như cơ quan nơi tôi đang công tác cùng nhiều cơ quan chuyên ngành liên
quan, các anh chị đồng nghiệp.
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô trường Đại học
Kinh tế quốc dân cùng quý thầy cô Khoa Du lịch và Khách sạn, các thầy
cô đã tham gia giảng dạy tận tình cho tôi suốt thời gian tôi học tập tại
trường.
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lại Phi Hùng đã dành rất
nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu, chỉ bảo và giúp tôi
hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Văn hoá và Thông tin huyện
Thanh Oai – thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khoá
học.
UBND : Uỷ ban nhân dân
[9] : Xem tài liệu tham khảo số 9
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Tên Nội dung
Bảng 2.1 : Diễn biến lượng khách du lịch đến Hà Nội giai đoạn 2000 – 2011
Bảng 2.2 : Thống kê lượng khách du lịch quốc tế theo thị trường năm 2009 - 2011
Bảng 2.3 : Số lượng cơ sở lưu trú du lịch đến hết năm 2011
Bảng 2.4 : Số lượt khách tại một số làng nghề tiêu biểu qua các năm
Hình 3.1 : Mô hình quản lý Nhà nước ở Trung ương đối với du lịch làng nghề
Hình 3.2 : Mô hình quản lý Nhà nước ở địa phương đối với du lịch làng nghề
Hình 3.3 : Mô hình phối hợp quản lý giữa các sở ngành
NGUYỄN THỊ NGUYỆT
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ Ở HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Du lịch và Khách sạn
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ
Hà Nội, năm 2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
1. Lý do và mục tiêu nghiên cứu của đề tài
* Lý do chọn đề tài:
Hiện nay, phát triển du lịch làng nghề đang là một hướng đi đúng đắn được
nhiều quốc gia ưu tiên trong chính sách quảng bá và phát triển du lịch. Ở Việt Nam
cũng vậy, nhiều làng nghề hiện nay đã có chủ trương phát triển gắn với du lịch. Các
làng nghề này đã và đang có nhiều đóng góp cho GDP của đất nước nói chung và
đối với nền kinh tế nông thôn nói riêng.
Hà Nội - Thủ đô của Việt Nam với lịch sử lâu đời, truyền thống văn hóa đa
dạng, giàu bản sắc, đây thực sự là trung tâm du lịch lớn của Việt Nam và luôn là
một trong những địa điểm thu hút khách du lịch. Sau khi mở rộng, Hà Nội trở thành
nơi nhiều làng nghề nhất trong cả nước cùng với lợi thế về vị trí chính trị, văn
hóa Tuy nhiên, sau mười năm thực hiện chủ trương đưa làng nghề vào khai thác
quản lý Nhà nước đối với du lịch làng nghề.
* Cơ sở lý luận về du lịch làng nghề: DLLN được hình thành dựa trên mối
liên kết giữa ba đối tượng: Làng nghề - chủ thể cung ứng sản phẩm du lịch - đối
tượng sử dụng sản phẩm DLLN. Vì vậy DLLN mang ý nghĩa tổng hợp của ba chủ
thể trên. Có thể định nghĩa du lịch làng nghề như sau:
Du lịch làng nghề là loại hình du lịch khai thác các giá trị văn hóa vật thể
và phi vật thể, các sản phẩm do nghề thủ công của làng nghề tạo ra như
là một đối tượng tài nguyên du lịch có giá trị, được khai thác để phục vụ
cho nhu cầu vui chơi giải trí, nghiên cứu tìm hiểu văn hóa, tham quan du
lịch của khách du lịch và nhân dân; mang lại lợi ích kinh tế cho địa
phương và đất nước góp phần tôn vinh, bảo tồn giá trị truyền thống văn
hóa và tăng cường vai trò kinh tế của làng nghề. [15]
Theo tác giả Hoàng Văn Châu trong cuốn “Làng nghề du lịch Việt Nam” các
điều kiện để một làng nghề trở thành làng nghề du lịch có: Thứ nhất là các giá trị
văn hoá làng nghề; Thứ hai là các giá trị lịch sử; Thứ ba là mức độ tham gia của
cộng đồng cao.
ii
Dựa trên những điều kiện để một làng nghề trở thành làng nghề du lịch, các
tiêu chí để xây dựng làng nghề du lịch kết hợp với vận dụng kiến thức đã học về du
lịch, tác giả đã hệ thống lại điều kiện để hình thành và phát triển kinh doanh du lịch
làng nghề bao gồm: Vị trí địa lí; Dân cư và lao động; Sự biến động thị trường khách
du lịch; Kết cấu hạ tầng; Nguồn vốn; Nguồn nguyên vật liệu; Công nghệ và kỹ thuật
sản xuất; Cơ chế chính sách.
Sản phẩm DLLN có tính văn hóa, xã hội rất cao và được xây dựng dựa trên
những đặc điểm cơ bản của làng nghề truyền thống. Ngoài những đặc điểm chung
của sản phẩm du lịch là tính không lưu kho được, quá trình sản xuất và sử dụng
diễn ra cùng thời điểm, v.v…, du lịch làng nghề truyền thống có những đặc trưng
riêng về thị trường và vị trí trong ngành du lịch: Sản phẩm DLLN chủ yếu được xây
dựng dựa vào nguồn tài nguyên du lịch phi vật thể của làng nghề; DLLN chỉ là
điểm tham quan trong ngày; Mức độ tham gia của cộng đồng cao; Tính thời vụ
- Đối với phát triển du lịch làng nghề thì quản lý Nhà nước có những vai trò
sau:
+ Vai trò định hướng: Nhà nước thực hiện chức năng hoạch định để định
hướng hoạt động du lịch làng nghề, thiết lập khuôn khổ pháp lý thông qua việc ban
hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về DLLN, tạo ra môi
trường pháp lý cho hoạt động DLLN.
+ Vai trò tổ chức và phối hợp: Nhà nước bằng việc tạo lập các cơ quan và hệ
thống tổ chức quản lý về DLLN, sử dụng sức mạnh của bộ máy này để hoạch định
và tổ chức để thực hiện những vấn đề thuộc về quản lý Nhà nước, tổ chức và quản
lý các công tác trong phát triển DLLN như: đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn
nhân lực, bảo vệ môi trường, v.v
+ Vai trò điều tiết các hoạt động du lịch và can thiệp thị trường: Nhà nước
phải có vai trò điều tiết mạnh, Nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ, biện pháp
khác nhau để điều tiết hoạt động kinh doanh du lịch nói chung, DLLN nói riêng, xử
lý đúng đắn mâu thuẫn của các quan hệ.
iv
+ Vai trò giám sát: Nhà nước giám sát hoạt động của mọi chủ thể kinh doanh
DLLN cũng như chế độ quản lý của các chủ thể đó, cũng như giám sát chế độ quản
lý của các cơ quan Nhà nước.
Những cơ sở lý luận về khái niệm làng nghề, du lịch làng nghề, những điều
kiện để phát triển một làng nghề du lịch sẽ là cơ sở để tác giả phân tích, đánh giá
hiện trạng phát triển, cũng như tình trạng quản lý Nhà nước đối với du lịch làng
nghề ở Hà Nội.
* Tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thu
thập, phân tích, tổng hợp tài liệu; phương pháp phân tích hệ thống; phương pháp
thực địa. Các phương pháp này rất có ý nghĩa trong việc đem lại tính thực tế, cụ thể
cho luận văn.
3. Những kết quả nghiên cứu của luận văn:
Con số 1350 làng nghề và làng có nghề của Hà Nội, với 272 làng nghề đã
được công nhận đến nay cho thấy tiềm năng phát triển du lịch gắn với các làng nghề
giai đoạn 2000-2010 là 15,5%.
Du lịch Hà Nội đã đáp ứng nhu cầu về dịch vụ ăn uống, ẩm thực, các cơ sở
dịch vụ mua sắm, bán hàng lưu niệm và dịch vụ liên quan. Tuy nhiên, hệ thống nhà
hàng, cơ sở dịch vụ ẩm thực của Hà Nội phát triển còn thiếu quy hoạch, vị trí phân
tán, tự phát, qui mô nhỏ lẻ, thiếu điều kiện hạ tầng cần thiết như bãi đỗ xe, không
gian cảnh quan; điều kiện vệ sinh môi trường tại một số cơ sở dịch vụ chưa được
kiểm soát, bảo đảm phục vụ nhu cầu của du khách. Bên cạnh đó, tính chuyên
nghiệp trong dịch vụ chưa cao, ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ.
- Tình hình du lịch làng nghề Hà Nội:
Theo số liệu của Sở Công thương Hà Nội, hiện nay Thành phố có 1.350 làng
nghề và làng có nghề chiếm gần 59% tổng số làng, trong đó 244 làng có nghề
truyền thống. Hết năm 2009, đã có 272 làng nghề được Uỷ ban nhân dân cấp bằng
công nhận danh hiệu làng nghề (255 làng do Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tây trước
đây công nhận và 01 làng thuộc huyện Mê Linh do Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc
vi
công nhận), trong đó có 198 làng nghề truyền thống được công nhận. Khu vực các
làng nghề của Hà Tây cũ là nơi có mức độ tập trung các làng nghề cao, điều này sẽ
tạo thuận lợi cho việc quy hoạch, kết nối giữa các làng nghề để lập tour DLLN.
Yếu tố truyền thống của các làng nghề cùng với những lợi thế về cảnh quan
thiên nhiên và nét văn hóa dân tộc đặc sắc của Hà Nội tạo tiềm năng cho việc khai
thác, phát triển làng nghề gắn với du lịch. Phát triển DLLN đem lại lợi ích cho xã
hội về nhiều mặt. Nhận thức được ý nghĩa quan trọng của việc phát triển các làng
nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống; bởi vậy mà liên tục trong những năm
gần đây Nhà nước luôn chú trọng đưa ra các chính sách thúc đẩy và phát triển các
làng nghề truyền thống. Sau mười năm thực hiện chủ trương đưa làng nghề vào khai
thác du lịch, làng nghề Hà Nội đã đạt được những kết quả ban đầu, tuy nhiên vẫn
chưa phát triển tương xứng với tiềm năng và còn nhiều hạn chế.
+ Về khách du lịch: khách du lịch đến làng nghề với động cơ du lịch chiếm
46,60%, kết hợp du lịch với mua sắm 34,95%, du lịch kết hợp với nghiên cứu khoa
học 11,65% và khách có động cơ khác chiếm 6,8%. Theo kết quả điều tra khách du
dựng được môi trường du lịch văn hóa, cải thiện hơn cơ sở hạ tầng kết hợp với bảo
vệ môi trường du lịch sinh thái, đẩy mạnh công tác dạy nghề cho lớp trẻ nhằm duy
trì, gìn giữ kỹ năng truyền thống, bản sắc văn hóa của làng nghề.
Các làng nghề truyền thống đã có ý thức khai thác sự hấp dẫn, độc đáo của
sản phẩm làng nghề để thu hút khách du lịch tới làng nghề tham quan, mua sắm; bước
đầu có ý thức tạo dựng cơ sở hạ tầng ban đầu tối thiểu cần thiết cho hoạt động du
lịch như hệ thống cửa hàng mua sắm, hệ thống đường sá trong làng. Một số làng
nghề cũng đã bắt đầu quan tâm tới việc xúc tiến, quảng bá cho làng nghề nhằm chào
bán các sản phẩm, thu hút khách du lịch thông qua một số trang web của một số tổ
chức, cá nhân.
- Những vấn đề bất cập cần giải quyết:
Du lịch làng nghề hiện nay được xây dựng dựa trên nguyên tắc tự phát nên
thiếu quy hoạch đồng bộ và chuyên nghiệp. Hà Nội là địa phương có nhiều làng
nghề nhất trong cả nước nhưng hoạt động du lịch cũng chỉ diễn ra ở một số ít làng
viii
hội tụ được những yếu tố như có truyền thống công nghệ đặc sắc, đậm nét cảnh
quan truyền thống và thuận tiện thiết lập các tour và các tuyến du lịch.
Việc tạo dựng các sản phẩm du lịch trọn gói, hấp dẫn khách du lịch và lập
chương trình cho các tuyến, chương trình du lịch làng nghề còn chưa được quan tâm
thỏa đáng. Chính vì vậy, các làng nghề Hà Nội chưa có những sản phẩm mang đặc
trưng du lịch, mà nhìn chung sản phẩm phục vụ du lịch không khác gì so với hàng
bán ngoài thị trường, từ đó tính hấp dẫn của làng nghề đối với du khách giảm đi.
Việc quảng bá về các làng nghề Việt Nam nói chung, làng nghề Hà Nội chưa
thực sự là một điểm nhấn về văn hóa lịch sử, chưa tạo được ấn tượng mạnh thu hút
sự quan tâm của khách du lịch quốc tế. Trên thực tế phát triển các làng nghề du lịch
tại nước ta thời gian qua cho thấy các làng nghề chưa nhận thức rõ ràng sâu sắc
những động cơ, kinh nghiệm, sở thích của khách du lịch đối với du lịch làng nghề
truyền thống.
Về cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, chỉ có một số làng nghề được quan tâm, hỗ
trợ đầu tư của Nhà nước về hệ thống giao thông đường làng, điện nước còn hầu hết
nghề phải chọn con đường tiếp tục đổi mới để phát triển.
Hơn nữa cũng chưa có cơ quan nào, đơn vị nào được giao nhiệm vụ tập hợp,
phân tích và phổ biến các thông tin về du lịch làng nghề, số liệu về du lịch làng
nghề và dự báo về sự phát triển trong tương lai của loại hình du lịch mới mẻ này.
Hiện chưa có cơ chế chính sách cụ thể, rõ ràng trong việc đãi ngộ những
nghệ nhân nổi tiếng, có đóng góp quan trọng đối với việc gìn giữ và lưu truyền nghề
truyền thống của mỗi làng nghề, của dân tộc, chưa có một hệ thống các chính sách
riêng, văn bản pháp luật liên quan đến du lịch làng nghề nhằm khuyến khích khôi
phục, bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống. Chưa có chế độ đãi ngộ đúng
mức đối với các nghệ nhân. Hiện nay, những người khi được phong danh hiệu
“nghệ nhân” vẫn chưa được hưởng bất kỳ chế độ đãi ngộ nào. Họ chưa được tạo
điều kiện để mở các lớp đào tạo truyền nghề cho thế hệ trẻ.
Chưa xây dựng được mối quan hệ chặt chẽ giữa làng nghề với Hiệp hội làng
nghề, giữa Hiệp hội làng nghề và Tổng cục du lịch, giữa các công ty du lịch với các
x
làng nghề để các công ty du lịch đưa khách đến các làng nghề. Các công ty du lịch
chưa gắn bó chặt chẽ với các làng nghề du lịch trong việc xác định sản phẩm du lịch
đặc trưng của làng nghề du lịch, phương thức khai thác du lịch, nghiên cứu, xây dựng
các chương trình du lịch đa dạng, hấp dẫn mới lạ, phù hợp với từng đối tượng khách
du lịch.
Từ những nghiên cứu, điều tra để tìm ra đâu là vấn đề đặt ra cho phát triển
du lịch làng nghề ở Hà Nội, thực trạng vấn đề quản lý Nhà nước đối với làng nghề
du lịch ra sao, để từ đó đề xuất các định hướng, mô hình và giải pháp khắc phục
nhằm đạt được mục đích là phát triển du lịch làng nghề tương xứng với tiềm năng
của nó.
* Những điểm đóng góp mới và hạn chế của luận văn:
Đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu đưa ra những giải pháp phát triển
đối với du lịch làng nghề truyền thống của Hà Tây trước đây, hay với du lịch làng
nghề Hà Nội ngày nay, tuy nhiên đây là những giải pháp cho du lịch làng nghề nói
chung.
dạng, giàu bản sắc, đây thực sự là trung tâm du lịch lớn của Việt Nam và luôn là
một trong những địa điểm thu hút khách du lịch. Sau khi mở rộng, Hà Nội trở thành
nơi nhiều làng nghề nhất trong cả nước cùng với lợi thế về vị trí chính trị, văn
hóa Tuy nhiên, sau mười năm thực hiện chủ trương đưa làng nghề vào khai thác
du lịch thì chỉ có hai làng nghề Bát Tràng và Vạn Phúc đạt được những kết quả
đáng kể, các làng nghề khác gần như bị bỏ quên.
Du lịch làng nghề Hà Nội đang đứng trước nhiều rào cản đó là: các hoạt
động đều phát triển tự phát, thiếu định hướng; cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động
của làng nghề nói chung và phục vụ hoạt động du lịch nói riêng còn thiếu và yếu;
người dân chưa có kỹ năng và kiến thức chuyên môn cũng như ngoại ngữ để đón
tiếp khách; và các sản phẩm tại làng nghề chưa thích hợp cho khách du lịch,
v.v Chính vì vậy mà hiệu quả đạt được của du lịch làng nghề còn nhỏ, chưa thật
tương xứng với tiềm năng.
Để giúp các làng nghề du lịch Hà Nội vượt qua những rào cản trên, quản lý Nhà
nước cần phát huy vai trò của mình trong việc quản lý các làng nghề. Nhận thấy
được sự cần thiết này trong phát triển du lịch làng nghề hiện nay ở Hà Nội, từ đó tôi
chọn đề tài: “Nghiên cứu vai trò của quản lý Nhà nước đối với phát triển du lịch
làng nghề ở Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình, với mong muốn góp
phần đưa ra những đánh giá, mô hình và giải pháp trong quản lý Nhà nước với phát
triển du lịch làng nghề và áp dụng triển khai trong thực tế để khai thác có hiệu quả
13
nguồn tài nguyên làng nghề góp phần phát triển kinh tế xã hội Hà Nội nói riêng và
đất nước nói chung.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua công tác thống kê, điều tra, khảo sát, v.v tại các làng nghề du
lịch ở Hà Nội kết hợp với tri thức khoa học sẵn có, nghiên cứu đánh giá thực trạng
phát triển và tình hình quản lý nhà nước (QLNN) đối với du lịch làng nghề (DLLN)
Hà Nội từ đó đưa ra những định hướng phát triển, đề xuất mô hình và giải pháp
QLNN nhằm phát triển DLLN Hà Nội một cách thiết thực, hiệu quả, đúng hướng
góp phần đưa du lịch Hà Nội trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong những năm
15
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở Việt Nam, vấn đề làng nghề được đề cập đến qua nhiều thời kỳ, với những
khía cạnh và các mục đích khác nhau.
Khía cạnh kinh tế, văn hóa, xã hội: có nhiều công trình nghiên cứu về làng
nghề ở nhiều cấp:
Về sách tham khảo: Có một số công trình như: Làng nghề thủ công truyền
thống Việt Nam được xuất bản năm 1998 của Bùi Văn Vượng. Tác giả đã tập trung
trình bày các loại hình làng nghề truyền thống như: đúc đồng, kim hoàn, rèn, gốm,
chạm khắc đá, dệt, thêu ren, giấy dó, tranh dân gian, dệt chiếu, quạt giấy, mây tre
đan, ngọc trai, làm trống. Ở đây chủ yếu giới thiệu lịch sử, kinh tế, văn hoá, nghệ
thuật, tư tưởng, kỹ thuật, các bí quyết nghề, thủ pháp nghệ thuật, kỹ thuật của các
nghệ nhân và các làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam. Trong cuốn Bảo tồn
và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá của
Dương Bá Phượng, xuất bản năm 2001, tác giả đã đề cập khá đầy đủ từ lý luận đến
thực trạng của làng nghề: từ đặc điểm, khái niệm, con đường và điều kiện hình
thành làng nghề, tập trung vào một số làng nghề ở một số tỉnh với các quan điểm,
giải pháp và phương hướng nhằm phát triển các làng nghề trong thời kỳ công
nghiệp hoá – hiện đại hoá. Cùng với hướng này còn có cuốn Phát triển làng nghề
truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá xuất bản năm 2003
của tác giả Mai Thế Hởn,…
Và nhiều công trình khác của nhiều tác giả như: Phát triển làng nghề truyền
thống ở nông thôn Việt Nam trong thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Trần
Minh Yến, xuất bản năm 2003.
Về đề tài nghiên cứu: Đề tài khoa học về việc Hoàn thiện các giải pháp kinh tế
tài chính nhằm khôi phục và phát triển làng nghề ở nông thôn vùng Đồng bằng sông
Hồng, năm 2004 của Học viện tài chính; Tiếp tục đổi mới chính sách và giải pháp đẩy
mạnh tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ thời kỳ đến năm
17