BÁO CÁO TỔNG QUAN VỀ
RÀ SOÁT, ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH TỔNG THỂ TAM GIÁC PHÁT
TRIỂN CAMPUCHIA - LÀO - VIỆT NAM
(Tại Hội nghị Ủy ban điều phối chung ba nước lần thứ năm tại Rattanakiri)
Triển khai thực hiện Tuyên bố chung của Ba Thủ tướng tại Hội nghị Cấp
cao ba nước Campuchia, Lào, Việt Nam lần thứ 5 tại Viêng Chăn tháng 11 năm
2008, Ủy ban điều phối về Tam giác phát triển mỗi nước đã chỉ đạo tiến hành
cập nhật, điều chỉnh Quy hoạch Tam giác phát triển. Nhóm công tác về rà soát,
điều chỉnh Tam giác phát triển của phía Việt Nam báo cáo tổng quan về tình
hình rà soát, điều chỉnh Quy hoạch và kiến nghị các công việc cần tiếp tục thực
hiện trong thời gian tới.
Tam giác phát triển khu vực biên giới ba nước Việt Nam, Lào và
Cămpuchia được ba Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập năm 2004 gồm
10 tỉnh là Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắk, Đăk Nông(Việt Nam), Sekong, Attapư,
Salavan (Lào) và Stung Treng, Rattanakiri, Mundulkiry (Cămpuchia).
Tại Hội nghị Ủy ban điều phối chung ba nước về Tam giác phát triển tại
Đăk Lăk ngày 21-22 tháng 12 năm 2009, ba nước nhất trí bổ sung tỉnh Bình
Phước (Việt Nam), tỉnh Kratie (Campuchia) và tỉnh Champasak (Lào) vào Tam
giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam.
Do thời gian quá ngắn, khối lượng thông tin cần phải điều tra, thu thập, xử
lý và biên dịch là rất lớn, lại trải trên 3 tỉnh mới bổ sung của 3 nước vào Tam
giác phát triển, nên chưa thể tiến hành xử lý tổng hợp một cách đầy đủ tất cả các
nội dung của báo cáo rà soát, bổ sung quy hoạch. Trong dự thảo báo cáo này
mới đưa ra những quan điểm mang tính định hướng, tầm nhìn và những vấn đề
cần phải điều chỉnh bổ sung để xin ý kiến góp ý của các nước, trên cơ sở ý kiến
góp ý tại Hội nghị, Tổ biên tập sẽ hoàn chỉnh và bổ sung và tổ chức xin ý kiến
các đoàn chuyên gia của các nước, trên cơ sở đó tổng hợp để trình Hội nghị cấp
cao 3 nước vào cuối năm 2010.
Dưới đây là dự thảo báo cáo bước đầu về rà soát, điều chỉnh quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt
Nam đến năm 2020.
), trong đó:
- Vùng 3 tỉnh Đông Bắc của Cămpuchia là Stung Treng, Rattanakiri và
Mundulkiry với diện tích tự nhiên khoảng 37.636 km
2
. Dân số năm 2008 là 301
nghìn người, mật độ dân số 8 người/km
2
.
- Vùng 3 tỉnh Nam Lào là Sekong, Attapư, Saravan với diện tích tự nhiên
khoảng 28.676 km
2
. Dân số năm 2008 là 563,2 nghìn người, mật độ dân số gần
20 người/km
2
.
- Vùng 4 tỉnh thuộc Tây Nguyên của Việt Nam là Kon Tum, Gia Lai và
Đắk Lắk, Đăk Nông với diện tích tự nhiên 44.645 km
2
. Dân số năm 2008 là
3.828 nghìn người, mật độ dân số 82 người/km
2
.
1.2 Khu vực 3 tỉnh bổ sung
- Tỉnh Kratie (Campuchia): Kratie là một tỉnh nằm ở khu vực Đông Bắc
Campuchia, tiếp giáp với các tỉnh Stung Treng và Mondulkiri (Campuchia) và
tỉnh Bình Phước (Việt Nam) trong Tam giác phát triển. Diện tích của tỉnh Kratie
là 11.094 km
2
, dân số khoảng 383 ngàn người (dự báo đến năm 2010 của Hội
đồng Phát triển Campuchia - CDC), mật độ dân số 35 người/km
và môi trường sinh thái. Thông qua các hành lang kinh tế dọc theo các trục quốc
lộ 78 (của Cămpuchia) và 18, 16 (của Lào) nối với các quốc lộ 14, 19, 24, 49
(của Việt Nam) nối toàn bộ khu vực này với các cảng biển của Việt Nam. Đồng
thời qua trục quốc lộ 7 (của Cămpuchia) và 13 (của Lào) nối khu vực này với
Pnông Penh và Viêng Chăn; qua các trục quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh nối
khu vực này với Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Đây là một trong những
điều kiện thuận lợi để ba nước mở rộng giao lưu liên kết phát triển kinh tế - xã
hội.
Tam giác phát triển là vùng cao nguyên rộng lớn, nhiều tiềm năng chưa
được khai thác. Là nơi đầu nguồn của nhiều con sông có vị trí rất quan trọng về
môi trường sinh thái và quốc phòng an ninh của mỗi nước.
2. Đánh giá tổng quát về tình hình thực hiện quy hoạch Tam giác phát
triển
Trong các năm qua, trên cơ sở mục tiêu chủ yếu đề ra trong quy hoạch,
được sự quan tâm của ba bên, Quy hoạch tổng thể phát triển khu vực biên giới
ba nước đã và đang được từng bước thực hiện và đạt được những kết quả bước
đầu đáng khích lệ đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội Tam giác phát triển.
2.1 Các mặt được
2.1.1 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Kinh tế khu vực Tam giác phát triển đã có bước tăng trưởng cao so với
tốc độ tăng trưởng bình quân của mỗi nước và so với quy hoạch
Mặc dù chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong các
năm 2008-2009, kinh tế của toàn khu vực Tam giác phát triển trong giai đoạn
2004-2009 vẫn có tốc độ tăng trưởng khá. Các tỉnh Tây Nguyên của Việt Nam
trong Tam giác phát triển đã đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 13%/năm (tổng
hợp từ số liệu thống kê các tỉnh). Xem xét trong tổng thể cả nước, giảm phần
tính trùng giữa các tỉnh, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt bình quân khoảng
10%/năm. Các tỉnh của Cămpuchia và Lào cũng đạt và vượt so với dự kiến
trong quy hoạch (bình quân của Lào là 7,5% và Campuchia là 9,4%). Tính
chung cả khu vực Tam giác phát triển trong giai đoạn vừa qua tăng khoảng
và dịch vụ cũng phát triển tương đối nhanh với một số ngành hàng có quy mô và
hàm lượng công nghệ khá như công nghiệp chế biến nông lâm sản, khai thác
khoáng sản và chế biến boxit, thủy điện Dịch vụ cũng phát triển khá, nhất là
xây dựng khá hoàn chỉnh mạng kết cấu hạ tầng giao thông, cấp điện, cấp nước
và phát triển bưu chính viễn thông. Đã hình thành các trung tâm dịch vụ ở các
thành phố, thị xã của các tỉnh, tuy nhiên trình độ công nghệ và quy mô sản xuất
kinh doanh chưa cao. Bốn (4) tỉnh của Lào và 4 tỉnh của Campuchia sản xuất
hàng hóa chưa phát triển, sản xuất nông nghiệp vẫn mang tính tự nhiên, tự cấp,
tự túc. Thương mại chưa phát triển, chỉ có một số doanh nghiệp tư nhân đảm
nhận dịch vụ cung cấp nhu yếu phẩm và hàng tiêu dùng cho dân cư. Hạ tầng
giao thông, cấp điện, cấp nước mới đang được đầu tư xây dựng. Dịch vụ, du lịch
phát triển còn chậm so với tiềm năng.
- Điểm xuất phát còn thấp, quy mô kinh tế nhỏ bé, dẫn tới GDP bình quân
đầu người của toàn khu vực Tam giác phát triển đạt 651 USD, chỉ bằng khoảng
65,9% mức bình quân chung ba nước (năm 2008). Trong đó: 4 tỉnh của
Campuchia có GDP/người đạt khoảng 457 USD, bằng 60% so với bình quân
chung của cả nước. 4 tỉnh của Lào có GDP/người đạt khoảng 563 USD, bằng
64,3% so với bình quân chung của cả nước. 5 tỉnh của Việt Nam có GDP/người
đạt khoảng 701 USD, bằng 67,9% so với bình quân chung của cả nước.
2.1.2 Mạng lưới kết cấu hạ tầng
2.1.2.1 Mạng lưới giao thông
Một trong các thành tựu quan trọng nhất, nổi bật nhất trong thực
hiện quy hoạch Tam giác phát triển CLV, thể hiện sự hợp tác đặc biệt giữa
ba nước và các địa phương là lĩnh vực xây dựng, nâng cấp mạng lưới giao
thông, đặc biệt là các tuyến giao thông đường bộ.
Trên cơ sở mục tiêu trước mắt (2004-2010), với sự quan tâm đầu tư của
mỗi nước, hợp tác giữa ba nước và với các nước thứ ba (Nhật Bản, Trung
Quốc ) hệ thống các tuyến đường giao thông liên kết giữa các địa phương trong
khu vực Tam giác phát triển ba nước, thông với cảng biển Việt Nam và các nước
trong khu vực bước đầu được hình thành, làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế -
+ Đoạn nằm trong tỉnh Mondulkiri dài khoảng 127 km Trung Quốc hiện
đang thi công; đã xong được 2 đoạn mặt trải nhựa dài khoảng 40 km, nền đường
rộng 11 m, mặt nhựa rộng 9 m.
+ Đoạn còn lại khoảng 65 km nằm hầu hết trong tỉnh Rattanakiri, hiện tại
đường cấp phối và đất chưa có dự án đầu tư xây dựng; nhưng khả năng có thể
dự án trồng cao su sẽ xây dựng 28 km từ đường 78 đến Lum Pát.
- Tuyến nối tiếp từ đường tỉnh 134 tại đường 7, qua địa bàn tỉnh Kratie
khoảng 47 km, địa bàn tỉnh Mondulkiri khoảng 111 km đến cửa khẩu Đăk Ruê
của Việt Nam, tổng chiều dài 158 km đường cấp phối và đất (tạm đặt tên là
đường 79).
- Đường 131: Tuyến xuất phát từ tỉnh lỵ Mondulkiri tuyến đi qua huyện lỵ
Ô Răng (Mondulkiri) và nối vào đường 13 tại Xnuôn (tỉnh Kratie), dài khoảng
123 km; trong đó đoạn nằm trong tỉnh Mondulkiri dài khoảng 78 km, hiện tại
đường đất rất khó đi.
- Tuyến mới xuất phát từ tỉnh lỵ Mondulkiri theo hướng đến cửa khẩu
Đăk Pơ của Việt Nam; tuyến dài khoảng 40 km (tạm đặt tên là 131 B).
b) Các tỉnh của Lào
- Đường 18A: Tuyến đi qua 2 tỉnh Attapư và Champasak:
Tuyến nối từ đường 13 tại Phia Phay, huyện Pathumphone, tỉnh
Champasak qua huyện lỵ Sa Nam Xay đến tỉnh lỵ Attapư, nối với đường 18B và
đường 1I, dài 115 km. Đường hiện tại là đường đất và cấp phối, đã có kế hoạch
vốn xây dựng xong năm 2012 cùng với dự án xây dựng nhà máy tuyển quặng
đồng và nhôm tại huyện Sa Nam Xay tỉnh Attapư. Đường nằm trong tỉnh
Champasak 30 km, Attapư 85 km.
6
6
- Đường 18B: Tuyến nằm trong tỉnh Attapư; tuyến nối từ đường 1I tại tỉnh
lỵ Attapư, qua Mường Mây đến biên giới Việt Nam (cửa khẩu Bờ Y), dài 105
km. Đường hiện tại là đường nhựa, đạt cấp III và IV, 2 làn xe; khoảng 60 km
gần phía biên giới với Việt Nam đường cấp IV, nhiều đường cong nhỏ cần phải
- Đường 1G (đường 23 cũ): Tuyến từ tỉnh lỵ Sa La Van qua huyện lỵ Tum
Lan nối vào đường 9 tại Mường Phin, chiều dài 126 km. Đoạn nằm trong tỉnh Sa
La Van 83 km; hiện tại mặt đường cấp phối và đất.
- Đường 15A: Tuyến nối từ đường 13 tại Không Xê Đôn (tỉnh Sa La Van)
đi theo đường hiện có nối vào đường 1G cách tỉnh lỵ Sa La Van khoảng 9 km,
tuyến dài 76 km; hiện tại là đường đất và cấp phối.
- Đường 15B: Tuyến từ tỉnh lỵ Sa La Van đi qua huyện lỵ Ta Oy,
Samouay đến cửa khẩu La Lay của Việt Nam, dài 160 km và nối vào đường Hồ
Chí Minh (Việt Nam) tại huyện Đa Krông tỉnh Quảng Trị; hiện nay toàn tuyến là
đường đất và cấp phối.
c) Các tỉnh Việt Nam
7
7
Trong thời gian vừa qua, trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên trong Tam giác
phát triển đã và đang tập trung đầu tư các dự án quan trọng như: Đường Hồ Chí
Minh (QL 14), nâng cấp nhiều tuyến quốc lộ như: 14C, 19, 24, 25, 26, 27, 28,
40. Hầu hết các tuyến đạt tiêu chuẩn cấp III, IV, V, các đoạn qua thành phố, thị
xã và một số thị trấn đạt cấp II hoặc đường đô thị. Đang triển khai xây dựng
đường Trường Sơn Đông, nâng cấp một số đoạn của tuyến hành lang biên giới.
Các tuyến tỉnh lộ và mạng lưới giao thông nông thôn trên địa bàn các tỉnh
Tây Nguyên cũng từng bước được cải tạo, nâng cấp, đáp ứng ngày càng tốt hơn
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
2.1.2.2 Mạng lưới cấp điện
Phát triển nguồn và mạng lưới truyền tải, phần phối điện cũng là một
trong các lĩnh vực được quan tâm của cả ba nước trong quá trình thực hiện quy
hoạch tổng thể Tam giác phát triển CLV.
- Các tỉnh Việt Nam
Trong thời gian qua, nhiều dự án quan trọng trên địa bàn các tỉnh Tây
Nguyên trong Tam giác phát triển đã đưa vào sử dụng như: nhà máy thủy điện
Sê San 3 (260 MW), Sê San 3A (100 MW), H'Chan (12 MW), Drây H'Linh (16
8
Việt Nam đang đầu tư xây dựng Thuỷ điện Sêkamản-3 (260 MW), dự
kiến hoàn thành vào năm 2010, đấu nối vào hệ thống điện Việt Nam bằng đường
dây 220 kV Sekaman 3 - TBA 220 kV Thạch Mỹ; đã ký MOU chuẩn bị điều
kiện để khởi công Thuỷ điện Sêkamản-1 (450 MW), Sêkamản-4 (200 MW), Dak
Y-Mơn. Tiếp tục nghiên cứu thuỷ điện Sêkamản-0 và một số thuỷ điện khác.
Hệ thống liên kết cung cấp điện bằng đường dây 22 KV cho Lào từ cửa
khẩu Bờ Y, tỉnh Kon Tum tới vùng biên giới tỉnh Attapư, từ cửa khẩu La Lay
đến huyện lỵ Ka-le-um, tỉnh Sêkông đang hoạt động có hiệu quả.
Tỉnh Bỡnh Phước đó đầu tư các tuyến đường dây tải điện từ huyện Lộc
Ninh đến trung tâm huyện Snoul, tỉnh Kratíe và tuyến từ huyện Bù Đốp đến
trung tâm huyện Keosima, tỉnh Mondulkiri và đó bỏn điện ổn định với mức tiêu
thụ 200.000 kwh/thỏng cho 02 tỉnh Mondulkiri và Kratie. Ngoài ra, tỉnh đó hỗ
trợ đầu tư xây dựng đường điện Hoa Lư - Snoul và đường điện Hoàng Diệu -
Keosima.
2.1.3 Nông nghiệp
Một trong những lĩnh vực phát triển nhanh hơn so với mục tiêu đề ra
trong quy hoạch 2004 là lĩnh vực hợp tác trồng cây công nghiệp dài ngày.
Chỉ tính riêng cây cao su, đến nay các doanh nghiệp của các tỉnh Tây
Nguyên đã được phía Lào cấp phép trên 26.700 ha (trong đó đã trồng trên 16
nghìn ha), phía Campuchia cấp phép trên 22.800 ha (trong đó đã trồng trên 2
nghìn ha) và chuẩn bị cấp thêm 42.000 ha.
Hiện nay tại Mondulkiri các doanh nghiệp của Việt Nam đang tiếp tục
triển khai các Dự án xây dựng văn phòng và Trung tâm thương mại cao su tại
tỉnh lỵ Mondulkiri; triển khai tập huấn trồng cây lương thực, cây điều và tổ chức
mô hình trồng thử nghiệm 1.200 cây cao su tại Pech Chăn Đa. Tổ chức đào tạo
thợ lái máy nông nghiệp, đào tạo kỹ thuật trồng, chăm sóc cao su cho con em
cán bộ và nhân dân trong vùng dự án tại các tỉnh Saravan và Attapư (Lào).
2.1.4 Thương mại và kinh tế cửa khẩu
Nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại, nhiều chính sách ưu đãi đã được áp
và công nghiệp chế biến vào các tỉnh của Lào thuộc khu vực Tam giác phát triển
bao gồm các dự án khai khoáng, chế biến gỗ và sản xuất đồ dùng gia dụng, trồng
và chế biến nông sản, mủ cao su, sản xuất phân bón hoá học.
Trong lĩnh vực khoáng sản, bằng nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của
Việt Nam, Dự án “Điều tra, đánh giá khoáng sản bauxit và các khoáng sản khác
vùng Nam Lào” được triển khai trong 3 năm (2004-2007) trên diện tích khoảng
30.000 km
2
và đã phát hiện được một số khoáng sản và gần 300 km
2
diện tích có
triển vọng công nghiệp về quặng bauxit thuộc hai tỉnh Se Kông và Attapư.
Hiện nay đã có các dự án khảo sát, thăm dò bauxit tại tỉnh Attapư và tỉnh
Sê Kông đã được chấp thuận và ký MOU với chính phủ Lào (Dự án khảo sát,
thăm dò Bouxit tại Đăk Pok, Xan xay, Attapư của Tập đoàn Đầu tư Việt
Phương) hoặc ký hợp đồng thành lập Công ty liên doanh với Lào (Tập đoàn
TKV và Công ty Phát triển kinh tế Lào Lanexang liên doanh thành lập Công ty
phát triển công nghiệp Sê Kông khảo sát, thăm do bauxit tại Thà Tèng, Sê
Kông). Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) cũng dự kiến đầu tư thăm
dò, khai thác than tại Saravan và đầu tư tổ hợp than - điện.
Trong lĩnh vực chế biến, xu thế đầu tư khai thác chế biến gỗ là chủ đạo
của các doanh nghiệp Việt Nam trước đây được thay thế bằng đầu tư chế biến
sản phẩm cây công nghiệp có giá trị cao, gắn với việc đầu tư vùng nguyên liệu.
- Với Campuchia
Hai bên Việt Nam và Campuchia đã nhất trí xây dựng Dự án “Lập bản đồ
địa chất khoáng sản tỷ lệ 1:200.000 vùng Đông Bắc Campuchia và vùng biên
giới giáp Việt Nam” trong phạm vi khu vực Tam giác phát triển CLV (phần lãnh
thổ Campuchia) bằng nguồn vốn viện trợ của Việt Nam. Tuy nhiên, đối với các
tỉnh thuộc khu vực Tam giác phát triển của Campuchia, hợp tác đầu tư trong lĩnh
vực công nghiệp còn rất khiêm tốn, chủ yếu tập trung trong lĩnh vực khai thác
- So với quy hoạch đã được Thủ tướng ba nước thông qua, những kết quả
đạt được là rất khiêm tốn và hạn chế. Việc triển khai Quy hoạch chủ yếu thực
hiện thông qua các thoả thuận hợp tác song phương giữa hai Nhà nước và giữa
các địa phương có chung biên giới, chưa thực sự có sự phối hợp chung của ba
bên; nguồn lực thực hiện các chương trình, dự án từ mỗi nước còn rất hạn hẹp,
trong khi việc kêu gọi nguồn hỗ trợ từ bên ngoài để thực hiện Quy hoạch còn
chậm Ngoài ra, trong quá trình hội nhập sâu rộng của ba nước vào nền kinh tế
khu vực và thế giới sẽ tạo ra các thách thức mới cho các địa phương trong Tam
giác phát triển.
- Các công trình hợp tác về phát triển kết cấu hạ tầng chậm so kế hoạch đề
ra (các dự án đường 78 Cămpuchia, các dự án kêu gọi ODA Nhật Bản, các khu
kinh tế cửa khẩu ). Nguồn lực thực hiện các chương trình, dự án từ mỗi nước
còn rất hạn hẹp, trong khi việc kêu gọi nguồn hỗ trợ từ bên ngoài để thực hiện
Quy hoạch còn chưa được nhiều.
- Chưa xây dựng được cơ chế, chính sách ưu đãi cho khu vực Tam giác
phát triển vượt trội so với các vùng khác của mỗi nước.
- Hợp tác đầu tư còn nhiều bất cập. Các chính sách thuế, thủ tục đầu tư
chưa được nhất quán, xuất nhập cảnh còn phức tạp; cơ sở hạ tầng chưa thuận
lợi đã ảnh hưởng đến tiến độ đầu tư chung của các dự án.
- Việc triển khai Quy hoạch chủ yếu được thực hiện thông qua các thoả
thuận hợp tác song phương ở cấp Nhà nước và địa phương có chung biên giới,
chưa thực sự có sự phối hợp chung của ba bên.
- Sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt đối với các hàng hóa của các địa
phương trong Tam giác phát triển và nguy cơ tụt hậu so với các vùng khác của
mỗi nước ngày càng cao nếu không có sự đầu tư thỏa đáng và cơ chế, chính sách
đặc biệt cho khu vực Tam giác phát triển.
III. MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH TỔNG
THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TAM GIÁC PHÁT TRIỂN
CAMPUCHIA - LÀO - VIỆT NAM
11
2. Điều chỉnh quan điểm và mục tiêu phát triển và hợp tác
2.1 Điều chỉnh mục tiêu phát triển và hợp tác
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững, từng bước rút ngắn khoảng cách
phát triển khu vực Tam giác phát triển ba nước với các vùng của mỗi nước trên
cơ sở khơi dậy và phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh, các nguồn nội lực của
từng tỉnh, tăng cường mối liên kết kinh tế trong nội bộ vùng và ngoài vùng; giải
quyết tốt các vấn đề xã hội, an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường sinh thái;
đóng góp thiết thực vào việc tăng cường hợp tác giữa ba nước Cămpuchia - Lào
- Việt Nam.
2.1.2 Các mục tiêu cụ thể
- Tiếp tục phối hợp các kế hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng, nâng cấp, cải
tạo các trục giao thông quan trọng giữa các tỉnh trong Tam giác phát triển nhằm
tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành, lĩnh vực khác (du lịch, thương mại, nông
nghiệp, công nghiệp thủy điện, chế biến và khai khoáng ) hợp tác phát triển.
12
12
- Hợp tác xúc tiến kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào khu vực
Tam giác phát triển và các nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho
các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, phát triển kết cấu hạ tầng
của các địa phương trong Tam giác phát triển.
- Tiếp tục phát triển nguồn nhân lực ở các ngành kinh tế có nhiều tiềm
năng nhất trong Tam giác phát triển.
- Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho dòng lưu chuyển qua biên giới của
hàng hoá, con người và vốn đầu tư trong phạm vi Tam giác phát triển thông qua
xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù cho Tam giác phát triển.
2.2 Điều chỉnh quan điểm phát triển và hợp tác
- Tiếp tục phát huy các thế mạnh của mỗi bên để hợp tác phát triển, trong
đó tập trung khai thác các tiềm năng, thế mạnh của phía Campuchia và Lào là
đất đai, khoáng sản, tiềm năng thủy điện và của phía Việt Nam là nguồn nhân
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2020
13
13
Tổng GDP 100,0 100,0
1. Nông lâm ngư nghiệp 46,0 31,0
2. Công nghiệp, xây dựng 27,0 35,0
3. Dịch vụ 28,0 34,0
14
14
3.2 Phương hướng phát triển mạng lưới kết cấu hạ tầng
3.2.1 Mạng lưới giao thông đường bộ
3.2.1.1 Tiếp tục các phương hướng xác định trong Quy hoạch Tam giác
phát triển năm 2004
a) Đối với các trục dọc:
(Thứ tự tính từ Tây sang Đông, từ trên xuống dưới)
(1) Trục dọc 1: Trong phạm vi Tam giác phát triển gồm đoạn đường 13
dài 279 km (Lào) và đoạn đường 7 dài 190 km (Campuchia); tổng chiều dài 469
km, đây là tuyến trục các tỉnh Lào sẽ về thủ đô Viêng Chăn và các tỉnh
Cămpuchia sẽ về thủ đô Phnôm Pênh. Duy tuy, bảo dưỡng để đảm bảo giao
thông thuận tiện quanh năm.
(2) Trục dọc 2:
- Bên Lào bao gồm: đường 1G (126 km), đường 1H (18 km), đường 16
(45km), đường 1I (76 km), đường 1J (90 km mới), tổng chiều dài 355 km, trong
đó: + Đường cần nâng cấp cải tạo: 126 km.
+ Xây dựng mới: 90 km.
- Bên Campuchia bao gồm: đường 78A (150 km), đường 76 (192 km),
tổng chiều dài 342 km, trong đó:
+ Đường đang thi công: 127 km.
+ Đường cần nâng cấp cải tạo: 145 km.
+ Xây dựng đường mới: 70 km.
qua đường 13, tỉnh lỵ Sêkông đến cửa khẩu Đăk Pênk (tỉnh Quảng Nam) của
Việt Nam và nối vào QL14D, 14B ra cảng Đà Nẵng; chiều dài 291 km (đến biên
giới Việt Nam).
Đến năm 2020 cần duy trì giữ cấp đường 16, dài 176 km; nâng cấp cải tạo
đường 16B, dài 115 km, đạt tiêu chuẩn đường cấp III.
(3) Trục ngang 3:
Gồm đường 18A và đường 18B: trục ngang tính từ đường 13 tại Phia
Phay (tỉnh Chămpasăk), qua tỉnh lỵ Sêkông đến cửa khẩu Bờ Y của Việt Nam và
nối vào QL40, 14, 24 ra cảng Dung Quất. Tổng chiều dài 331 km (phía Việt
Nam tính đến hết ranh giới tỉnh Kon Tum).
- Bên phía Lào: Đường 18A+18B dài 220 km trong đó đường 18A (115
km) đã có dự án xây dựng cùng với nhà máy tuyển quặng đồng và nhôm của
Trung Quốc, kế hoạch năm 2012 thi công xong; đường 18B dài 105 km, tiêu
chuẩn cấp III, IV, quy mô 2 làn xe, mặt trải bê tông nhựa. Đến năm 2020 cần
duy trì khoảng 45 km tiêu chuẩn đường cấp III; còn lại khoảng 60 km đường cấp
IV sẽ nâng cấp cải tạo, bỏ bớt đường cong bán kính nhỏ và thống nhất đường
cấp III toàn tuyến.
- Bên phía Việt Nam: Đường QL40, 14, 24 trong Tam giác Phát triển dài
111 km (đã trừ 60 km QL14 trong trục dọc), hiện là đường nhựa rộng từ 1 đến 4
làn xe, đang cải tạo nâng cấp mở rộng 2 đến 4 làn xe.
(4) Trục ngang 4:
Đường 78 từ ngã ba Ô Pong Moan qua 2 tỉnh Stung Treng và Rattanakiri
đã và đang nâng cấp cải tạo thành đường cấp III đến biên giới Việt Nam; qua
cửa khẩu Lệ Thanh nối vào QL19 ra cảng Quy Nhơn (Việt Nam). Tổng chiều
dài nằm trong Tam giác phát triển 361 km.
- Bên phía Campuchia từ ngã ba Ô Pong Moan đến biên giới Việt Nam
dài 191 km đang thi công.
- Bên phía Việt Nam từ biên giới Campuchia đến hết ranh giới tỉnh Gia
Lai dài 170 km, hiện tại đường tiêu chuẩn cấp III, mặt BTN, quy hoạch duy trì
giữ cấp.
km, trong đó cần nâng cấp cải tạo 123 km và xây dựng mới 40 km, tiêu chuẩn
đường cấp III, mặt bằng BTN.
- Bên phía Việt Nam: từ cửa khẩu Đăk Pơ đến thành phố Buôn Ma Thuột,
dài 70 km, hiện tại đường cấp III, mặt BTN, quy hoạch duy trì cấp đường hiện
có.
b) Các tuyến đường khác
- Bên phía Campuchia:
(1) Tuyến đường 12B nằm trong tỉnh Stung Treng (Campuchia):
Tuyến từ tỉnh lỵ Stung Treng qua sông Mê Kông và nối vào đường 12 đi
Xiêm Riệp, dài 90 km, đến năm 2020 sẽ nâng cấp cải tạo đạt đường cấp III.
(2) Tuyến đường 72:
Tuyến từ tỉnh lỵ Kracheh đi ven sông Mê Kông và nối vào đường 7 về
PhNôm Pênh, toàn tuyến dài khoảng 130 km, trong đó đoạn nằm trong tỉnh
Kracheh khoảng 60 km; đến năm 2020 sẽ nâng cấp cải tạo đạt đường cấp III.
(3) Tuyến đường 131C
Tuyến từ đường 131 đoạn cắt tại Xê Khơ Tum tỉnh Mondulkiri đến biên
giới Việt Nam dài khoảng 13 km và nối vào đường tỉnh 748 đi tỉnh lỵ Bình
Phước, đến năm 2020 sẽ nâng cấp cải tạo đạt đường cấp III.
(4) Tuyến đường 13
17
17
Tuyến nối từ đường 7 tại Snoul đến cửa khẩu Hoa Lư - Việt Nam, dài
khoảng 17 km và nối vào Quốc lộ 13 - VN, đến năm 2020 sẽ nâng cấp cải tạo
đạt đường cấp III.
- Bên phía Việt Nam:
(1) QL13:
Trong phạm vi nghiên cứu tuyến nối tiếp đường 13 của Campuchia từ cửa
khẩu Hoa Lư qua thị trấn Lộc Ninh đến Chơn Thành dài khoảng 85 km (nhựa
75, cấp phối 15 km). Đến năm 2020 theo quy hoạch của Việt Nam sẽ cải tạo
nâng cấp thành đường cấp I, quy mô 4 làn xe.
đi kèm với dịch vụ sửa chữa và cung cấp phụ tùng, hoặc trực tiếp tham gia chế
biến để xuất khẩu hay phục vụ tiêu dùng trong nội địa Campuchia và Lào.
b) Hợp tác phát triển nông nghiệp
18
18
Hợp tỏc, trao đổi kinh nghiệm kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi; phối hợp
ngăn chặn và phũng chống sự lõy lan của sõu bệnh phỏ hoại lỳa và cỏc loại hoa
màu; sử dụng hợp lý nguồn nước sông, ngũi, kênh rạch ở biên giới để phục vụ
đời sống và nông nghiệp.
Hỗ trợ phỏt triển cỏc cơ sở giống cõy trồng, vật nuụi tại cỏc tỉnh
Campuchia và Lào.
c) Hợp tác bảo vệ, trồng và phát triển rừng
3.4 Dịch vụ
3.4.1 Thương mại
a) Xây dựng mạng lưới kết cấu hạ tầng và thu hút đầu tư vào các khu
kinh tế cửa khẩu
- Xây dựng mạng lưới kết cấu hạ tầng khu kinh tế cửa khẩu Bờ Y
- Xây dựng mạng lưới kết cấu hạ tầng khu kinh tế cửa khẩu Đức Cơ
- Thành lập và xây dựng mạng lưới kết cấu hạ tầng khu kinh tế cửa khẩu
Đăk Perr
- Xây dựng mạng lưới kết cấu hạ tầng khu kinh tế cửa khẩu Bonue
b) Xây dựng, nâng cấp mạng lưới trung tâm thương mại, chợ biên giới
c) Hợp tác xúc tiến thương mại thông qua tổ chức hội chợ, triển lãm hàng
hoá các địa phương trong Tam giác phát triển
3.4.2 Tài chính - ngân hàng - bảo hiểm
Mở rộng mạng lưới ngân hàng, tổ chức tín dụng và kinh doanh tiền tệ tại
các địa phương trong Tam giác nhằm huy động và đáp ứng kịp thời các nguồn
vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh. Chú trọng phát triển mạng lưới dịch vụ
tại các đô thị lớn, các khu kinh tế cửa khẩu, các dịch vụ hỗ trợ các doanh nghiệp
đầu tư sản xuất, kinh doanh tại khu vực cửa khẩu, các địa phương bạn trong Tam
trong phạm vi khả năng của ngành Y tế các tỉnh Việt Nam.
3.5.2 Giáo dục - đào tạo
Nâng cấp các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng, đào tạo nghề của các tỉnh
Tây Nguyên và đào tạo cho học sinh, sinh viên các tỉnh biên giới của
Cămpuchia và Lào.
3.6 Công nghiệp khai khoáng
- Tiếp tục hợp tác điều tra, thăm dò, khai thác khoáng sản (bauxit, sắt )
tại các tỉnh Đông Bắc Campuchia.
- Tiếp tục hợp tác điều tra, thăm dò, khai thác khoáng sản (bauxit, than )
tại các tỉnh Nam Lào.
IV. KẾ HOẠCH CÔNG VIỆC SAU HỘI NGHỊ UỶ BAN ĐIỀU
PHỐI CHUNG LẦN THỨ V
1. Các bên tiếp tục bổ sung, hoàn thành báo cáo rà soát, điều chỉnh quy
hoạch phần các địa phương mỗi nước trong Tam giác phát triển.
2. Phía Việt Nam tiếp tục xem xét, xử lý tổng hợp và trao đổi lại với phía
Lào và Campuchia dưới hình thức cử các đoàn chuyên gia Việt Nam sang trao
đổi với chuyên gia của 2 nước và các địa phương bên Campuchia và Lào, dự
kiến vào tháng 4-6 năm 2010.
3. Tổ chức hội thảo các nhóm công tác của ba nước tại Việt Nam khoảng
tháng 6-7/2010.
4. Các bên trình cấp có thẩm quyền thông qua nội dung rà soát, điều chỉnh
bổ sung quy hoạch của mỗi nước.
5. Trình nội dung báo cáo Rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế- xã hội Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam tại
Hội nghị cấp cao Ba nước để lãnh đạo xem xét quyết định.
6. Thông báo công khai và tổ chức tốt việc thực hiện quy hoạch Tam giác
phát triển ở mỗi nước; tiếp tục thực hiện việc xúc tiến kêu gọi đầu tư phát triển
và ban hành các cơ chế chính sách ưu đãi cho đầu tư phát triển vào khu vực này.
20
20