VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
90
NHỮNG THÀNH TỰU NGHIÊN CỨU
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ NỔI BẬT TRONG GIAI ĐOẠN 2011 - 2013
CỦA VIỆN KHOA HỌC KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP MIỀN NAM
TS. Ngô Quang Vinh, TS. Hồ Thị Minh Hợp
I. SƠ LƯỢC ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH ĐƠN VỊ
Tiền thân của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông
nghiệp miền Nam là Viện Khảo cứu Nông nghiệp
Đông Dương, được thành lập ngày 02 tháng 04
năm 1925. Năm 1937, Viện đổi tên thành Viện
Khảo cứu Nông Lâm, có bộ phận miền Bắc và bộ
phận miền Nam.
Sau năm 1945, Viện đã nhiều lần thay đổi
tên. Năm 1956 Viện có tên là Nha Khảo cứu và
Sưu tầm Nông Lâm Súc, trực thuộc Bộ Canh
nông. Năm 1968 được đổi
tên thành Viện Khảo
cứu Nông nghiệp trực thuộc Bộ Cải cách Điền
địa và Canh nông. Đến năm 1973 Viện trực thuộc
Tổng nha Nông nghiệp, Bộ Cải cách Điền địa và
Phát triển Nông Ngư Mục. Đến năm 1974 trực
thuộc Bộ Canh nông.
Sau ngày đất nước được hoàn toàn giải
phóng đến nay, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông
nghiệp miền Nam là viện nghiên cứu nông
nghiệp đa
ngành duy nhất ở các tỉnh phía Nam.
Viện có đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ và
kinh nghiệm và địa bàn hoạt động rộng khắp từ
II. THÀNH TỰU NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ VÀ CHUYỂN GIAO TIẾN BỘ
KỸ THUẬT
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền
Nam (IAS) là một viện nghiên cứu đa ngành
chuyên môn sâu ở phía Nam. Trong giai đoạn từ
2011 - 2013, Viện thực hiện tổng cộng trên 70 đề
tài, dự án các loại có nguồn ngân sách từ Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Khoa
học Công nghệ (bảng 1).
Ngoài ra, các đơn vị trong Viện đã tích cực chủ
động tìm kiếm các nhiệm vụ KHCN thông qua các
chương trình dự án KHCN hợp tác với các địa
phương. Số nh
iệm vụ dạng này trong giai đoạn
2011- 2013 là trên 72. Trong giai đoạn 2011 - 2013,
Viện đã hợp tác với trên 15 tỉnh thành để thực các
nhiệm vụ khoa học công nghệ địa phương.
Các đề tài dự án khoa học hợp tác với các
tổ chức Quốc tế của Viện giai đoạn 2011 -
2013: 11; Viện đã hợp tác với hàng chục tổ
chức cơ quan nghiên cứu Quốc tế trong nghiên
cứu
khoa học.
Bảng 1. Số lượng các đề tài nghiên cứu của IAS
trong giai đoạn 2011 - 2013
Loại đề tài 2011 2012 2013
Cấp Nhà nước/Bộ 60 32 16
Hợp tác quốc tế 14 13 7
Địa phương 34 21 17
khẩu, các loại rau quả, cỏ cho chăn nuôi, giống
vật nuôi. Để thực hiện nhiệm vụ rất quan trọng
này, Viện đã huy động kinh phí trích từ các đề
tài, dự án, kinh phí hoạt động bộ máy và các
nguồn khác. Hiện nay Viện đang bảo tồn và khai
thác 2237
dòng giống cây trồng (lúa, ngô, đậu
tương, lạc, đậu xanh, sắn, điều, tiêu, ca cao, rau,
hoa, khoai tây, khoai lang), 25 chủng vi sinh vật
hoạt động trong môi trường đất.
2.2. Hoạt động nghiên cứu cơ bản
Trong giai đoạn 2011 - 2013, Viện đã chú
trọng hơn tới công tác nghiên cứu cơ bản, bước
đầu đã có được những kết quả đáng khích lệ: Xác
định và giải mã gen virus gây bệnh vàng xoăn
ngọn cây cà chua, xác định được diễn biến dinh
dưỡng trong đất trồng sắn liên tục 15 năm tại
Trung tâm Hưng Lộc.
2.3. Thành tựu được Bộ Nông nghiệp và
PTNT ghi nhận
Tính đến thời điểm hiện tại, Viện Khoa học
Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam đã nghiên cứu
và chọn tạo được trên 147 giống cây trồng vật
nuôi và 90 quy trình kỹ thuật phục vụ sản xuất
nông nghiệp.
Trong giai đoạn 2011
- 2013 Viện đã có 29
giống cây trồng các loại về 01 giống ngô lai, 01
giống khoai tây, 01 giống dâu tây, 02 giống cà
a cạn của
Viện đang chiếm diện tích khoảng 500 ha/năm tại
các tỉnh Tây Nguyên. Giống lúa chịu phèn
ĐTM126 đang chiếm diện tích 100ha/năm tại các
tỉnh Đồng Tháp Mười, dự kiến năm 2013-2014
diện tích trồng sẽ tăng lên 2.000-3.000ha sau khi
chính thức chuyển giao giống nguyên chủng ra
sản xuất.
Với công trình chọn tạo giống lúa mới, IAS đã
có đó
ng góp lớn trong việc bảo đảm an ninh lương
thực Quốc gia, đẩy mạnh xuất khẩu lúa gạo, giúp
phát triển kinh tế xã hội tại các tỉnh phía Nam.
2.3.1.2. Giống bắp
Bên cạnh việc phát triển cây lúa, Viện đã và
đang tiếp tục xây dựng các tập đoàn giống cây màu
phục vụ cho mục đích chuyển đổi cơ cấu cây trồng
và sử dụng hợp lý nguồn tại nguyên. Vì vậy, các
chươn
g trình nghiên cứu chọn tạo giống bắp lai
thích hợp cho các vùng sinh thái nông nghiệp vẫn là
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
92
hướng ưu tiên nghiên cứu chính trong trong thời
gian vừa qua.
Giai đoạn 2011 - 2013 Viện đã phát triển các
giống ngô lai V98-1, V98-2, V-118, VN112 diện
tích hàng năm chiếm 2.000ha, phát triển tại các
tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Đây là các
giống bắp có thời gian sinh trưởng ngắn, có tiềm
tấn/ha. Năng suất trong vụ Đông Xuân biến động
từ 2,3 - 2,52 tấn/ha, vượt giống đối chứng HL203
từ 12-20% có ý nghĩa. Các giống đều chống chịu
tốt với bệnh gỉ sắt, chín tập trung, ít tách hạt
ngoài đồng
khi chín, trong đó HL07-15 và
HLĐN29, cho năng suất ổn định và thích nghi
rộng. Giống HLĐN25 cho năng suất cao ổn định
và thích nghi trong môi trường thuận lợi, thâm
canh cao. Các giống có hàm lượng protein từ 32 -
35%, lipid từ 21 - 24%.
2.3.1.4. Giống đậu xanh
Giống đậu xanh HL89-E3, HLĐX 6, HLĐX
7 ngắn ngày năng suất cao được trồng tại các tỉnh
Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông
Cửu Long với diện tích đạt gần 30.000ha.Trong
đó, giống
đậu xanh HLĐX 6 và HLĐX 7 có thời
gian sinh trưởng 63 - 68 ngày, cho năng suất cao
ổn định và thích nghi rộng, năng suất vụ Hè Thu
và Thu Đông biến động từ 1,27 đến 1,51 tấn/ha,
trong vụ Đông Xuân biến động từ 1,33 - 1,88
tấn/ha. Các giống đều chống chịu tốt với bệnh
virus vàng lá, nhiễm nhẹ bệnh đốm lá, chín tập
trung, tỷ lệ thu hoạch lần 1 đạt 75 - 85% so với
tổng sản phẩm.
Giống mới đã được nông
dân sản xuất đại trà
trên các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long
trong quá trình nghiên cứu và chuyển giao
4.000ha khoai tây Atlantic trên cả hai miền Nam,
Bắc. Giống khoai tây TK96.1 (được công nhận sản
xuất thử) là giống Viện lai tạo và chọn lọc từ năm
1996 thích hợp cho chế biến công nghiệp, có khả
năng kháng mốc sương tốt và cho năng suất cao (25
- 30 tấn/ha) kể cả tr
ong mùa mưa. Tương lai đây sẽ
là một trong những giống mùa mưa chủ lực của
Lâm Đồng và các tỉnh Tây Nguyên.
Trong giai đoạn 2011 - 2013, hơn 600.000
củ khoai tây Go, 1.500.000 ngọn khoai tây
rootcuting đã được Viện chuyển giao và cung cấp
cho sản xuất tại Lâm Đồng.
Hội thảo Quốc gia về Khoa học Cây trồng lần thứ nhất
93
2.3.1.7. Giống và kỹ thuật trồng cà chua
Viện KHKTNN miền Nam cung cấp giống
cà chua làm gốc ghép (VIMINA 1, 2, 3), quy
trình ghép cà chua, hướng dẫn xây dựng mô hình
trại sản xuất giống cho nông dân giỏi, nông dân
đầu tư xây dựng nhà nuôi, ghép, nhà màng chăm
sóc cây con. Từ tháng 2 năm 2007 đến nay Viện
đã tiếp tục chuyển giao kỹ thuật ghép cà chua
chống bệnh héo rũ vi khuẩn Ralstonia
solanacearum. Vấn nạn cà chua chết vì héo rũ vi
khuẩn tại Lâm Đồng đã được giải quyết sau lịch
sử
gần 60 năm trồng cà chua. Nhờ kỹ thuật này, năng
suất cà chua toàn tỉnh đã tăng từ 40 tấn lên 60
tấn/ha. Giá trị sản lượng hàng năm tăng thêm 350 tỷ
USD/tấn
20.000 VND/USD), tương đương 320
triệu USD/năm.
2.3.1.9. Giống điều
Các kết quả chuyển giao giống và tiến bộ kỹ
thuật của IAS đã góp phần to lớn đưa Việt Nam trở
thành nước hàng đầu thế giới về năng suất và sản
lượng điều. Viện đã tuyển chọn và giới thiệu cho
sản xuất giống điều cao sản PN1 có tiềm năng
năng
suất từ 2,5 - 3,0 tấn/ha, có tỷ lệ nhân cao từ 27 -
34% và kích thước hạt lớn. Năm giống điều:
MH5/4, MH4/5, MH2/7, MH2/6 và MH3/5, có
tiềm năng năng suất cao, có thể đạt tới năng suất
3,0-4,0 tấn/ha. Ba giống điều TL11/2, TL6/3 và
TL2/11 năng suất hạt 2,0 - 3,0 tấn/ha, tỷ lệ nhân 28-
31%, kích cỡ hạt 132 - 160 hạt/kg. Song song với
công tác chọn tạo giống điều mới, biện pháp nhân
nhanh và duy trì tính trạng tốt cũng
được nghiên
cứu và đã hoàn thiện được quy trình nhân giống vô
tính cây điều bằng phương pháp ghép với tỷ lệ cây
xuất vườn từ 77,0 - 80,0%.
Trog giai đoạn 2011 - 2013, Viện đã chuyển
giao cho nông dân sản xuất đại trà các giống điều
PN1, TL6/3, TL11/2 và TL2/11 với diện tích đạt
gần 150.000ha.
2.3.1.10. Giống mè
Viện đã tuyển chọn được 2 giống mè đen
ADB1 và NA2 có năng suất và chất lượng cao,
thiện được từ 2,03 - 3,48%.
Tiến bộ kỹ thuật lợn đực giống
cuối cùng
F1 giữa hai nhóm giống Pietrain và Duroc với
kết quả tăng trọng đạt bình quân 629 -
700g/ngày, tiêu tốn thức ăn 3,01 - 3,18kg cho 1
kg tăng trọng và dày mỡ lưng ở điểm P2 thấp từ
9,69 - 10,91 mm; chất lượng tinh dịch (VAC)
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
94
của các tổ hợp đực lai đều cao hơn dòng thuần
Duroc và Pietrain bố mẹ; nhóm đực lai 2 máu
DPD (75% máu Duroc và 25% máu Pietrian)
cho kết quả tốt nhất.
2.3.1.12. Mô hình trồng rau nhà màng
Mô hình nhà màng trồng rau của Viện được
ứng dụng rộng rãi tại Tây Nguyên và Đông Nam
Bộ. Đặc biệt, mô hình này đã và đang được
nghiên cứu chuyển giao trên quần đảo Trường Sa
phục vụ nhu cầu sản xuất rau cho đảo.
2.3.1.13. Giống gia cầm
Trong giai đoạn 2011 - 2013, năng
suất trứng
của các dòng mái chọn tạo từ Viện đạt 195 - 200
trứng/mái/năm; dòng trống cho năng suất thịt 12
tuần tuổi đạt 2,0 - 2,2 kg với con mái và 1,6 - 1,8 kg
với con mái, tiêu tốn thức ăn đạt 2,4 - 2,6 kgTĂ/kg
tăng trọng.
Ngoài ra, Viện còn có nhiệm vụ nuôi giữ giống
gốc hai dòng gà BT2 với số lượng 1000 mái ông
m vú cận
lâm sàng đã giảm hơn ½ so với khi bắt đầu thử
nghiệm, giúp tăng 11,1 - 23,8% sản lượng sữa trong
thời gian thử nghiệm, lợi nhuận bình quân do áp
dụng quy trình này là khoảng 42.000 Đ/Con/tháng.
Quy trình phòng - trị bệnh chậm sinh, sẩy thai
bò sữa được thử nghiệm trong thực tiễn giúp rút
ngắn khoảng cách hai lứa đẻ từ 16,7 tháng xuống
còn 13,4 tháng, giảm bớt 3,2 tháng. Hiệu quả kinh
tế khi áp dụng quy trình: Tất cả ch
i phí phát sinh do
áp dụng quy trình này vào khoảng 29.000
Đ/Con/tháng.
2.3.2. Thành tựu về hợp tác Quốc tế
Trong giai đoạn 2011 - 2013, Viện đã thực
hiện 11 đề tài/dự án hợp tác Quốc tế, trong đó có
một dự án ODA do ACIAR tài trợ thông qua Viện
Nghiên cứu Lúa Quốc tế. Ngoài ra Viện còn ký hợp
đồng nghiên cứu với nhiều công ty nước ngoài.
Tổng kinh phí các đề tài/dự án hợp tác Quốc tế
trong giai đoạn 2011 - 2013 đạt hơn ba tỷ đồng
. Kết
quả một số đề tài/dự án nổi bật:
- Dự án do ACIAR tài trợ về “Các hệ thống
trồng trọt, chăn nuôi bền vững và mang lại lợi
nhuận cho vùng duyên hải Nam Trung Bộ Việt
Nam” gồm ba hợp phần: (1) Phân tích chuỗi giá trị
cho hệ thống nông nghiệp bền vững và có hiệu
quả kinh tế ở vùng duyên hải Nam Trung bộ, (2)
Hệ thống cây trồng bền vững cho vùng đất cá
cây trồng cạn vào thay thế một vụ lúa trong hệ
thống chuyên lúa cho từng địa bàn cụ thể ở Bạc
Hội thảo Quốc gia về Khoa học Cây trồng lần thứ nhất
95
Liêu, Hậu Giang và Cần Thơ. Đây là dự án tiếp
cận và dự báo của việc biến đổi khí hậu ảnh
hưởng đến sản xuất lúa và từ đó đưa ra hướng
giải quyết phù hợp. Trong tương lai, nếu ảnh
hưởng của biến đổi khí hậu gây thiệt hại đến việc
sản xuất, thì kết quả của dự án sẽ là bước chuẩn
bị sẵn sàng để ứng dụng
vào thực tiễn sản xuất.
- Dự án “Chọn tạo giống lúa chịu nóng” hợp
tác với Trung tâm Hợp tác Kỹ thuật Quốc tế Hàn
Quốc đã thu thập được hai giống có tính thích
nghi rộng ở Việt Nam là AS 996 và OM 5930.
Dự án cũng đã tiếp nhận nguồn gen chịu nóng,
giống lúa từ Hàn Quốc và sáu nước ASIAN. Dự
án đã chọn được nhiều dòng lúa có triển vọng (69
dòng của 3 tổ hợp)
, trọng đó có 14 tổ hợp được
đánh giá có nhiều đặc điểm nông học tốt tiếp tục
đưa vào nghiên cứu. Thông qua dự án đã cung
cấp nguồn donor chịu nhiệt cho các đề tài trong
nước hiện tại cũng như tương lai đáp ứng yêu cầu
cung cấp các giống phục vụ biến đổi khí hậu.
- Dự án “Phát triển hệ thống giống đậu
tương h
iệu quả thông qua cải thiện khả năng
tăng trưởng thế hệ cây con và phương pháp
phát triển nông nghiệp và nông thôn, Viện Khoa
học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam dựa vào
tiềm lực đội ngũ cán bộ khoa học, khả năng
tổ
chức và quản lý cơ sở vật chất, khả năng hợp tác
với các đơn vị trong và ngoài nước sẽ tập trung
tốt hơn nữa công tác nghiên cứu triển khai và
chuyển giao tiến bộ kỹ thuật.
Viện sẽ tiếp tục triển khai tốt các chương
trình trọng điểm cấp Nhà nước và trọng điểm
cấp Bộ trên tinh thần hợp tác toàn diện với các
cơ quan nghiên cứu khoa học và quản
lý nông
ngiệp. Viện sẽ chú trọng giải quyết các yêu cầu
của sản xuất đồng bộ theo hướng gắn kết với
thị trường. Ưu tiên các sản phẩm mũi nhọn,
chủ lực đáp ứng yêu cầu cấp bách và có tác
dụng lớn với sản xuất như giống và quy trình
sản xuất lúa cho vùng khó khăn, chịu ảnh
hưởng của biến đổi kh
í hậu, giống/quy trình
sản xuất ngô, đậu đỗ, khoai tây phục vụ công
tác chuyển dịch cơ cấu cây trồng, giống/quy
trình sản xuất sắn phục vụ cho nhu cầu chế
biến nhiên liệu sinh học, giống/quy trình điều,
hồ tiêu phục vụ nhu cầu xuất khẩu.
Tăng cường công tác quản lý khoa học và
nhân sự nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu.
Đào tạo cán
bộ nhằm phấn đấu đưa trình độ