Chuyên đề thực tập
Trường Đại học kinh tế quốc dân
Khoa KINH Tế Và THƯƠNG MạI QUốC Tế
CHUYÊN Đề
THựC TậP CUốI KHOá
¬ Đề tài:
Giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) vào thành phố Hà Nội
Sinh viên thực hiện : đỗ lê trí
MSSV : cq483114
Lớp : kinh tế quốc tế 48b
Khoá : 48
Hệ : chính quy
Giảng viên hướng dẫn : ths. tô xuân cường
Hà Nội - 2010
Sinh viên:Đỗ Lê Trí Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
1
Chuyên đề thực tập
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa
Thương Mại và Kinh tế quốc tế đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt cho em
những kiến thức vô cùng quý báu. Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc
nhất tới thầy giáo Tô Xuân Cường, người thầy giáo đã nhiệt tình hướng dẫn
chỉ bảo em trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành chuyên đề thực tập.
Em xin chân thành cảm ơn các anh chị, cơ chú cán bộ trong phòng Đăng
ký kinh doanh - Cục phát triển doanh nghiệp – Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tạo
điều kiện giúp đỡ em trong thời gian thực tập tại phòng.
Trong khuôn khổ của một đề tài thực tập tốt nghiệp, với hạn chế về kiến
thức cũng như tầm hiểu biết về thực tiễn, chuyên đề này không tránh khỏi
những thiếu xót, sai lệch trong bài viết này. Vậy em mong được sự chỉ bảo,
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Sinh viên:Đỗ Lê Trí Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
4
Chuyên đề thực tập
BẢNG
BIỂU
Sinh viên:Đỗ Lê Trí Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
5
Chuyên đề thực tập
LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính tất yếu của đề tài
Năm 1010, Hà Nội được vua Lý Thái Tổ chọn làm kinh đô và đặt tên là
Thăng Long với lòng mong muốn kinh thành ngày càng phồn thịnh như Rồng
bay lên. Gần mười thập kỷ qua đó chứng minh quyết định ấy là sáng suốt.
Thăng Long xưa và Hà Nội nay luôn luôn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn
hóa lớn của nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, có vị trí xứng đáng trong
khu vực và trên thế giới.
Bước sang thế kỷ XXI, thành phố Hà Nội khẳng định tiếp tục công cuộc
đổi mới, tiếp bước con đường mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới.
Đặc biệt về mặt hợp tác kinh tế, liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp
cùng thành phố với các doanh nghiệp trong khu vực và trên thế giới. Trong
quá trình hội nhập kinh tế thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức đầu
tư phổ biến và thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà hoạch định cũng
như của các doanh nghiệp.
Ngày nay đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng trở nên quan
trọng với việc phát triển chung của thành phố bởi FDI không chỉ là nguồn
cung cấp vốn quan trọng mà còn là con đường cung cấp công nghệ hiện đại,
những kinh nghiệm trong quản lý và là cơ hội tốt để thủ đô tham gia hội nhập
với nền kinh tế quốc tế của thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp
thành phố đi đầu trong công cuộc đổi mới nền kinh tế của thủ đô. Vì thế thu
5. Kết cấu đề tài
Kết cấu đề của đề tài được chia làm ba phần chính:
Chương 1: Khái quát đặc điểm kinh tế xã hội của thủ đô Hà Nội
Chương 2: Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hà Nội
Chương 3: Giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút FDI vào thành phố Hà
Nội.
Chương 1:
Sinh viên:Đỗ Lê Trí Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
7
Chuyên đề thực tập
KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI CỦA HÀ NỘI
1.1. Giới thiệu tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội
1.1.1. Đặc điểm kinh tế
Qua hơn 20 năm đổi mới, cùng với cả nước, thành phố Hà Nội đã thực
hiện chuyển nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan
liêu bao cấp, sang nền kinh tế thị trường vận hành theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của nhà nước.
Sau một thời gian dài của thời kì bao cấp, từ đầu thập niên năm 1990, Hà
Nội bắt đầu ghi nhận những bước tiến mạnh mẽ về kinh tế. Theo các số liệu
của cục thống kê về sự phát triển của thành phố Hà Nội qua các năm thì tốc
độ tăng trưởng GDP bình quân của thành phố thời kì 1991-1995 đạt 12,52%,
thời kì 1996-2000 là 10,38%. Từ năm 1991 tới 1999, GDP bình quân đầu
người của Hà Nội tăng từ 470 USD lên 915 USD, gấp 2,07 lần so với trung
bình của cả nước. Theo số liệu thống kê năm 2000, GDP của Hà Nội chiếm
7,22% của cả quốc gia và khoảng 41% so với toàn vùng Đồng bằng Sông
Hồng(ĐBSH).
Kinh tế Hà Nội phát triển với cơ cấu kinh tế công nghiệp-dịch vụ-nông
nghiệp. Tỷ trọng ngành công nghiệp mở rộng tăng từ 29,1% năm 1990 lên
38% năm 2000, ngành dịch vụ từ 61,9% giảm xuống còn 58,2% năm 2000,
ngành nông-lâm nghiệp và thủy sản từ 9% giảm xuống còn 3,8% năm 2000.
1.1.1.2. Dịch vụ
Các ngành dịch vụ Hà Nội đã có bước phát triển đáng kể. 10 năm qua,
GDP dịch vụ tăng trưởng bình quân 10,14%/năm. GDP dịch vụ tài chính-ngân
hàng tăng trưởng 22,51%, chiếm khoảng 3,9% trong tổng GDP của thủ đô.
Hoạt động du lịch ngày càng phát triển phong phú, đa dạng. Cơ sở vật
chất được tăng cường, đủ điều kiện đón 1 triệu khách du lịch mỗi năm. Từ
năm 1991 đến năm 2000, lượng khách du lịch quốc tế đến Hà Nội tăng 15 lần.
Doanh thu ngoại tệ hoạt động du lịch tăng từ 3,5 triệu USD năm 1990 lên 100
triệu USD năm 1999.
Các hoạt động trên lĩnh vực bảo hiểm cũng có nhiều tiến bộ với sự tham
gia của nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức phong phú. Dịch vụ vận
tải, kho bãi, thông tin có tốc độ tăng trưởng GDP là 14,68%/năm. Năm 1990,
tổng số máy điện thoại trên địa bàn mới có 0,82 máy/100 dân, đến nay bình
quân đạt 18 máy/100 dân, 100% các xã ngoại thành đều có điện thoại.
Sinh viên:Đỗ Lê Trí Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
9
Chuyên đề thực tập
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trên thị trường xã hội tăng bình
quân 24,4%/năm.
1.1.1.3. Nông nghiệp
Việc phát triển kinh tế theo định hướng Công nghiệp – Dịch vụ - Npng
nghiệp của Hà Nội đã ảnh hưởng một phần không nhỏ tới quỹ đất giành cho
nông nghiệp. Tuy nhiên nông nghiệp và nông thôn ngoại thành Hà Nội vẫn có
sự chuyển biến tích cực. Trong 5 năm (1996-2000), sản xuất nông – lâm
nghiệp và thủy sản đạt mức tăng trưởng bình quân 4,89%/năm. Đến nay, giá
trị sản xuất nông, lâm, thủy sản và dịch vụ bình quân 1 ha canh tác tăng gần 4
lần so với năm 1989, đạt 40,4 triệu/ha năm 1999. Việc áp dụng công nghệ
mới, đặc biệt là công nghệ sinh học đã cải thiện đáng kể năng xuất nuôi trồng
trong nông nghiệp. Nhiều ngành nghề truyền thống được khôi phục, kinh tế
trang trại bước đầu được hình thành và phát huy tác dụng. Kết cấu hạ tầng
thu hút được 679 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 1.488 triệu USD.
Vốn đầu tư thực hiện năm 2009 dự kiến đạt 850 triệu USD. Vốn đầu tư xã hội
năm 2009 là 147.814 tỷ đồng, vượt 4,2% dự toán năm, tăng 1,5% so với năm
2008.
1.1.1.5. Hoạt động xuất nhập khẩu
Với lợi thế là trung tâm của cả nước, Thành phố Hà Nội là điạ phương có
sân bay quốc tế Nội Bài, trung tâm tài chính, tập chung nhiều ngân hàng
lớn… tạo điều kiện lớn cho hoạt động xuất nhập khẩu của cả khu vực phí
Bắc. Kim ngạch xuất – nhập khẩu của Hà Nội không ngừng tăng qua các
năm. Mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thời kỳ 1991-1999 là 21,7%/năm,
thời kỳ 1996 – 1999 là 16,17%/năm; đưa kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn từ
755 triệu USD (năm 1995) lên 1.525 triệu USD (năm 2000).
Kim ngạch nhập khẩu bình quân giai đoạn 1996 – 2000 tăng trên
18%/năm, đưa kim ngạch nhập khẩu địa phương tăng từ 52 triệu USD (năm
1990) lên 199 triệu USD (năm 1995) và 420 triệu USD (năm 2000). Năm
1991, tỷ trọng nhập khẩu trang thiết bị máy móc, nguyên vật liệu, vật tư phục
vụ sản xuất trong tổng số kim ngạch nhập khẩu là 42,6%, năm 2000 là
94,74%.
Sinh viên:Đỗ Lê Trí Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
11
Chuyên đề thực tập
Từ những đặc điểm kinh tế trên của thành phố Hà Nội có thể thấy, cơ cấu
ngành kinh tế qua các năm có sự chuyển biến rõ nét; kim ngạch xuất khẩu của
thành phố không ngừng tăng, năm sau cao hơn năm trước; giá trị xuất khẩu
của Hà Nơi luôn có những thay đổi, tỷ trọng những mặt hàng công nghiệp đòi
hỏi công nghệ cao dần thay thế sản phẩm thụ, chưa qua chế biến, việc đòi hỏi
công nghệ thấp…nhưng bên cạnh đó ta vẫn nhận thấy việc chuyển dịch cơ
cấu nội bộ ngành vẫn còn chậm, đặc biệt là các ngành công nghiệp và dịch vụ,
sản phẩm chủ lực mũi nhọn. Chất lượng quy hoạch các ngành kinh tế vẫn còn
tồn tại nhiều bất cập, nguồn vốn tiềm năng nằm trong dân cư chưa được chú
chuyên ngoại ngữ thuộc Đại học Ngoại ngữ Hà Nội. Các trường trung học
chuyên này là nơi tập trung nhiều học sinh phổ thông ưu tú không chỉ của Hà
Nội mà còn là của cả nước. Cùng với các trường trung học danh tiếng, hệ
thống giáo dục của thành phố Hà Nội vẫn duy trì những trường bổ túc và cả
các lớp học xóa mù chữ. Sau khi Hà Tây được sát nhập vào thành phố, Hà
Nội hiện đứng đầu Việt Nam về số lượng người không biết chữ. Theo thống
kê của Bộ Giáo Dục và Đào tạo Việt Nam năm 2008, toàn thành phố có gần
235.000 người mù chữ trên tổng số 1,7 triệu người của cả nước.
Là một trong hai trung tâm giáo dục đại học lớn nhất quốc gia, trên địa
bàn Hà Nội có trên 50 trường đại học cùng nhiều cao đẳng, đào tạo hầu hết
các ngành nghề quan trọng. Năm 2007, tại thành phố có 607.208 sinh viên,
Hà Tây cũng tập trung 29.435 sinh viên. Nhiều trường Đai học ở đây như Đại
học Y, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Đại học Ngoại Thương, Đại học kinh tế
quốc dân, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Xây Dựng… là những trường
đào tạo đa ngành và chuyên ngành hàng đầu của Việt Nam.
1.1.2.2. Y tế
Theo con số của tổng Cục thống kê Việt Nam năm 2007, thành phố Hà
Nội trước khi mở rộng có 232 trạm y tế, 26 phòng khám khu vực và 19 bệnh
viện, tổng cộng 4.448 giường bệnh cùng 1.705 bác sĩ thuộc Bộ Y Tế. Tỉnh Hà
Tây cũng có 322 trạm y tế, 17 phòng khám khu vực nội ô thành phố. Các
bệnh viện Việt Đức, Bạch Mai… đều trong trạng thái quá tải. Cùng với hệ
thống y tế của nhà nước, Hà Nội cũng có một hệ thống bệnh viện, phòng
khám tư nhân đang dần phát triển. Năm 2007, toàn thành phố có 8 bệnh viện
tư nhân với khoảng 300 giường bệnh. Theo đề án đang được triển khai, đến
Sinh viên:Đỗ Lê Trí Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
13
Chuyên đề thực tập
năm 2010, Hà Nội sẽ có thêm 8 đến 10 bệnh viện tư nhân. Khi đó, tổng số
giường bệnh tư nhân sẽ lên tới khoảng 2.500 giường bệnh.
Cũng giống như Thành phố Hồ Chí Minh, điều kiện chăm sóc y tế giữa
không có trường học và không được chăm sóc y tế.
Sau hơn 20 năm đi theo con đường đổi mới, thành phố Hà Nội đã có
bước chuyển dịch đúng định hướng mà thành phố đã đề ra; xã hội ổn định,
đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Đặc biệt là khi Hà Nội mở rộng địa
giới hành chính, số lượng dân cư tăng lên với hơn 6 triệu người, với hơn 3
triệu người trong độ tuổi lao động, lao động dồi dào. Việc tập chung một số
lượng lớn các trường Đại Học ở Hà Nội hứa hẹn sẽ mang lại một nguồn lực
lớn lượng lao động có tri thức, tay nghề trong tương lai. Nhưng bên cạnh đó,
hiện nay Hà Nội còn gặp phải một số vấn đề khó khăn khác như: nhiều sinh
viên tốt nghiệp ra trường còn phải qua đào tạo lại, khả năng lắm bắt, thích
ứng với sự thay đổi của thị trường còn kém, cơ cấu và chất lượng nguồn lao
động chưa dịch chuyển theo yêu cầu cơ cấu ngành kinh tế.
1.2. Sự cấp thiết trong việc thu hút FDI của thành phố Hà Nội
Năm 2009, theo con số thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế
hoạch và Đầu tư thì Hà Nội thu hút được 679 dụ án với tổng số vốn đầu tư là
1.488.653 nghìn USD, hiện đứng thứ 3 trong cả nước về thu hút nguồn vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nguồn vốn được đánh giá là đầu tư có hiệu quả,
đi đúng định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố Hà Nội đã đề
ra: trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội, làm trọng điểm cho việc phát
triển kinh tế khu vực phía Bắc. Vì vậy việc thu hút vốn FDI vào Hà Nội có
vai trò quan trọng trong việc phát triển của thành phố.
• Theo Phó Giám đốc Sở Kế hoạch – Đầu tư thành phố Hà Nội Nguyễn
Văn Tứ, việc thu hút FDI đã góp phần vào sự phát triển kinh tế, xã hội, phát
triển cơ sở hạ tầng của Hà Nội. Thành phố cần phải trở thành một trung tâm
của một số ngành công nghiệp như: công nghiệp cơ khí phục vụ dệt may, vận
tải; trở thành khu công nghiệp công nghệ cao (công nghệ thông tin, công nghệ
sinh học, công nghệ sinh học, điện tử, công nghiệp vật liệu mới…)
Sinh viên:Đỗ Lê Trí Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
15
Chuyên đề thực tập
Sinh viên:Đỗ Lê Trí Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
16
Chuyên đề thực tập
nhân tố nước ngoài. Hai đặc điểm cơ bản của FDI là: có sự dịch chuyển tư
bản trong phạm vi quốc tế và chủ đầu tư (pháp nhân, thể nhân) trực tiếp tham
gia vào hoạt động sử dụng vốn và quản lí đối tượng đầu tư. Từ việc tìm hiểu
qua khái niệm về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI ta có thể đánh
giá một cách khái quát hơn về những thuận lợi và khó khăn mà thành phố Hà
Nội gặp phải trong việc thu hút vốn FDI vào thủ đô.
1.3.1. Thuận lợi
1.3.1.1. Vị trí địa lí
Năm 1010, Hà Nội được vua Lý Thái Tổ chọn làm kinh đô và đặt tên
là Thăng Long với lòng mong muốn kinh thành ngày càng phồn thịnh như
Rồng bay lên. Trung tâm Thăng Long xưa và trung tâm Hà Nội nay không
trùng nhau, nhưng sau gần mười thập kỷ qua đi những điểm ưu việt của điều
kiện địa lý và tự nhiên của Thăng Long vẫn tạo ra những thế mạnh cho Hà
Nội mà hiếm đâu sánh được
Thứ nhất, thế đất bằng phẳng, cao ráo, nằm trên đồng bằng mầu mỡ, khí
hậu lại ấm áp. Hà Nội là vùng sinh thái tuyệt với cho con người định cư và
phát triển
Thứ hai, vị thế trung tâm của Hà Nội, lại nằm bên con sông lớn khiến
cho giao thông với các địa phương khác dễ dàng, thuận tiện. Từ xưa, Hà Nội
đã nổi tiếng là trung tâm thương mại lớn của cả nước.
Hà Nội nằm trên hai bờ sông Hồng, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ trù
phú, phía bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và tỉnh vĩnh Phú, phía nam giáp tỉnh Hà
Nam và tỉnh Hòa Bình. Phía đông giáp các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và
Hưng Yên, phía tây giáp tỉnh Hòa Bình và tỉnh Phú Thọ. Với vị trí và địa thế
đẹp, thuận lợi, Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học
lớn, đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam, là vùng trọng điểm phía
Bắc tạo động lực phát triển vùng và các miền khác.
nhanh với công nghệ mới, có khả năng tạo ra những giá trị kinh tế cao.
1.3.1.3. Hà Nội còn là một trung tâm đầu não chính trị của cả nước
Sinh viên:Đỗ Lê Trí Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
18
Chuyên đề thực tập
Hà Nội – mảnh đất của truyền thống ngàn năm văn hiến, là trái tim của
cả nước, nơi tập trung các cơ quan lãnh đạo của Trung Ương Đảng, Quốc hội,
Chính phủ, các đoàn thể xã hội.
Thủ đô Hà Nội cũng là nơi diễn ra các Đại hội đại biểu toàn quốc của
Đảng, các kỳ họp quốc hội, mà từ đó đã đưa ra các nghị quyết, đường lối,
sách lược đối nội và đối ngoại cho từng giai đoạn xây dựng kinh tế. Đây là
một lợi thế lớn giúp các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội có thể nhanh
chóng lắm bắt được những chính sách mới nhất của đất nước.
Hà Nội là nơi tập trung các cơ quan đầu não, các cơ quan ngoại giao của
các quốc gia, các tổ chức kinh tế, tổ chức phi chính phủ lớn. Mọi hoạt động
ngoại giao, đàm phán ký kết các hợp đồng thỏa thuận kinh tế về song phương
và đa phương, kí hiệp ước hữu nghị, hợp tác đều diễn ra tại đây. Các cơ quan
xúc tiến đầu tư, hỗ trợ xuất khẩu… cũng đặt trụ sở trên địa bàn Hà Nội, tạo
điểu kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc tìm hiểu chính sách, nhu cầu,
khả năng cạnh tranh hàng hóa của quốc gia khác trên thế giới.
1.3.1.4. Hà Nội là nơi có hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển
Tại các thủ đô của những nước phát triển trên thế giới rất quan tâm tới việc
phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ như hệ thống sân bay,
bến cảng, cầu cống bởi đay chính là vấn đề quan trọng hàng đầu trong chiến
lược phát triển một nền kinh tế vững mạnh. Hệ thống giao thông có phát triển
thì mới làm cho các dự án các công trình được triển khai và đi vào thực hiện
vì đây được coi là huyết mạch lưu thông của nền kinh tế, nếu hoạt động này
hoạt động kém có nghĩa là các hoạt động kinh tế cũng bị ảnh hưởng và không
thể tiến hành nhanh được, các dự án đầu tư cũng không nằm ngoài quy luật đó
nên cũng chịu ảnh hưởng của sự phát triển hệ thống giao thông và hệ thống
Hà Nội.
1.3.2. Khó khăn trong việc thu hút FDI vào Hà Nội
Theo sự khảo sát và điều tra về môi trường thu hút đầu tư của Hà Nội,
bên cạnh những mặt thuận lợi trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào Hà Nội hiện nay thì vẫn còn tồn tại nhiều mặt khó khăn, thách thức
mà doanh nghiệp vấp phải khi tham gia đầu tư vào thành phố như:
Sinh viên:Đỗ Lê Trí Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
20
Chuyên đề thực tập
•Thứ nhất, qui hoạch phát triển đô thị của Hà Nội chưa đồng bộ và
thống nhất. Từ ngày 1/8/2008, thành phố Hà Nội mở rộng hơn nữa địa giới
hành chính, theo đó hiện nay Hà Nội có 29 đơn vị hành chính, gồm 9 Quận, 2
thành phố và 18 huyện ngoại thành với diện tích là 3.346km2, dân số hơn 6
triệu người là một thách thức lớn đặt ra trong việc đưa ra chiến lược phát triển
kinh tế của thành phố, việc quản lý và đào tạo một lượng lớn lao động chưa
có tay nghề là yếu tố lớn gây cản trở trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư
trong thời gian tới của Hà Nội.
•Thứ hai, so với các địa phương khác, mặt bằng thu nhập bình quân của
người dân và mức giá cả là khá cao. Với dân số đông, nguồn lao động dồi
dào, nhưng lao động có tay nghề của Hà Nội lại đòi hỏi mức thu nhập cao, chi
phí cho những khoản đãi ngộ với người lao động vẫn ỏ mức cao… dẫn tới chi
phí mà nhà đầu tư phải bỏ ra tăng lên, điểu này ảnh hưởng tới khả năng cạnh
tranh trong việc thu hút vốn FDi vào Hà Nội thời gian tới.
•Mạng lưới viễn thông của Hà Nội tuy có được đầu tư lớn, hệ thống kỹ
thuật số, cáp quang khá phát triển, hòa mạng với hệ thống viễn thông toàn
cầu, nhưng cước điện thoại quốc tế là 1,3USD/phút là khá cao so với mặt
bằng giá trên thế giới.
•Tiền thuê đất, mặt bằng kinh doanh của Hà Nội cũng là đặc điểm gây
ảnh hưởng tới thu hút đầu tư trực tiếp vào thành phố. Hiện nay, giá văn phòng
trên địa bàn thành phố Hà Nội tuy có xu hướng giảm nhưng vẫn cao hơn so
doanh nghiệp trên địa bàn thủ đô đã gặp phải và những tháo gỡ của doanh
nghiệp và chính quyền thành phố Hà Nội trước những khó khăn đó trong thời
gian qua.
Sinh viên:Đỗ Lê Trí Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
22
Chuyên đề thực tập
Chương 2:
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀO THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Thực trạng hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
thành phố Hà Nội
2.1.1. Số lượng và quy mô các dự án
Số lượng dự án đầu tư trong những năm gần đây vào thành phố Hà Nội
có sự tăng lên rất lớn kể từ khi đất nước ta gia nhập vào tổ chức thương mại
quốc tế WTO. Luồng vốn và số dự án không ngừng tăng lên. Năm 2006, có
26 dự án tăng vốn đầu tư với tổng số vốn đăng ký 188 triệu USD. So với cùng
kì năm ngoái, số dự án đầu tư tại thành phố tăng 80% (236/131 dự án); tổng
số vốn đầu tư tăng 40%( 1128/801 triệu USD). Việc hàng loạt các dự án điều
chỉnh tăng vốn cho thấy các nhà đầu tư rất tin tưởng vào tương lai hoạt động
ở Hà Nội. Hầu hết các dự án FDI trên địa bàn Hà Nội hoạt động có hiệu quả
và không ngừng mở rộng sản xuất kinh doanh. Cuối năm 2007 một số dự án
FDI với quy mô lớn đã đi vào hoạt động như dự án Cổng tây Hà nội ( liên
doanh của công ty Viglacera và đối tác Nhật Bản với tổng vốn 233 triệu USD,
khách sạn 5 sao Riviera 500triệu USD, dự án Công viên Yên Sở của tập đoàn
Gamuda land, dự án khu công nghệ cao… Đến hết năm 2008, sau khi mở
rộng địa giới hành chính, Hà Nội đã thu hút được hơn 1400 dự án đầu tư nước
ngoài với tổng số vốn đăng kí đạt trên 18 tỷ USD. Với con số này, Hà Nội
hiện đang đứng thứ 3 cả nước về thu hút đầu tư nước ngoài, sau Tp HCM và
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đến năm 2009, mặc dù số dự án vẫn có xu hướng
tăng lên song lượng vốn đầu tư lại giảm xuống so với những năm trước đó và
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam 2/2010
Đầu tư trực tiếp vào thành phố Hà Nội có xu hướng gia tăng cả về số dự
án cũng như về vốn đầu tư và các ngành đầu tư cũng có những biến đổi. Biều
hiện rõ nhất là vào năm 2008, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của
tổ chức thế giới, thời điểm lịch sử đánh dấu sự gia tăng cả lượng vốn đầu tư
Sinh viên:Đỗ Lê Trí Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
24
Chuyên đề thực tập
và số dự án đổ vào nước ta nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng. Và cũng
vào thời điểm này,thủ đô Hà Nội mở rộng địa bàn hành chính, lượng vốn đầu
tư không ngừng tăng lên. Theo bảng 2.1 trên, ta thấy năm 2008 số dự án tham
gia đầu tư vào thành phố đã lên con số kỷ lục là 1400 dự án, với tổng số vốn
lên tới 18 tỷ USD. Qua đây ta thấy tình hình đầu tư tại Hà Nội có nhiều khả
quan cả về số lượng các nhà đầu tư tham gia song có một điều cần nhìn lại ở
đây là số lượng dự án có tăng lên, nhưng quy mô dự án lại không có nhiều
thay đổi, vốn thực hienẹ lại khác xa so với tổng vốn đăng ký. Điều này chứng
tỏ số lượng các nhà đầu tư tham gia tăng lên rõ rệt nhưng các dự án tham gia
lại nhỏ, các dự án có quy mô lớn và trung bình thường chiếm tỷ trọng rất nhỏ.
Các nhà đầu tư vẫn chưa coi thủ đô là một đại chỉ đầu tư tin cậy để thực hiện
các dự án của mình.
Biểu đồ 2.1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hà Nội từ 2005 đến 2009
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam
Sinh viên:Đỗ Lê Trí Lớp: Kinh tế Quốc tế 48B
25