MỤC LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
SƠ ĐỒ
LỜI NÓI ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, vốn là một hoạt động vật chất quan trọng cho mọi
hoạt động của nền kinh tế. Nhu cầu về vốn đang nổi lên như một vấn đề mang tính
thiết yếu. Để thực hiện chiến lược phát triển nền kinh tế với mục tiêu đến năm 2020
Việt Nam sẽ trở thành một nước Công nghiệp hóa – hiện đại hóa cần một lượng vốn
đầu tư rất lớn.
Đương nhiên để duy trì những thành quả đã đạt được của nền kinh tế, giữ
vững nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao, tránh cho đất nước rơi vào tình trạng tụt hậu
so với các nước trong khu vực và trên thế giới; cũng như các nước đang phát triển
khác - trong chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà
nước ta, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA – Official Development
Assistance) là một trong những nguồn vốn nước ngoài có ý nghĩa vô cùng quan
trọng.
Ở nước ta, các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA có tác động tích cực đến
phát triển kinh tế xã hội của các địa phương và vùng lãnh thổ, đặc biệt là các thành
phố và vùng kinh tế lớn của cả nước. Đồng thời góp phần vào sự phát triển, nâng
cao hệ thống cơ sở hạ tầng đặc biệt là cơ sở hạ tầng nông thôn, phát triển nông
nghiệp, xóa đói giảm nghèo… Tuy nhiên, một thực tế không thể phủ nhận là nhiều
dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA hoạt động không hiệu quả, gây lãng phí lớn và
tạo gánh nặng nợ nần khó trả cho nhiều thế hệ. Nhiều nghiên cứu cho thấy, một
trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là do các dự án này không
được thẩm định một cách kỹ càng trước khi quyết định thực hiện đầu tư, đặc biệt là
công tác thẩm định tài chính dự án còn bị coi nhẹ.
Chính vì thế, mà thẩm định dự án đầu tư nói chung và thẩm định tài chính dự
án đầu tư bằng nguồn vốn ODA nói riêng là một yêu cầu mang tính lý luận và thực
tiễn cao. Việc nâng cao chất lượng công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư bằng
nguồn vốn ODA đóng vai trò quan trọng trong việc ra quyết định đầu tư của các
Ban quản lý dự án, nhằm tránh những tổn thất không đáng có. Với một thời gian
mỗi người, như tiến hành một nghiên cứu thử nghiệm, viết một cuốn sách…Vậy có
thể hiểu “dự án đầu tư” là gì?
Dự án đầu tư là một tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn ra để
đầu tư của các nhà đầu tư: các nguồn vốn này được sử dụng để tạo mới, mở rộng
hoặc cải tạo một đối tượng nào đó nhằm mục đích đem lại sự tăng trưởng về cả số
lượng lẫn chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ trên một địa bàn nhất định trong
một khoảng thời gian nhất định.
Dù được xem xét dưới bất kỳ góc độ nào thì dự án đầu tư cũng bao gồm các
thành phần chính như sau:
- Các mục tiêu cần đạt được khi thực hiện dự án: Cụ thể là khi thực hiện, dự
án sẽ mang lại những lợi ích gì cho chủ đầu tư. Những mục tiêu này cần được biểu
hiện bằng kết quả cụ thể, mang tính định lượng rõ ràng.
- Các hoạt động của dự án: Dự án phải nêu rõ những hoạt động cụ thể phải
tiến hành, địa điểm diễn ra các hoạt động của dự án, thời gian cần thiết để hoàn
thành, và các bộ phận có trách nhiệm thực hiện những hoạt động đó. Cần lưu ý rằng
các hoạt động đó có mối quan hệ với nhau vì tất cả đều hướng tới sự thành công của
dự án và các mối quan hệ đó diễn ra trong một môi trường không chắc chắn. Bởi vì
môi trường dự án không phải là môi trường hiện tại mà là môi trường tương lai.
- Các nguồn lực: Hoạt động của dự án không thể thực hiện được nếu thiếu các
nguồn lực về vật chất, tài chính, con người… Vì vậy, phải nêu rõ các nguồn lực cần
thiết cho dự án. Tổng hợp các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần cho dự án.
Mỗi dự án bao giờ cũng được xây dựng và thực hiện trong sự giới hạn về nguồn lực.
1.1.1.2. Chu trình một dự án đầu tư
3
Chu trình của một dự án đầu tư thông thường bao gồm năm bước như sau:
Bước 1. Xác định dự án
Bước 2. Phân tích và lập dự án
Bước 3. Duyệt dự án
Bước 4. Triển khai thực hiện dự án
Bước 5. Nghiệm thu, tổng kết và giải thể
vật liệu tại chỗ, các quy định và chính sách có liên quan của Chính phủ, về đặc điểm
kinh tế - văn hóa – xã hội của dân cư trong vùng có liên quan đến dự án.
Nội dung chủ yếu của giai đoạn phân tích và lập dự án là nghiên cứu một
cách toàn diện tính khả thi của dự án. Tuy vậy, đối với những dự án có quy mô lớn
thì trước khi thực hiện nghiên cứu khả thi nên có bước nghiên cứu tiền khả thi.
Trong bước nghiên cứu này, tất cả mọi phương diện chuẩn bị và phân tích dự án
đều được đề cập tới, song chỉ dừng lại ở mức độ chi tiết vừa đủ để chứng minh
một cách khái quát rằng, ý đồ dự án đầu tư được đề xuất là đúng đắn và việc tiếp
tục phát triển ý đồ này là có tiềm năng. Nghiên cứu tiền khả thi cũng giúp loại bỏ
bớt những vấn đề không cần thiết, cũng như xác định các vấn đề cần đặc biệt chú
ý, nhờ đó giúp cho việc định hướng nghiên cứu và tiết kiệm chi phí chuẩn bị đầu
tư vào dự án.
Nghiên cứu khả thi (còn gọi là luận chứng kinh tế kỹ thuật) là bước nghiên
cứu dự án đầy đủ và toàn diện nhất, có nhiệm vụ tạo cơ sở để chấp thuận hay bác bỏ
dự án, cũng như để xác định một phương án tốt nhất trong số các phương án được
đưa ra. Nghiên cứu khả thi, đúng như tên gọi của nó, nhằm chứng minh khả năng
thực hiện của dự án về tất cả mọi phương diện có liên quan. Thiết kế và chỉ đạo
nghiên cứu khả thi là một công việc phức tạp đòi hỏi sự tham gia của nhiều lĩnh vực
khác nhau. Phạm vi và thời gian nghiên cứu khả thi phụ thuộc vào tính chất của dự
án đầu tư: dự án có phức tạp hay không, đã được nhận thức đến mức độ nào, dự án
có tính chất sáng tạo hay chỉ là lặp lại… Về kinh phí, nghiên cứu khả thi thường
chiếm khoảng 5% toàn bộ chi phí đầu tư của dự án. Thời gian nghiên cứu có thể là
một tháng, hai tháng hoặc dài hơn nữa phụ thuộc vào quy mô và tính chất của dự án
mà nó nghiên cứu. Kết thúc nghiên cứu khả thi cũng là hết giai đoạn phân tích và
lập dự án đầu tư.
Thực tế đã chứng minh tầm quan trọng của công tác phân tích và lập dự án
đầu tư. Chuẩn bị tốt và phân tích kỹ lưỡng sẽ làm giảm những khó khăn trong giai
đoạn thực hiện, cũng như cho phép đánh giá chính xác hơn tính hiệu quả và khả
năng thành công của dự án.
Bước 3 – duyệt dự án: Duyệt dự án là giai đoạn thường thực hiện với sự
chặt chẽ và phản ứng kém linh hoạt trước những thay đổi của môi trường kinh tế -
xã hội
- Khó khăn về kỹ thuật: phát sinh do việc cung ứng vật tư, máy móc, thiết
bị không thích hợp hay kém chất lượng, hoặc do những sai lầm ngay trong thiết kế
ban đầu, hoặc do sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ mới.
- Các biến động chính trị: với những dự án thực hiện trong thời gian dài
còn phải đối mắt với một loại khó khăn nữa: khó khăn về chính trị. Chưa kể tới các
biến động hay sự hỗn loạn chính trị, các dự án thường chịu tác động của những thay
đổi trong các chính sách kinh tế - xã hội của Chính phủ, hay mức độ ưu tiên của
6
Chính phủ cho dự án không được như trước nữa
Những khó khăn và biến động thường xảy ra trong giai đoạn thực hiện dự
án, đòi hỏi các nhà quản lý phải hết sức linh hoạt, nhạy bén đồng thời phải thường
xuyên giám sát, đánh giá quá trình thực hiện để kịp thời đưa ra các biện pháp giải
quyết thích hợp, thậm chí xem xét điều chỉnh lại các mục tiêu và phương tiện thực
hiện nếu cần.
Bước 5 – nghiệm thu, tổng kết và giải thể: Nghiệm thu, tổng kết và giải thể
là giai đoạn tiến hành sau khi thực hiện xong dự án. Đánh giá nghiệm thu có nhiệm
vụ làm rõ những thành công và thất bại trong toàn bộ quá trình xác định, phân tích
và lập dự án, cũng như trong khi thực hiện để rút ra những kinh nghiệm và bài học
cho quản lý các dự án khác trong tương lai.
Kết thúc và giải thể dự án như thế nào cũng là vấn đề cần bàn tới, tốt hơn cả
là ngay từ khi tiến hành lập dự án, ít nhất ở đây có hai vấn đề quan trọng cần bàn
đến là: bàn giao (hay phân chia) sử dụng các kết quả của dự án cũng như những
phương tiện mà dự án còn để lại; và bố trí lại công việc cho các thành viên tham gia
dự án, nhất là những người đã được biệt phái hoàn toàn khỏi cơ quan cũ sau một
thời gian dài làm việc cho dự án.
1.1.1.3. Phân loại dự án đầu tư
Mỗi dự án đầu tư có quy mô và sức ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội là khác
nhau, do vậy, để dễ dàng cho công tác kiểm tra, quản lý chúng ta tiến hành phân
khiến dự án có độ rủi ro cao đòi hỏi phải phân tích đánh giá một cách kỹ lưỡng, cẩn
thận khi lập các dự án này.
Mặc dù có những đặc điểm mang tính khó thuyết phục như trên, nhưng các
dự án đầu tư theo chiều rộng vẫn đóng những vai trò quan trọng. Đi cùng với những
dự án này là việc quy mô sản xuất được mở rộng, tăng năng suất lao động, giải
quyết công ăn việc làm cho người lao động, tăng doanh thu lợi nhuận trong tương
lai góp phần vào sự tăng trưởng chung.
Dự án đầu tư theo chiều sâu: dự án đầu tư theo chiều sâu là dự án đầu tư
được thực hiện dựa trên cơ sở cải tạo, mở rộng, nâng cấp, đồng bộ hóa, hiện đại hóa
cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, hoặc xây dựng lại, hoặc đầu tư mới một dây chuyền
công nghệ, xây dựng một nhà máy mới nhưng kỹ thuật công nghệ phải hiện đại hơn
kỹ thuật công nghệ hiện có hoặc kỹ thuật công nghệ trung bình của ngành, vùng
nhằm duy trì năng lực đã có.
Thứ nhất, đó là việc cải tạo, mở rộng, nâng cấp, đồng bộ hóa, hiện đại hóa
dây chuyền hiện có thay thế dây chuyền công nghệ cũ. Dự án này được thực hiện
khi máy móc thiết bị đã cũ làm giảm năng suất lao động. Thứ hai, đó còn là hoạt
động phát triển nguồn nhân lực và đầu tư để tổ chức lại bộ máy quản lý, phương
pháp quản lý. Các dự án đầu tư theo chiều sâu mang nặng mặt “chất”, làm sao để
hiệu quả đạt được cao hơn, do vậy mà đầu tư phát triển nguồn nhân lực cũng là điều
tất yếu.
8
Các dự án đầu tư theo chiều sâu có lượng vốn đầu tư, thời gian thực hiện và
độ rủi ro thấp hơn các dự án đầu tư theo chiều rộng. Và một đặc điểm nữa của loại
dự án này đó là tốc độ tăng vốn lớn hơn tốc độ tăng về lao động. Do tính chất công
nghệ hiện đại, đồng bộ hóa, tự động hóa, mà trong các dự án đầu tư theo chiều sâu
không yêu cầu mức tăng lao động tăng cùng với mức tăng của vốn.
2. Theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội
Theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội, dự án đầu tư có thể phân chia thành ba
loại như sau: Dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh; dự án đầu tư phát triển
Khoa học công nghệ và dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng.
sống của con người. Đấy là các dự án phòng chống thiên tai, các dự án bảo vệ đất
đai, vùng biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
3. Theo các giai đoạn hoạt động của dự án đầu tư trong quá trình tái sản xuất
xã hội
- Dự án đầu tư thương mại
- Dự án đầu tư sản xuất
4. Theo thời gian thực hiện
Theo tiêu chí thời gian thực hiện, có thể chia dự án đầu tư thành hai loại: Dự
án đầu tư ngắn hạn và dự án đầu tư dài hạn.
Dự án đầu tư ngắn hạn:
Dự án đầu tư dài hạn:
5. Theo sự phân cấp quản lý
Theo sự phân cấp quản lý của nhà nước hiện nay, các dự án đầu tư được chia
thành bốn loại: Dự án quan trọng quốc gia; dự án nhóm A; dự án nhóm B và dự án
nhóm C.
Dự án quan trọng quốc gia:dự án quan trọng quốc gia là dự án đầu tư, dự án
công trình độc lập hoặc một cụm công trình liên kết chặt chẽ với nhau thỏa mãn đầy
đủ các tiêu chí sau:
- Tổng vốn đầu tư từ ba mươi lăm nghìn tỷ đồng trở lên, trong đó vốn nhà
nước từ mười một nghìn tỷ đồng trở lên;
- Dự án, công trình có ảnh hưởng lớn đến môi trường hoặc tiềm ẩn khả năng
ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, bao gồm:
a) Nhà máy điện hạt nhân;
b) Dự án, công trình sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất
vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên
cứu, thực nghiệm khoa học từ 50 hécta (ha) trở lên; rừng phòng hộ đầu nguồn từ 50
hécta (ha) trở lên; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay, chắn sóng lấn biển, bảo vệ
môi trường từ 500 hécta (ha) trở lên; rừng sản xuất từ 1000 hécta (ha) trở lên;
- Dự án, công trình sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất
trồng lúa nước từ hai vụ trở lên với quy mô từ 500 hécta (ha) trở lên;
dụng, kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác -
có mức vốn trên 200 tỷ đồng.
Dự án nhóm B: dự án nhóm B là các dự án đầu tư thỏa mãn một trong các
điều kiện sau:
11
- Các dự án: công nghiệp điện, dầu khí, hóa chất, phân bón, chế tạo máy (bao
gồm cả mua và đóng tàu, lắp ráp ôtô), xi măng, luyện kim, khai thác, chế biến
khoáng sản; các dự án giao thông: cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt,
đường quốc lộ - có mức vốn từ 30 đến 600 tỷ đồng.
- Các dự án: Thủy lợi, giao thông ( ngoài điểm B-a), cấp thoát nước và
công trình kỹ thuật hạ tầng; kỹ thuật điện; sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin
học, hóa dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí, sản xuất vật liệu, bưu chính viễn
thông; BOT trong nước; xây dựng khu nhà ở; trường phổ thông, đường giao thông
nội thị thuộc các khu đô thị đã có quy hoạch chi tiết được duyệt - có mức vốn từ
20 đến 400 tỷ đồng.
- Các dự án: hạ tầng kỹ thuật của khu đô thị mới; các dự án: công nghiệp
nhẹ, sành sứ, thủy tinh,, in; vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, thiết bị xây
dựng; sản xuất nông. lâm, ngư nghiệp, nuôi trồng thủy sản; chế biến nông, lâm sản -
có mức vốn từ 15 đến 300 tỷ đồng.
- Các dự án: Y tế, văn hóa, giáo dục, phát thanh, truyền hình, xây dựng dân
dụng, kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác -
có mức vốn từ 7 đến 200 tỷ đồng.
Dự án nhóm C: dự án nhóm C là các dự án đầu tư thỏa mãn một trong các
điều kiện sau:
- Các dự án: công nghiệp điện, dầu khí, hóa chất, phân bón, chế tạo máy (bao
gồm cả mua và đóng tàu, lắp ráp ôtô), xi măng, luyện kim, khai thác, chế biến
khoáng sản; các dự án giao thông: cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt,
đường quốc lộ - có mức vốn dưới 30 tỷ đồng. Các trường phổ thông nằm trong quy
hoạch - không kể mức vốn.
- Các dự án: Thủy lợi, giao thông ( ngoài điểm C-a), cấp thoát nước và
nền kinh tế
- Phân tích hiệu quả xã hội: Dự án được tính theo quan điểm của những đối
tượng được hưởng lợi từ dự án và từ những đối tượng phải chịu chi phí cho dự án.
Ta nên định lượng hóa mức lợi ích được hưởng và chi phí phải chịu của các nhóm
nầy ở những chổ nào có thể làm được.
Dự án khả thi: dự án khả thi là dự án cần thực hiện những công việc sau:
- Xác định những căn cứ để xác định sự cần thiết phải đầu tư: Bao gồm các
vấn đề sau: các căn cứ pháp lý để xây dựng dự án; tính hợp lý của dự án; phân tích
các yếu tố cần thiết để xây dựng dự án
- Lựa chọn hình thức đầu tư
- Các mục tiêu và sản phẩm của dự án: Bao gồm các bước : Mục tiêu phát
triển dài hạn, mục tiêu ngắn hạn, sản phẩm dự án
- Phân tích đặc điểm khu vực của dự án: bao gồm các vấn đề sau: diện tích
sử dụng và vị trí lắp đặt gồm một số phương án về địa điểm; vận chuyển và kết cấu
13
hạ tầng; khí tượng thuỷ văn của khu vực dự án; địa hình và địa chất công trình; các
yếu tố cần thiết khác và một số thông số kỹ thuật của dự án
- Phân tích sự lựa chọn công nghệ
- Các phương án và giải pháp xây dựng bao gồm các bước sau:
Phương án bố trí mặt bằng
Các giải pháp xây dựng
Khối lượng xây dựng và chi phí xây dựng
Tổ chức thi công xây lắp
Tiến độ thi công xây lắp
- Phân tích tài chính bao gồm các bước sau :
Căn cứ phân tích tài chính
Bảng dự trù doanh thu hằng năm
Vốn lưu động
Bảng dự trù chi phí sản xuất hằng năm
Bảng dự trù lãi lỗ hằng năm
lịch,…và đang có xu hướng chuyển dịch sang một số dự án đầu tư phát triển một số
ngành công nghiệp.
-Dự án đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII – Foreign Indirect Investment) là các
dự án đầu tư mà người đầu tư vốn và người sử dụng vốn không là một chủ thể và
nguồn vốn đầu tư là của nước ngoài.
Dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA – Official
Development Assistance): đây là các dự án đầu tư có nguồn vốn đầu tư là nguồn
vốn hỗ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay với điều
kiện ưu đãi. ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang và kém phát
triển được các các cơ quan chính thức của chính phủ trung ương và điạ phương
hoặc các cơ quan thừa hành của chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức
phi chính phủ tài trợ. Vốn ODA phát sinh từ nhu cầu cần thiết của một quốc gia,
được tổ chức quốc tế hay nước bạn xem xét và cam kết tài trợ thông qua một hiệp
định quốc tế được đại diện có thẩm quyền hai bên nhận và hỗ trợ vốn ký kết. Hiệp
định ký kết hỗ trợ này được chi phối bởi công pháp quốc tế.
Dự án đầu tư bằng nguồn vốn huy động của doanh nghiệp và các nguồn vốn
khác: đây là các dự án đầu tư mà nguồn vốn huy động là vốn tự có của doanh
nghiệp, lợi nhuận giữ lại từ hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn vay từ các tổ chức
tín dụng như các ngân hàng thương mại và các nguồn vốn khác.
Dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗn hợp: đây là các dự án đầu tư có nguồn
vốn huy động từ nhiều nguồn khác nhau. Đó có thể là một dự án mà vốn đầu tư vừa
là nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA vừa là ngân sách nhà nước…
Ngoài ra, còn có thể phân loại dự án đầu tư theo các tiêu chí như vùng, lãnh
thổ,…
15
1.1.2. Dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA
1.1.2.1. Khái niệm dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA
Dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA là một tập hợp các đề xuất có liên quan
đến việc bỏ vốn ra để đầu tư của các nhà tài trợ nguồn vốn ODA: các nguồn vốn
này được sử dụng để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo một đối tượng nào đó nhằm
sang Việt Nam hỗ trợ dự án và trực tiếp cung cấp những thiết bị kỹ thuật, dây
chuyền công nghệ hiện đại cho các chương trình, dự án. Thông qua những hoạt
động này các nhà tài trợ sẽ góp phần đáng kể vào việc nâng cao trình độ
khoa học, công nghệ và phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam và đây mới chính
là lợi ích căn bản, lâu dài đối với chúng ta.
Hơn nữa, các dự án đầu tư ODA mà các nước, các tổ chức dành cho Việt
Nam thưởng ưu tiên vào phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật, phát triển nguồn
nhân lực tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cân đối giữa các ngành, các vùng
khác nhau trong cả nước và điều đó góp phần vào việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế ở
nước ta.
Các dự án đầu tư ODA góp phần tăng khả năng thu hút nguồn vốn FDI và
tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển. Các nhà đầu tư nước ngoài khi quyết
định bỏ vốn đầu tư vào một nước, trước hết họ quan tâm tới khả năng sinh lợi
của vốn đầu tư tại nước đó. Do đó, một cơ sở hạ tầng yếu kém như hệ thống
giao thông chưa hoàn chỉnh, phương tiện thông tin liên lạc thiếu thốn và lạc hậu, hệ
thống cung cấp năng lượng không đủ cho nhu cầu sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư
vì những phí tổn mà họ phải trả cho việc sử dụng các tiện nghi hạ tầng sẽ
lên cao. Một hệ thống ngân hàng lạc hậu cũng là lý do làm cho các nhà
đầu tư e ngại, vì những chậm trễ, ách tắc trong hệ thống thanh toán và sự
thiếu thốn các dịch vụ ngân hàng hỗ trợ cho đầu tư sẽ làm phí tổn đầu tư
gia tăng dẫn tới hiệu quả đầu tư giảm sút. Như vậy, đầu tư của chính phủ vào việc
nâng cấp, cải thiện và xây mới các cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân
hàng đều hết sức cần thiết nhằm làm cho môi trường đầu tư trở nên hấp
dẫn hơn. Nhưng vốn đầu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng là rất lớn và nếu
chỉ dựa vào vốn đầu tư trong nước thì không thể tiến hành được do đó các dự án
đầu tư vốn ODA sẽ là nguồn vốn bổ sung hết sức quan trọng. Một khi môi trường
đầu tư được cải thiện sẽ làm tăng sức hút đối với dòng vốn FDI. Mặt
khác,việc sử dụng vốn ODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện cho
các nhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư vào các công trình sản xuất kinh
doanh có khảnăng mang lại lợi nhuận
dung đặc thù của nguồn vốn ODA như sau:
Thứ nhất, vị trí vai trò của dự án đầu tư trong quy hoạch phát triển ngành, địa
phương
Thứ hai, lý do sử dụng vốn ODA, thế mạnh của Nhà tài trợ về công nghệ,
kinh nghiệm quản lý, tư vấn chính sách thuộc lĩnh vực được quản lý
Thứ ba, đánh giá các điều kiện ràng buộc theo quy định của nhà tài trợ đối
với các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA
Thứ tư, bối cảnh và sự cần thiết phải đầu tư cũng như nhu cầu sử dụng vốn ODA
Thứ năm, dự kiến mục tiêu, quy mô và hình thức đầu tư: các dự án thành
18
phần hoặc tiểu dự án
Trên cơ sở tuân theo quy định hiện hành về quản lý đầu tư, cũng như những
nội dung đặc thù của nguồn vốn ODA từ đó phân tích lựa chọn sơ bộ về giải pháp
kỹ thuật, ước yính tổng số vốn đầu tư cho dự án, phương án huy động các nguồn
vốn, vốn ODA cũng như nguồn vốn đối ứng của Trung ương hay địa phương. Bước
tiếp theo của nghiên cứu tiền khả thi là tiến hành phân tích sơ bộ hiệu quả tài chính,
kinh tế, đề xuất cơ chế sử dụng vốn ODA. Sau bước này là đánh giá sơ bộ, lựa chọn
giải pháp giảm thiểu tác động môi trường, xã hội, tiến độ thực hiện và các biện pháp
tổ chức thực hiện,…
+) Nghiên cứu khả thi
Cũng giống như báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi
cũng phải bao gồm các bước như trên, nhưng ở mức độ phân tích, đánh giá sâu hơn,
chi tiết hơn và có bổ sung những nội dung sau trên cơ sở tính đặc thù của nguồn vốn
ODA, đó là:
Thứ nhất, phân tích ảnh hưởng môi trường của dự án đầu tư
Thứ hai, phân tích hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế xã hội của dự án đầu
tư có tính đến các ràng buộc theo quy định của nhà tài trợ
Thứ ba, tính bền vững của dự án đầu tư sau khi hoàn thành (khả năng quản lý
vận hành)
+) Thẩm định và phê duyệt
Tính hợp lý của việc sử dụng nguồn vốn ODA cho dự án đầu tư
Những vấn đề còn bất cập, tồn tại, hướng xử lý, biện pháp xử lý, tổ chức có
trách nhiệm xử lý và thời hạn xử lý.
Những cam kết về thay đổi cơ chế, chính sách, sự khác biệt về thủ tục thực
hiện chương trình, dự án ODA; yêu cầu về điều kiện tiên quyết, điều kiện của Nhà
tài trợ đối với khoản vốn ODA
Đề xuất cơ quan chủ trì đàm phán điều ước quốc tế cụ thể về ODA
Triển khai thực hiện dự án ODA
Giai đoạn này bao gồm các bước: lập kế hoạch thực hiện chi tiết, đấu thầu lựa
chọn nhà thầu cung ứng hàng hóa và dịch vụ, quản lý việc thực hiện hợp đồng,
kiếm soát chất lượng công việc
+) Công tác quy hoạch, lập kế hoạch tài chính cho dự án
- Nguyên tắc của lập kế hoạch tài chính: việc lập kế hoạch tài chính ơhải đảm
bảo tuân thủ các quy định hiện hành của luật pháp Việt Nam, các cam kết giữa
Chính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ nước ngoài trong việc thực hiện các dự án
đầu tư vốn ODA. Các chủ dự án có trách nhiệm sử dụng nguồn vốn này và vốn đối
ứng đúng mục đích và hiệu quả. Vốn đưa vào kế hoạch được phân bổ theo nội dung
công việc và theo Mục lục Ngân sách nhà nước, phù hợp với tiến độ và khả năng
thực tế triển khai của dự án ODA. Việc lập kế hoạch vốn phải đầy đủ, căn cứ vào
20
nhu cầu sát thực của dự án cho năm tới. Cơ quan chủ quản ưu tiên bố trí đủ vốn đối
ứng trong dự toán ngân sách hàng năm nhằm thực hiện các cam kết tại các điều ước
quốc tế ODA đã ký và phù hợp với khả năng giải ngân thực tế hàng năm của dự án
ODA
- Kế hoạch tài chính của dự án ODA bao gồm:
Vốn ODA được phân chia chi tiết thưeo từng nguồn vốn vay nợ, vốn viện trợ
không hoàn lại được chia tách theo từng quốc gia viện trợ hay tổ chức viện trợ.
Vốn đối ứng trong nước cần được chi tiết theo từng nguồn vốn được cấp từ
Ngân sách Trung ương, vốn được cấp từ Ngân sách địa phương, vốn tín dụng trong
nước, vốn tự có của chủ đầu tư, vốn đóng góp của người thụ hưởng dự án và các
gói thầu
Quá trình phê duyệt hồ sơ mời thầu
Phê duyệt giá gói thầu
Mở thầu, đánh giá kết quả lựa chọn nhà thầu
Ký kết hợp đồng trao thầu
-Triển khai thực hiện dự án đầu tư, song song với quá trình này là sự giám
sát của các đơn vị tư vấn, Ban quản lý dự án và các cơ quan liên quan.
- Nghiệm thu, quyết toán dự án: đây là trách nhiệm của Ban quản lý dự án,
của Chủ đầu tư, Bộ Tài chính, Kho bạc nhà nước
Đánh giá, kết thúc dự án đầu tư vốn ODA
Khi kết thúc thời gian hoạt động dự án, cần phải tiến hành đánh giá dự án
trên các cơ sở chính sau:
Dự án có đạt được mục tiêu trực tiếp đề ra hay không?
Dự án có góp phần vào tăng trưởng và phát triển nền kinh tế quốc dân hay
không?
Hiệu quả của việc đạt được các mục tiêu đó ra sao?
Những bài học cần rút ra
Sau khi kết thúc, giám đốc Ban quản lý dự án phải làm báo cáo về tình hình thực
hiện và đánh giá dựa trên các cơ sở trên với sự xác nhận của Cơ quan chủ quản và
gửi về Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ tài chính, Ngân hàng nhà nước Việt Nam và Văn
phòng Chính phủ.
1.1.2.4. Đặc điểm của dự án đầu tư bằng vốn ODA
Mỗi một dự án đầu tư bằng vốn ODA có những đặc thù riêng có của nó tùy
thuộc vào mục đích của nước nhận viện trợ cũng như nước viện trợ, nhưng nhìn
chung các dự án này có một số đặc điểm chung như sau:
- Nguồn vốn đầu tư: Toàn bộ hoặc một phần nguồn vốn thực hiện dự án
ODA là do các tổ chức/chính phủ nước ngoài, các tổ chức song phương tài trợ. Cơ
chế tài chính trong nước đối với việc sử dụng ODA là cấp phát, cho vay (toàn
bộ/một phần) từ ngân sách Nhà nước. Các dự án ODA thường có vốn đối ứng là
khoản đóng góp của phía Việt Nam bằng hiện vật và giá trị để chuẩn bị và thực hiện
nguồn lực và kinh phí nhất định. Các nhà quản lý cần phải liên tục cân bằng về nhu
cầu, tài chính, nguồn lực và lịch trình để hoàn thành dự án, đảm bảo yêu cầu của
nhà đầu tư và nhà tài trợ.
1.1.3. Thẩm định dự án đầu tư bằng vốn ODA
1.1.3.1. Sự cần thiết của việc thẩm định dự án đầu tư bằng vốn ODA
Thẩm định dự án đầu tư là việc rà soát, kiểm tra lại một cách khoa học,
23