LỜI MỞ ĐẦU
Chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế nhiều
thành phần, đặc biệt là doanh nghiệp ngoài quốc doanh là một chủ trương kế hoạch
lâu dài của Đảng và Nhà nước nhằm phát huy mọi nguồn lực để phát triển lực lượng
sản xuất đồng thời hoàn thiện cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng Xã hội chủ nghĩa. Nhờ có chính sách đúng đắn này mà các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc trong
những năm gần đây đã ngày càng có vị trí quan trọng cho sự phát triển nền kinh tế
Việt Nam.
Đứng trước khủng hoản tài chính toàn cầu và suy thoái kinh tế đang lan rộng
đã tác động xấu đến tất cả các nước, trong đó có Việt Nam. Biểu hiện rõ là sự bất
ổn kinh tế Việt Nam thời gian qua như : lạm phát cao, thâm hụt thương mại, thị
trường tài chính- tiền tệ chao đảo… khiến nhiều doanh nghiệp đang hoạt động trong
môi trường đầy biến động, không dự báo được, không thể sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực. Nhiều doanh nghiệp lua lỗ hoặc lợi nhuận thấp, phải thu hẹp sản xuất
kinh doanh.Một số ít bị đóng cữa, phá sản hoặc tạm ngừng kinh doanh để chờ thời.
Để củng cố lòng tin tăng cường khả năng “chống đỡ giồng bão” của hệ
thống các tổ chức tài chính mà trụ cột là hệ thống ngân hàng.các Ngân hàng thương
mại thực hiện chủ trương chính sách của Ngân hàng Nhà nước về nguồn vốn để các
doanh nghiệp có thể trụ vững và vượt qua cuộc suy thoái kinh tế. Là một ngân hàng
thương mại, ngân hàng Công Thương chi nhánh Liên Chiểu cũng đã góp phần nhỏ
bé vào công việc này.
Qua quá trình thực tập tại ngân hàng Công Thương chi nhánh Liên Chiểu
em đã chọn đề tài: “Phân tích tình hình cho vay đối với doanh nghiệp ngoài
quốc doanh tại ngân hàng Công Thương chi nhánh Liên Chiểu”. Chuyên đề
ngoài phần mở đầu và phần kết luận, kết cấu gồm 3 phần:
Phần I: Tổng quan về ngân hàng thương mại và hoạt động cho vay đối với
doanh nghiệp ngoài quốc doanh của ngân hàng thương mại.
Phần II: Phân tích tình hình cho vay đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
qua hai năm 2008-2009 tại ngân hàng công thương chi nhánh Liên Chiểu.
Phần III: Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với các doanh
NHTM thực hiện chức năng “cầu nối” giữa những người có tiền muốn
cho vay hoặc muốn gửi ở NH với người thiếu vốn cần vay.
b. Chức năng trung gian thanh toán:
NHTM cung cấp các phương tiện thanh toán cho nền kinh tế tiết kiệm chi
phí lưu thông và nâng cao khả năng tín dụng.
Việc mở tài khoản, cung cấp và quản lý các phương tiện thanh toán làm
cho NHTM trở thành một trung gian tài chính của nền kinh tế.
NHTM thực hiện toàn bộ các nghiệp vụ ngân quỹ của khách hàng có tác
dụng giúp cho khách hàng, nền kinh tế chu chuyển vốn nhanh an toàn, tiết
kiệm.Từ tiết kiệm chi phí lưu thông, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền
kinh tế.
NHTM được phép tạo ra bút tệ để mở rộng quy mô tín dụng đối với kinh
tế, giảm bớt lượng tiền mặt trong lưu thông và đáp ứng những biến động bất
thường của hoạt động kinh tế .
c. Chức năng tạo tiền:
Cá nhân DN
NHTM
Cá nhân DN
Nhận TG
Uỷ thác ĐT
Cho vay
Đầu tư
NHTM ngoài vài trò thu hút tiền gửi và cho vay trên số tiền huy động
NHTM còn có chức năng tạo tiền khi thực hiện nghiệp vụ tín dụng. nghĩa là vốn
phát qua tín dụng không nhất thiết phải dựa trên vàng hay tiền giấy gửi vào NH,
tiền vay không trên cơ sở tiền gửi mà thanh toán tín dụng do đó NHTM tạo ra
tiền để cho vay gọi là bút tệ hay bút thanh toán hoặc tiền ghi sổ.
Nhờ đó khối lượng tiền do NHTM tạo ra những điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển của quá trình sản xuất kinh doanh đáp ứng nhu cầu sử dụng tiền
của xã hội, ngoài ra việc chuyển khoản thay thế cho tiền mặt đã tiết kiệm được
+ Tiền gửi có kì hạn: Là loại tiền gửi có sự thỏa thuận về thời hạn rút
tiền giữa khách hàng và NH trước khi gửi tiền vào.người rút tiền chỉ có thể rút
tiền ra theo thời hạn đã ký kết.đây là nguồn vốn đã mang tính ổn định có tỷ lệ
cao,NH chủ động sử dụng làm nguồn vốn kinh doanh.mục đích của người gửi
tiền là an toàn và sinh lời.
Tiền gửi dân cư là một bộ phận thu nhập bằng tiền của dân cư gửi tại
NH.
Tiền gửi dân cư bao gồm:
+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là loại tiền gửi không sử dụng cho
việc giao dịch, thanh toán, có chuyển giao quyền sở từ khách hàng qua NH
nhưng khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào cũng được.
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là những khoản tiền tiết kiệm có kỳ
hạn được dân cư gửi vào nhằm nục đích an toàn và lợi tức.
+ Tài khoản cá nhân: Là do các cá nhân mở tài khoản tiền gửi tại NH
để thực hiện các giao dịch và thanh toán qua NH.
Vốn huy động thông qua các chứng từ có giá, trong hình thức này NH
chủ động phát hành phiếu nợ để huy động vốn nhằm đáp ứng các nhu cầu bức
thiết gồm: các loại chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu NH,trái phiếu…
Vốn đi vay:
Vốn vay trong nước:
+ Vốn vay NHNN: NHNN sẽ tiếp vốn cho NHTM thông qua chiết khấu,
tái chiết khấu..NHNN là chỗ dựa và là người cho vay cuối cùng đối với NHTM.
+ Vốn đi vay từ NH mẹ của các NH, các NHTM khác thông qua thị
trường liên ngân hàng.
Vốn vay nước ngoài: Các NHTM cũng có thể tìm kiếm nguồn vốn
hoạt động từ việc phát hành phiếu nợ để vay tiền nước ngoài.
b. Nghiệp vụ cho vay:
Hoạt động cho vay của NHTM ngày càng được mở rộng và đa dạng về
loại hình, gồm các loại hình như sau:
Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn dưới một năm được
nghiệp tư nhân, công ty cổ phần…
b. Vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh đối với nền kinh tế:
DNNQD đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện phát triển kinh tế
xã hội, thể hiện ở một số điểm sau:
- Thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế gia tăng thu nhập quốc gia phát huy
cao tiềm năng của nhân dân tham gia vào công cuộc xây dựng và phát triển đất
nước.
- Giải quyết công ăn việc làm giảm bớt thất nghiệp cho người lao động,
hạn chế di dân vào thị.
- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý theo
hướng cơ chế thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh trong kinh tế.
- Hình thành và phát triển các doanh nghiệp tư nhân, góp phần xây dựng
đội ngũ các doanh nghiệp Việt Nam có trình độ. Đồng thời cơ chế mềm dẻo
trong doanh nghiệp cũng tạo ra điều kiện cho sự phát triển năng lực của mọi
người từng bước thực hiện công bằng xã hội.
c. Sự cần thiết của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp ngoài quốc
doanh:
Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất và
đầu tư trong nền kinh tế và được liên tục phát triển.
Hiện tượng thừa và thiếu vốn tạm thời là việc thường xuyên xảy ra đối
với các DNNQD. Nhờ chức năng huy động và cung ứng svốn tín dụng đã góp
phần điều hòa trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện trong quá trình sản xuất
kinh doanh được liên tục đây là nhân tố kích thích quá trình đầu tư, thúc đẩy
việc ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật để sản xuất của doanh nghiệp ngiệp
ngoài quốc doanh.
Tín dụng NH góp phần tác động đến các DNNQN sử dụng nguồn vốn
vay NH có hiệu quả (tăng cường chế độ hoạch toán kinh tế ) giảm chi phí sản
xuất, tăng vòng quay của vốn để nâng cao hiệu quả lợi nhuận.
2. Các quy định về cho vay đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh:
2.1. Nguyên tắc vay vốn
Thời hạn cho vay dài hạn từ 60 tháng trở lên, nhưng không quá thời hạn hoạt
động còn lại của DN và không quá 15 năm đối với cho vay các dự án phục vụ
đời sống.
2.4. Phương thức cho vay
- Phương thức cho vay từng lần: áp dụng đối với DN không vay vốn thường
xuyên có nhu cầu và đề nghị vay vốn từng lần. Mỗi lần vay vốn, DN và NH nơi
cho vay làm thủ tục vay vốn theo qui định đã ký hợp đồng tín dụng.
- Phương thức cho vay hạn mức tín dụng được áp dụng với DN vay ngắn hạn có
nhu cầu vay vốn thường xuyên, kinh doanh ổn định, được xếp loại DN có tín
dụng với NH.
2.5. Các quy định khác
Hồ sơ do DN lập và cung cấp:
- Hồ sơ pháp lý: DN gửi đến NH khi thiết lập quan hệ tín dụng hoặc vay vốn
lần đầu, gồm các giấy tờ sau:
+ Quyết định thành lập DN.
+ Điều lệ DN (trừ DN tư nhân ).
+ Quyết định bổ nhiệm giám đốc, kế toán trưởng.
+ Đăng ký kinh doanh.
+ Giấy phép hành nghề.
+ Giấy đăng ký mở tài khoản (đăng ký mẫu dấu ,chữ ký của chủ tài khoản hoặc
người được ủy quyền, đăng ký chữ ký của cán bộ giao dịch với NH)
- Hồ sơ kinh tế:
+ Kế hoạch sản xuất trong kỳ.
+ Báo cáo tài chính kỳ trước.
+ Báo cáo thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh kỳ trước.
- Hồ sơ vay vốn:
+ Giấy đề nghị vay vốn.
+ Bản kê khai một số tình hình kinh doanh-tài chính đến ngày xin vay.
+ Dự án, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ.
+ Các chứng từ có liên quan, giấy báo giá, hợp đồng các chứng từ thanh toán.
về tổ chức NHNN Việt Nam và hệ thống NH Việt Nam sang NH cấp hai.
Đến ngày 01/11/1988, Chi nhánh NH Đà nẵng chuyển sang NHTM và có
tên mới là NHCT –chi nhánh Liên Chiểu. NH này là một đại diện pháp nhân có
con dấu riêng được hoạt động theo quy chế của NHCT Việt Nam và có chính
sách tín dụng của NH thành phố Đà Nẵng.
Đến cuối năm 2006, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị
trường, hòa cùng xu thế hội nhập NHCT chi nhánh Liên Chiểu đã từng bước
nâng cao vị thế của mình trong hệ thống NHTM. Trên địa bàn thành phố thì quy
mô và chất lượng hoạt động của chi nhánh đã có từng bước tiến rõ rệt. Đánh dấu
bởi sự kiện từ ngày 10/01/2007 từ chi nhánh cấp hai thuộc NHCT Đà nẵng
chuyển thành chi nhánh phụ thuộc NHCT Việt Nam theo quyết định số 318/QĐ-
NHCT ngày 26/12/2006 của hội đồng quản trị NHCT Việt Nam về việc chuyển
chi nhánh cấp hai Liên Chiểu thành chi nhánh phụ thuộc NHCT Việt Nam.
Hiện nay NHCT chi nhánh Liên Chiểu đóng trụ sở tại 381 Nguyễn
Lương Bằng –quận Liên Chiểu –Thành phố Đà Nẵng.
2. Chức năng và nhiệm vụ của ngân hàng Công Thương-chi nhánh Liên
Chiểu:
NHCT –chi nhánh Liên Chiểu là một tổ chức kinh doanh tiền tệ hoạt
động thường xuyên và chủ yếu nhận tiện gửi của khách hàng và trách nhiệm
hoàn trả và được sử dụng số tiền đó để cho vay, phải thực hiện nghiệp vụ chiết
khấu và kèm phương tiện thanh toán cho các tổ chức kinh tế cá nhân trong địa
bàn khu công nghiệp.
NHCT-chi nhánh Liên Chiểu đã huy động vốn với nhiều hình thức đa
dạng, phong phú với phương châm “đi vay để cho vay”, NHCT-chi nhánh Liên
Chiểu đã dung nguồn vốn tự có của mình để cho các tổ chức kinh tế vay ngắn
hạn bổ sung vốn lưu động phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh ngoài ra còn
cho vay trung, dài hạn với các tổ chức kinh tế nhằm mục đích xây dựng, cải tạo
mở rộng, khôi phục thay thế tài sản cố định, mua sắm trang thiết bị, công nghiệp
hiện đại, cải tiến kỹ thuật phương hướng, mục tiêu chính sách và hướng phát
triển kinh tế Nhà nước thực hiện đúng pháp luât của Nhà nước.
Phòng giao dịch Hòa
Khánh 910 Tôn Đức
Thắng, Đà Nẵng
Phòng giao dịch Hòa Khê 263
Điện Biên Phủ
3.2 Chức năng và nhiệm vụ của ban giám đốc và các phòng ban:
- Đứng đầu bộ máy quản lý là ban giám đốc có toàn quyền quyết định trong hoạt
động kinh doanh tổ chức theo nhiệm vụ của mình.
- Phòng khách hàng có nhiệm vụ chuyên sâu về nghiệp vụ kinh doanh, phân tích
tình hình kinh tế tài chính của doanh nghiệp theo ngành.
- Phòng kế toán có nhiệm vụ chuyên sâu các hoạt động hoạch toán kinh doanh
và thu chi tiền mặt.
- Phòng ngân quỹ thực hiện nhiệm vụ thu và phát ngân, quản lý an toàn kho quỹ,
vận chuyển tiền trên đường đi của chi nhánh.
- Phòng quản lý rủi ro thực hiện nhiệm vụ tập hợp, phân loại và xử lý các rủi ro
trong hoạt động kinh doanh của NH.
- Phòng tổ chức hành chính có nhiệm vụ đào tạo cán bộ, các bộ phận tổ chức, bộ
phận tham mưu cho giám đốc về quy mô hoạt động sắp xếp và bố trí cán bộ đào
tạo lao động, tiền lương.
- Điểm cho vay và huy động vốn thực hiện các nghiệp vụ cho các cá nhân và tổ
chức kinh tế vay, ngoài ra còn thực hiện huy động vốn cho nguồn vốn của chi
nhánh.
- Quỹ tiết kiệm là nguồn quỹ của chi nhánh nhằm phục vụ cho công việc bù đắp
nguồn vốn kinh doanh của chi nhánh.
Nhìn chung, cơ cấu tổ chức nhân sự NHCT chi nhánh Liên Chiểu tương đối gọn,
phân bổ đều các phòng ban. Đa số các bộ có trình độ đại học, cao học được tập
trung theo yêu cầu của nghiệp vụ. Cán bộ có năng lực trung ở những bộ phận
chủ chốt, cần thiết tạo điều kiệm cho NH hoạt động có hiệu quả cũng như phát
huy được năng lực của mình.
4. Tình hình hoạt động của ngân hàng công thương chi nhánh Liên