MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
* Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII đã xác định: "Phải khuyến khích tự
học "phải" áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho
những sinh viên năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề".
* Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII tiếp tục khẳng định phải:
Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối
truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người
học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện
hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự
học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên Cao đẳng, Đại
học.
* Từ định hướng trên đã được pháp chế hóa trong Luật Giáo dục tại
Điều 24.2:
Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm
của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình
cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
* Đứng trước thực trạng của xã hội loài người ngày nay là xã hội tri
thức và thông tin. Sự đổi mới với tốc độ rất nhanh trong các lĩnh vực khoa
học và công nghệ tác động đến thông tin ở ba khía cạnh:
- Thông tin có giá trị không dài;
- Khối lượng thông tin tăng nhanh;
1
- Nội dung thông tin ngày càng chuyên môn hóa và phức tạp (S.T.
chong. 1998).
Như vậy, cách dạy chỉ hướng tới cung cấp kiến thức (thông tin) sẽ
luôn bị lạc hậu với thời đại. Mà xã hội tri thức và thông tin đòi hỏi một nền
giáo dục suốt đời cho mọi người.
phù hợp sẽ vừa hình thành được năng lực tự học, vừa nâng cao được chất
lượng học phần Động vật có xương sống.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu năng lực tự học cần có và biện pháp hình
thành năng lực tự học ở sinh viên Cao đẳng Sư phạm trong giảng dạy học
phần Động vật có xương sống.
4.2. Khách thể nghiên cứu: Sinh viên năm thứ nhất lớp Hóa - Sinh
K24 trường Cao đẳng Sư phạm.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xác định cơ sở lý thuyết của việc hình thành năng lực tự học ở
sinh viên Cao đẳng Sư phạm.
5.2. Xác định thực trạng năng lực tự học ở sinh viên Cao đẳng Sư phạm.
5.3. Xác định năng lực tự học cần có ở sinh viên Cao đẳng Sư phạm.
5.4. Xác định biện pháp hình thành ở sinh viên năng lực tự học trong
khi giảng dạy học phần Động vật học có xương sống.
5.5. Thực nghiệm sư phạm để xác định hiệu quả của các biện pháp
trong việc hình thành năng lực tự học và nâng cao kết quả học tập qua học
phần Động vật học có xương sống.
6. Phương pháp nghiên cứu
3
6.1. Nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu về đường lối giáo dục, phương hướng phát
triển giáo dục, các nghị quyết chỉ thị của bộ giáo dục và đào tạo về phương
pháp đổi mới: Nội dung, phương pháp dạy học ở các cấp học, các ngành học.
- Nghiên cứu các tài liệu về:
+ Học và cách dạy học;
+ Năng lực tự học, đặc trưng phương pháp học tập học phần: động
vật học có xương sống.
- Tài liệu lý luận về dạy học sinh học.
6.2. Phương pháp điều tra
theo hướng đổi mới ở các trường Cao đẳng Sư phạm.
8.3. Đề xuất biện pháp hình thành ở sinh viên năng lực tự học qua
giảng dạy học phần Động vật học có xương sống. Từ đó làm tài liệu để cải
tiến dạy học môn học.
8.4. Những kết quả thực nghiệm là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu
tiếp của hướng đề tài này. Đồng thời là những gợi ý để áp dụng cải tiến
phương pháp trong dạy học bộ môn ở Cao đẳng Sư phạm
9. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở của việc hình thành năng lực tự học ở sinh viên.
Chương 2: Các biện pháp hình thành năng lực tự học ở sinh viên
trong dạy học, học phần "Động vật có xương sống".
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
5
Chương 1
CƠ SỞ CỦA VIỆC HÌNH THÀNH
NĂNG LỰC TỰ HỌC Ở SINH VIÊN
1.1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.1.Các quan niệm về việc hình thành năng lực tự học ở sinh viên
1.1.1.1. Trên thế giới
Hình thức dạy học theo kiểu giáo viên là người hướng dẫn, tổ chức,
giúp cho người học tự học, tích cực hoạt động để tự tìm ra tri thức đã được
nghiên cứu rộng khắp thế giới từ lâu như:
* Ở Mỹ từ những năm 1920 Helen Pankhutôts đã nghiên cứu, đề xuất
và triển khai kế hoạch Dalton tại trường Dalton ở tiểu bang Massa Chuse là:
Giáo viên có vai trò vạch ra những công việc cần làm và giao nhiệm vụ cho
người học, còn người học tự quyết định kế hoạch thực hiện. Toàn bộ hoạt
động học tập của người học do họ tự thực hiện từ các phòng thí nghiệm, thực
hành bộ môn và được kiểm soát bằng các phiếu học tập.
đối với mọi sinh vật, song con người khác với sinh vật ở khả năng tư duy,
sáng tạo và khả năng này chỉ có thể đạt tới và phát huy trên nền kiến thức cơ
bản được tạo ra thông qua quá trình học và tự học. Số thời gian dành cho việc
học với sự giúp đỡ của người thầy là rất ít chỉ chiếm khoảng 1/4 của một đời
người. Thời gian còn lại chủ yếu là dành cho việc tự học, cho lao động sáng
tạo. Ngay cả trong giai đoạn đi học việc tự học luôn luôn có vai trò đặc biệt
quan trọng. Những người biết tự học, năng động, sáng tạo trong quá trình đi
học là những người có triển vọng và tiến xa trong cuộc đời này.
7
* Nguyễn Kỳ (Trung tâm nghiên cứu và phát triển tự học) cho rằng: Tự
học - tự đào tạo là con đường phát triển tối ưu. Con đường phát triển tối ưu là
con đường ba nhất:
- Chất lượng cao nhất;
- Quy mô lớn nhất;
- Hệ thống hợp lý nhất.
Trong cuốn Tự học - tự đào tạo - tư tưởng chiến lược của phát triển
Giáo dục Việt Nam tác giả Nguyễn Kỳ cho rằng: Chiếc gậy thần để làm cho
giáo dục Việt Nam tăng tốc từ "Ba thấp" đến "Ba nhất" là truyền thống tự học
sáng tạo của dân tộc, là khoa học tự học.
* GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: Tự học là tự mình động não,
sử dụng các năng lực trí tuệ, cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ,
tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan, để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu
biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.
1.1.2. Về tài liệu hướng dẫn tự học
1.1.2.1. Trên thế giới
* GS.TSKH Hans Joachin Luabs [17] đã đưa ra những yêu cầu về nội
dung, kỹ thuật thiết kế, chỉ dẫn cho các tác giả viết tài liệu dùng cho sinh viên.
Theo tác giả, tài liệu chính dùng cho sinh viên là giáo trình, ngoài ra còn có
các tài liệu khác trợ giúp cho việc học như sách bài tập, tập lưu trữ tư liệu,
sách luyện tập, sách tóm tắt tài liệu tham khảo… Đồng thời tác giả đã chỉ rõ
* Trong lĩnh vực dạy học bộ môn sinh học, nhiều công trình nghiên
cứu cũng đề cập đến việc hình thành năng lực tự học cho sinh viên thông qua
các tài liệu hướng dẫn học và quy trình sử dụng chúng trong dạy học. Trần Bá
9
Hoành [21] đã xây dựng các kỹ thuật thực hiện các phương pháp tích cực,
trong đó các kỹ thuật xây dựng và sử dụng phiếu học tập.
* GS.TS Đinh Quang Báo đã nêu phương pháp dạy sinh viên đọc sách -
Phương pháp dạy tự học chủ yếu.
* PGS.TS Nguyễn Đức Thành cũng đã nghiên cứu về tài liệu hướng
dẫn tự học: Mô hình hướng dẫn học và học có hướng dẫn trong dạy học ở Đại
học nhằm rèn luyện năng lực tự học cho sinh viên khoa sinh Đại học sư phạm
trong dạy học môn "Phương pháp dạy học sinh học" nhằm nâng cao kết quả
đào tạo.
1.1.3. Về hướng dẫn tự học theo hướng hình thành năng lực tự
học ở sinh viên
Để quá trình hướng dẫn tự học được hình thành theo hướng "Hình
thành năng lực tự học ở sinh viên" trong hoạt động dạy học đó ta nên hiểu: Dạy
chính là sự tổ chức và điều khiển tối ưu hóa quá trình chiếm lĩnh tri thức, hình
thành năng lực tự học. Hoạt động dạy có hai chức năng luôn xoắn kết chặt chẽ
với nhau là: "Cung cấp thông tin dạy học và điều khiển hoạt động học". Mối
tương quan giữa hai chức năng này thay đổi qua lịch sử phát triển của các
phương pháp dạy học. Ta xem xét hai quan điểm dưới đây:
Khái niệm Quan điểm truyền thống
Quan điểm dạy học theo
phương pháp tích cực
Khái niệm
dạy học
cơ bản
Đào tạo trẻ em thành người lớn
thông qua những người lớn tuổi
động. Mà tăng cường tổ chức, điều khiển để sinh viên tự lực tìm tòi, nghiên cứu
nhằm phát huy tính độc lập trong quá trình nhận thức, phát triển năng lực của
người học. Có rất nhiều tác giả trên thế giới và trong nước nghiên cứu, đề xuất
các quy trình hướng dẫn sinh viên tự học như quy trình 8 bước học định hướng
giải quyết vấn đề, quy trình 5 bước học theo công đoạn. Vậy trong khuôn khổ
của đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu quy trình hướng dẫn sinh viên tự
học trên cơ sở tài liệu hướng dẫn học.
11
Dạy
Điều khiển
Truyền thụ
Học
Lĩnh hội
Tính độc lập
Hướng dẫn tự học chính là sự hỗ trợ của giáo viên trong việc định
hướng, tổ chức và chỉ đạo nhằm giúp cho người học tối ưu hóa quá trình tự
lực chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo thông qua đó để hình
thành và phát triển nhân cách của họ [33].
Theo Nguyễn Kỳ, quy trình dạy tự học có 3 thời (sự điều khiển của thầy
theo 3 giai đoạn tương ứng với 3 giai đoạn học tập của trò) theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2: Chu trình dạy - tự học
Trong sơ đồ trên: Hình tròn bên trong tương ứng với nội lực - năng
lực tự học của trò theo 3 thời: Tự nghiên cứu → tự thể hiện → tự kiểm tra, tự
điều chỉnh.
Hình tròn ở giữa tượng trưng cho ngoại lực - tác động dạy của thầy,
cùng với 3 thời tương ứng của quá trình dạy:
Hướng dẫn - tổ chức - trọng tài - cố vấn, kết luận, kiểm tra.
12
Hướng
dẫn
- Tự nghiên cứu theo hướng dẫn
- Tự thể hiện bằng bài làm
- Tự thể hiện trước nhóm, lớp, giáo viên.
13
- Tự tổng kết, rút kinh nghiệm
+ Quy trình hướng dẫn một buổi học
- Kiểm tra sự chuẩn bị của người học
- Thảo luận
- Tổng kết
- Hướng dẫn chủ đề mới.
* Trong luận án tiến sĩ - khoa giáo dục sinh học, tác giả Hoàng Hữu
Niềm đã đưa ra quy trình hướng dẫn tự học như sau [32]:
* Như vậy, có rất nhiều quy trình hướng dẫn học khác nhau, nhưng tất
cả các quy trình đó đều có các đặc trưng là:
14
Kết quả tự học của học viên
Tổ chức, chỉ đạo v trà ọng t ià Tự thể hiện kết quả tự học,
tự đánh giá
Tự học ở nh theo PTHà
Hướng dẫn cách tự học
theo PTH tổ chức
Có thể kể đến các phương pháp được sử dụng như: Phương pháp tổ
chức SV thảo luận theo nhóm, theo lớp, phương pháp dạy học theo tình huống
(các tình huống được xây dựng trong tài liệu, phương pháp dạy học giải quyết
vấn đề...).
+ Động cơ học tập của sinh viên CĐSP là trở thành thầy giáo dạy ở
THCS. Để sinh viên tự học tốt thì động cơ cần được cụ thể hóa thành những
15
nhiệm vụ, mục tiêu, kiến thức, kỹ năng rõ ràng. Đây là nhiệm vụ của những
người hướng dẫn học hoặc tài liệu HDTH.
- Cơ sở triết học: Theo quan điểm triết học kết quả của hành động bị
chi phối bởi hai yếu tố đó là: nội lực và ngoại lực.
Sơ đồ 1.3: Sự cộng hưởng nội và ngoại lực
+ Theo quan điểm phát triển của sự vật, ngoại lực dù có quan trọng đến
đâu, lợi hại đến mấy thì cũng chỉ là nhân tố hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điều kiện.
Còn nội lực mới là nhân tố quyết định phát triển bản thân sự vật. Sự
phát triển đó đạt được trình độ cao nhất khi nội lực và ngoại lực cộng hưởng
với nhau.
Thật vậy, nếu xem nội lực là nhân tố quyết định phát triển bản thân
người học thì năng lực tự học (việc học) được xem là có ý nghĩa quyết định.
Trò là chủ thể, trung tâm, tự mình tìm ra kiến thức, chân lý bằng hành động
của chính mình, tự phát triển từ bên trong. Thầy là tác nhân, hướng dẫn, tổ
chức, đạo diễn cho trò tự học. Người thầy giỏi là người thầy biết dạy cho trò
biết tự học. Người học giỏi là người biết tự học, sáng tạo suốt đời. Song tự
học thuộc quá trình cá nhân hóa không có nghĩa là học một mình, đơn thân
độc mã, mà học trong sự hợp tác với các bạn, trong môi trường xã hội, dưới
sự hướng dẫn của nhà giáo.
Năng lực tự học - nội lực sẽ khó phát triển nếu thiếu sự hướng dẫn của
thầy và sự hợp tác của các bạn - ngoại lực. Ngược lại tác động của thầy, cô và
16
Nội lực
- Năng lực tư duy, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực
tự học.
- Năng lực được tạo ra dần dần và sử dụng suốt cả cuộc đời.
1.3. KHÁI NIỆM NĂNG LỰC TỰ HỌC
* Như trên (mục 1.2) đã nói:
Năng lực = Cách học ⇔ Kỹ năng ⇔ Nội dung ⇔ Tình huống ⇔ Vấn đề
Vậy cách học ở đây là gì?
Cách học là cách tác động của người học đến đối tượng học. Có thể
nói học cách học, học phương pháp học chính là học cách tự học. Tự học là
một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri
thức và kỹ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ngoài
lớp, theo hoặc không theo chương trình sách giáo khoa đã được quy định. Tự
học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học nhưng nó có tính độc lập cao
và mang đậm nét sắc thái cá nhân.
Như vậy, tự học là cách học với sự tự giác, tính tích cực và độc lập
cao của từng cá nhân.
Và khi nói đến học thì đương nhiên là phải tự học, không thể ai học
thay được. Song có hai cách học cơ bản:
- Một là, cách học có phần bị động, từ ngoài áp vào như kiểu hình
thành phản xạ cổ điển của Paplốp.
- Hai là, cách học chủ động, tự bản thân mình tạo nên các phản xạ có
điều kiện, như kiểu hình thành phản xạ tác động. Và về "Cách tự học" thì mỗi
người một vẻ, tùy theo tư chất và hoàn cảnh, điều kiện sống của mình mà mỗi
người có cách học riêng. Vì vậy mà ta thấy được: Ngày xưa không có các
18
trường chuyên nghiệp, mà cuộc thi hương, thi hội, thi đình đều theo một
chương trình "Từ chương khoa cử" nhưng xã hội vẫn có những người làm
nghề này, nghề khác... đó chủ yếu là qua con đường tự học.
Qua điều này ta càng thấy rõ khả năng tự học tiềm ẩn trong mỗi
con người.
mỗi khi đạt tới để đi đến những mục tiêu mới xa hơn, cao hơn". Không
những như vậy, thì nhận thức về sự học vẫn nông cạn, nhiều nội lực tiềm
tàng vẫn nằm im không được khơi dậy. Nếu khơi dậy ta cần chú ý tới việc
khơi dậy những năng lực tự học cơ bản như: năng lực tư duy, năng lực
phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực tự học. Trong đó cần khơi dậy
năng lực tự học của người học, mà năng lực tự học của người học, có
nhiều mức độ:
- Tự học hoàn toàn (học với sách, không có thầy bên cạnh).
- Tự học có người hướng dẫn (đây cũng là hình thức hoạt động tự
lực của người học để chiếm lĩnh tri thức và hình thành kỹ năng tương ứng
dưới sự hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo của giáo viên thông qua tài liệu hướng
dẫn tự học).
1.5.1. Tự học hoàn toàn (học với sách, không có thầy bên cạnh)
Ở đây ta cũng hiểu sách là do một ông thầy viết ra, nên học có sách
tức là học với thầy (thầy là tác giả của sách) nhưng không có thầy bên cạnh
để hỏi mà học với sách không có thầy bên cạnh thường được hiểu là tự học.
Nhưng hiểu như vậy cũng vẫn là hẹp hòi vì ngay cả khi có thầy bên cạnh thì
thầy cũng chỉ giảng giải, uốn nắn, chứ thầy đâu có học hộ trò. Dạy dù sao
20
cũng chỉ là ngoại lực tác động đến trò. Ngoại lực đó phải tạo ra được sự
cộng hưởng của nội lực - tức là sự cố gắng của học trò. Sự cố gắng này mới
đúng là tự học, nó tồn tại cùng "học" như hình với bóng, ta thấy hai người
cùng học một thầy thì phần thầy giảng là như nhau đối với hai người nhưng
kết quả học tập lại phụ thuộc vào sự cố gắng tự học của mỗi người bắt đầu
ngay từ khi nghe giảng, người này có thể nghe thầy giảng một cách chăm
chú, người kia nghe giảng lơ đãng, thế là phần tự học đã khác nhau rồi.
Tự học, hiểu như vậy có thể xảy ra khi có thầy, có sách, cả khi không
có thầy, không có sách. Trong trường hợp này, người học có thể tích lũy thêm
được kinh nghiệm, thêm kiến thức, nhiều sự cọ xát với thực tiễn, và con
người từ 2 tháng tuổi trở đi đã biết tự học như vậy.
Hoạt động học Đối tượng
- Thu thập thông tin
+ Qua đọc sách giáo khoa, tài liệu
+ Qua quan sát
+ Qua tư liệu, mạng internet
+ Qua thí nghiệm
+ Qua bài tập
- Xử lý thông tin
+ Phân tích, tổng hợp, khái quát
+ Nhận xét, đánh giá
+ Phê phán
+ Tự trình bày
+ Ứng dụng
+ Tóm tắt nội dung
+ Lập bảng hệ thống
- Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
+ Qua trả lời của bạn
22
+ Qua tự trả lời
+ Qua tổng kết của thầy
Để tự học có hướng dẫn đạt được kết quả cao, phải tuân thủ nghiêm
ngặt những điều sau đây:
- Phải tuyển sinh cho được những người "học được", không tùy tiện
châm chước, chiếu cố.
- Phải lo tạo động lực cho người học, giúp họ có sức chiến thắng các
khó khăn, nhất là ở giai đoạn đầu.
- Không được làm gì để cho tư tưởng ỷ lại phát sinh ở họ, đặc biệt thi
cử phải nghiêm túc để chặn đứng ở họ hy vọng được chiếu cố, châm chước.
- Tạo được những điều kiện tối thiểu (nhất là điều kiện giáo trình) cho
họ học.
+ Tập trung tư tưởng cao độ là gì?
+ Cách luyện "Tập trung tư tưởng cao độ".
+ Vận dụng "Tập trung" trong học tập.
- Phương pháp sử dụng từ điển:
+ Trong nước
+ Sử dụng từ điển nước ngoài.
* Các phương pháp xử lý thông tin:
- Diễn đạt ý:
24
+ Đặc điểm
+ Nguyên tắc
- Đặt câu hỏi
- Lập sơ đồ khái niệm.
- Sắp xếp các khái niệm.
- Sử dụng cách tiếp cận có hệ thống.
- Tóm tắt các ghi chép.
* Phương pháp nghiên cứu khoa học:
- Một số vấn đề chung về nghiên cứu khoa học:
+ Khái niệm
+ Mục đích
+ Tập dượt nghiên cứu khoa học:
- Yêu cầu và các bước tiến hành:
+ Yêu cầu.
+ Các bước tiến hành.
* Phương pháp rèn luyện tư duy
* Phương pháp tương tác, hợp tác:
- Khái niệm
- Làm việc với thầy, với bạn:
+ Thời một
+ Thời hai