KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP- Thực trạng và giải pháp cho FDI trong lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam - Pdf 27

MỤC LỤC
L i m đ uờ ở ầ 1
Ch ng 1: T ng quan v h th ng giáo d c và các ngu n v nươ ổ ề ệ ố ụ ồ ố
đ u t cho giáo d c c a Vi t Namầ ư ụ ủ ệ 4
1.1 Hệ thống giáo dục của Việt Nam 4
1.1.1 Giáo dục mầm non 4
1.1.2 Giáo dục phổ thông 5
1.1.3 Giáo dục nghề nghiệp 6
1.1.4 Giáo dục cao đẳng, đại học và sau đại học 7
1.2 Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển Kinh tế- xã hội 7
1.2.1 Giáo dục thúc đẩy sự hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức. 7
1.2.2 Giáo dục là nhân tố quan trọng để phát triển nguồn lực con người. 9
1.2.3 Giáo dục đóng góp vào tăng trưởng kinh tế thông qua ứng dụng và thúc đẩy tiến
bộ công nghệ. 10
1.2.4 Giáo dục đóng góp vào tổng thu nhập quốc dân. 12
1.3 Đặc điểm đầu tư vào giáo dục 12
1.3.1 Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho con người 12
1.3.2 Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển 13
1.3.3 Giáo dục đòi hỏi phải có các loại nguồn vốn đầu tư thích ứng 13
1.4 Các nguồn vốn đầu tư cho phát triển giáo dục của Việt Nam 14
1.4.1 Nguồn vốn trong nước 14
1.4.2 Nguồn vốn nước ngoài 16
Ch ng 2: Th c tr ng FDI trong l nh v c giáo d c t i Vi t Namươ ự ạ ĩ ự ụ ạ ệ
20
2.1 Các nhân tố tác động đến FDI vào lĩnh vực giáo dục của Việt Nam 20
2.1.1 Xu hướng phát triển giáo dục trên thế giới 20
2.1.2 Xu hướng phát triển của kinh tế Việt Nam 21
2.1.3 Quan niệm về giáo dục 22
2.1.4 Môi trường pháp lý 23
2.2 Quy mô và tỷ trọng của FDI trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam 24
2.2.1 Quy mô vốn FDI vào lĩnh vực giáo dục của Việt Nam qua các năm 24

-B LTBXH: Bộ Lao ng thng binh v xó hi : Bộ Lao động
thơng binh và xã hội
-C-H: Cao ng- i hc : Cao đẳng- Đại học
-CTMT: Chng trỡnh mc tiờu : Chơng trình mục tiêu
-GATS: Hip nh chung v thng mi v dch v : Hiệp
định chung về thơng mại và dịch vụ
-NSNN: Ngõn sỏch nh nc : Ngân sách nhà nớc
2
-OPCD: Tổ chức kế hoạch và phát triển cộng đồng. : Tæ
chøc kÕ ho¹ch vµ ph¸t triÓn céng ®ång.
-OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế : Tæ chøc hîp
t¸c vµ ph¸t triÓn kinh tÕ
-Sở GD-ĐT: Sở Giáo dục và Đào tạo : Së Gi¸o dôc vµ §µo t¹o
-Tp: Thành phố : Thµnh phè
-TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh : Thµnh phè Hå ChÝ Minh
-UBND: : Ủy ban nhân dân
3
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Số liệu thống kê giáo dục phổ thông 2 năm học 2007-2008 và
2008-2009…………………………………………………………………10
Bảng 1.2: Tỷ lệ chi phí cho giáo dục Việt Nam (2000-2007)………… 18
Bảng 1.3 : Chi Ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo (2000-2007)
…………………………………………………………………… 19
Bảng 2.1: Tổng vốn FDI vào lĩnh vực giáo dục qua các năm
(Tính đến 31/12/2009)……………………………………………………28
Bảng 2.2: Tỷ trọng vốn FDI vào các ngành ở Việt Nam ( Tính đến
31/12/2009)……………………………………………………………….30
Bảng 2.3: Cơ cấu FDI vào lĩnh vực giáo dục phân theo nước chủ đầu tư.
(Tính đến 31/12/2009)…………………………………………………….32
Bảng 2.4: FDI vào lĩnh vực giáo dục phân theo địa bàn đầu tư.

nay, lượng vốn FDI đầu tư vào lĩnh vực giáo dục nước ta đang dần tăng lên
tuy vẫn còn khiêm tốn, việc thu hót và sử dụng nguồn vốn này đã có những
thành quả đáng ghi nhận, đóng góp không nhá cho sù phát triển kinh tế. Tuy
nhiên bên cạnh đó, hoạt động FDI trong lĩnh vực giáo dục vẫn còn có những
tồn tại như có những công trình mang tính lừa đảo, chất lượng các cơ sở giáo
dục có vốn đầu tư nước ngoài không đảm bảo, công tác quản lý nhà nước còn
lỏng lẻo… Từ đó đặt ra những thách thức là cần phải phát huy những mặt tích
cực và hạn chế những tiêu cực, làm sao để tăng cường thu hót FDI vào giáo
dục nhưng vẫn bảo vệ được sức mạnh của nền giáo dục nước nhà, làm sao để
tiếp thu những tiến bộ khoa học công nghệ, phương pháp quản lý giáo dục,
nhưng đồng thời vẫn giữ được những truyền thống tốt đẹp của giáo dục Việt
Nam.
Vì những lÝ do trên, tôi quyết định chọn đề tài khóa luận: “Thực trạng
và giải pháp cho FDI trong lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam”.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài.
- Hệ thống hóa hệ thống giáo dục, đặc điểm đầu tư vào giáo dục và các
nguồn vốn đầu tư cho giáo dục của Việt Nam, khẳng định vai trò quan trọng
của giáo dục.
- Phân tích và đánh giá hoạt động FDI vào lĩnh vực giáo dục của Việt
Nam.
- Đề xuất mét số giải pháp nhằm tăng cường thu hót cũng như sử dụng
có hiệu quả nguồn vốn FDI vào lĩnh vực giáo dục của Việt Nam.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
- Khóa luận chỉ tập trung vào nghiên cứu hoạt động FDI vào lĩnh vực
giáo dục của Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 1993 đến năm 2009.
2
- Những giải pháp đề xuất được áp dụng cho giai đoạn từ nay đến năm
2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tổng hợp

Trong năm học 2008-2009, Việt Nam có 43 nhà trẻ, trong đó số nhà trẻ
công lập là 22 và ngoài công lập là 21. Tổng số trẻ em học ở nhà trẻ là
494.766 em, và tỷ lệ giáo viên có trình độ sư phạm là 79,62%.
Tổng số trường mầm non trong niên học 2008-2009 là 9.289 trường. Số
trẻ em theo học là 2.810.625, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn là 94,74% trong sè
183.000 giáo viên [3].
4
Tuy nhiên giáo dục mầm non vẫn đang cần được đầu tư thêm. Hiện
nay, cơ cấu NSNN chi cho giáo dục mầm non vẫn còn thấp, năm 2008 con số
này chỉ đạt 8,5%. Tỷ lệ chi cho giáo dục mầm non ở Việt Nam là: Nhà nước
chi 38,6%, người dân chi 61,4%, đây là một con số thấp so với bình quân của
các nước phát triển, ở các nước này tỷ lệ trung bình là: Nhà nước chi 80%, gia
đình chi 20%. Ngoài ra, hệ thống trường mầm non và cơ sở vật chất vẫn chưa
đáp ứng được nhu cầu gửi trẻ của người dân. Tại các thành phố lớn, do thiếu
quỹ đất để xây dựng trường nên số trường mầm non vẫn thiếu so với nhu cầu
của người dân. Còn ở những vùng sâu, vùng xa, nông thôn tuy không thiếu
đất nhưng lại không được đầu tư thỏa đáng để xây dựng cơ sở hạ tầng, cung
cấp trang thiết bị học tập cho trẻ. Bên cạnh đó, cấp học này còn thiếu giáo
viên và chất lượng giáo viên chưa cao. Trong năm học 2009, cả nước thiếu
gần 25.000 giáo viên. Đội ngò giáo viên mầm non hiện tại phần lớn thiếu cập
nhật thông tin và chậm đổi mới phương pháp [11].
1.1.2 Giáo dục phổ thông
Trong giáo dục phổ thông có 3 cấp học là tiểu học, trung học cơ sở và
trung học phổ thông.
Ở cấp tiểu học, học sinh sẽ học trong 5 năm. Tính đến thời điểm này tỷ
lệ trẻ đi học tiểu học trong độ tuổi là 97%.
Cấp trung học cơ sở đào tạo học sinh trong vòng 4 năm. Tỷ lệ học sinh
tốt nghiệp ở cấp học này năm học 2008-2009 là 85,04%
Sau khi tốt nghiệp bậc trung học cơ sở, học sinh sẽ vào học tiếp ở bậc
trung học phổ thông. Đây là cấp học cuối cùng trong hệ thống giáo dục phổ

Năm học 2008-2009, Việt Nam có 273 trường dạy nghề và trung học
chuyên nghiệp, với tổng số học sinh theo học là 625.770 em [3]. Những học
sinh không đủ điều kiện vào các trường đại học, cao đẳng thì có thể vào các
trường dạy nghề hoặc trung cấp chuyên nghiệp để học nghề trong khoảng 1-2
năm sau đó ra trường tìm việc làm.
6
1.1.4 Giáo dục cao đẳng, đại học và sau đại học
Nhiệm vụ chủ yếu của cấp học này chính là đào tạo ra những người lao
động trình độ tay nghề cao, phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh để phục vụ cho
đất nước.
Hiện nay Việt Nam có 223 trường cao đẳng và 146 trường đại học.
Sè sinh viên vào các trường cao đẳng và đại học ngày càng tăng lên, đây là
một tín hiệu đáng mừng với nền giáo dục Việt Nam. Năm học 2000-2001,
tổng số sinh viên ở các trường cao đẳng, đại học chỉ là khoảng 0,8 triệu
người, nhưng đến năm học 2008-2009 con số này đã là 1,72 triệu, tức là tăng
gấp đôi. Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đại học năm 2009 là 11,54%; và tỷ lệ sinh
viên tốt nghiệp cao đẳng là 16,61% [3].
Về chất lượng giảng viên, tỷ lệ giảng viên ở trình độ tiến sĩ trên tổng số
giảng viên là 14,27 %; tỷ lệ giảng viên trình độ thạc sĩ là 41,37% [3].
1.2 Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển Kinh tế- xã hội
1.2.1 Giáo dục thúc đẩy sự hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức.
Khái niệm kinh tế tri thức ra đời từ năm 1995 do Tổ chức OPCD nêu ra
"Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đã sự sản sinh, truyền bá và sử dụng
tri thức trở thành yếu tố quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, không
ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống" [18]. Ngày nay, với sự phát triển mạnh
mẽ của các ngành công nghệ mới, công nghệ thông tin, sự tương tác giữa tin
học, vi điện tử và sinh học đã hỗ trợ đắc lực cho phát triển kinh tế. Trong đó,
tri thức đóng vai trò như một lực lượng sản xuất mới, mét lực lượng sản xuất
đặc biệt, không bị hao mòn mà giá trị ngày càng tăng, trong một nền kinh tế
mới- nền kinh tế tri thức.

đó, nền kinh tế của đất nước ta sẽ không thể phát triển, theo kịp với các nước
trên thế giới, dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực. Bởi vậy, vai trò của giáo dục
đang ngày càng được khẳng định rõ ràng hơn, bởi chính trong nền kinh tế tri
thức như hiện nay, không có giáo dục là không thể phát triển, dù phát triển thì
cũng chỉ là sự phát triển nhất thời, không bền vững. Do vậy, giáo dục chính là
nhân tố quan trọng giúp hình thành, phát triển và duy trì nền kinh tế tri thức.
1.2.2 Giáo dục là nhân tố quan trọng để phát triển nguồn lực con người.
Phát triển kinh tế xã hội dùa trên nhiều nguồn lực: nhân lực (con
người), vật lực (vật chất), tài lực (tài chính tiền tệ), song chỉ có nguồn lực con
người mới tạo ra động lực phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy
tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con người. Tài nguyên con người lại
không bao giê cạn kiệt, con người chính là tài nguyên của mọi tài nguyên.
Bên cạnh đó, phát triển kinh tế xã hội là nhằm mục tiêu phục vụ, nâng
cao chất lượng cuộc sống của con người. Con người là lực lượng tiêu dùng
của cải vật chất và tinh thần trong xã hội, thể hiện rõ nét nhất mối quan hệ
giữa sản xuất và tiêu dùng. Mặc dù mức độ phát triển của sản xuất sẽ tác động
tới mức độ phát triển của tiêu dùng, song chính nhu cầu tiêu dùng của con
người lại tác động mạnh mẽ đến sản xuất thông qua quan hệ cung cầu hàng
hóa trên thị trường. Như vậy con người không chỉ là mục tiêu, động lực cho
sự phát triển, mà con người còn chế ngù được tự nhiên, lợi dụng tự nhiên để
phục vụ cho con người, và còn tạo ra những điều kiện để hoàn thiện chính bản
thân con người.
Cùng với khoa học công nghệ, vốn đầu tư, chất lượng nguồn nhân lực
đóng vai trò quyết định đến sự thành công của sự nghiệp đổi mới toàn diện
9
kinh tế- xã hội. Kinh tế nước ta có cạnh tranh được với các nước trong khu
vực và thế giới, thu hót mạnh mẽ các nguồn đầu tư đều phụ thuộc phần lớn
vào chất lượng nguồn nhân lực. Mục tiêu chiến lược phát triển nguồn nhân
lực Việt Nam là đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước để
đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Đại hội Đảng

công nghệ trong nước, và quốc tế, qua đó, có khả năng sử dụng, áp dụng
chúng trong thực tế. Và khi đó, khi được trợ giúp bởi những tiến bộ khoa học
công nghệ đã được tiếp thu qua đào tạo, người lao động có thể nâng cao trình
độ, năng suất lao động. Hiện nay, năng suất lao động cá nhân ở những nước
phát triển rất cao, bởi họ là những lao động chất lượng cao đã được qua đào
tạo, có thể ứng dụng những khoa học công nghệ cao vào sản xuất. Có thể
nhận thấy một thực tế, ở những nước đang phát triển hay kém phát triển, số
lượng lao động qua đào tạo rất thấp. Ngay tại Việt Nam, số lượng lao động
qua đào tạo chiếm 30% trong đó qua đào tạo tay nghề chiếm 23%, chỉ bằng
1/3 so với các nước có nền kinh tế công nghiệp mới. Trong số các lao động đã
qua đào tạo nghề lại chỉ có 25% lao động được đào tạo dài hạn, có trình độ
cao [10]. Như vậy chính việc lao động còn ở trình độ thấp, chưa qua đào tạo
đã trở thành rào cản lớn cho các nước đang phát triển và kém phát triển, ngay
cả khi họ được các nước có nền khoa học công nghệ cao chuyển giao công
nghệ, bởi số lượng các nhân công có thể sử dụng công nghệ đó không nhiều.
Chính bởi thế, muốn kinh tế phát triển, các nước phải đặc biệt chú trọng đến
đào tạo nâng cao trình độ, kĩ năng và năng suất của người lao động để học có
thể ứng dụng tốt khoa học công nghệ, qua đó thúc đẩy công nghệ phát triển.
11
Như vậy có thể khẳng định, giáo dục có tác động, ảnh hưởng rất lớn
đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế thông qua ứng dụng và phát triển
khoa học công nghệ.
1.2.4 Giáo dục đóng góp vào tổng thu nhập quốc dân.
Ngày nay giáo dục đã trở thành một ngành dịch vụ tạo ra lợi nhuận.
Không chỉ có nhà nước cung cấp giáo dục độc quyền nữa, mà tư nhân cũng
đang tham gia cung ứng mạnh mẽ ở ngành dịch vụ này. Số trường tư thục,
ngoài công lập mọc lên ngày càng nhiều ở tất cả các cấp học và trình độ đào
tạo. Các nhà đầu tư nước ngoài cũng đang tăng cường đầu tư vào thị trường
giáo dục Việt Nam đầy tiềm năng này.
Giá trị sản phẩm ngành giáo dục tăng dần qua các năm. Năm 2002,

làm giáo dục một cách có hiệu quả thì tụt hậu so với sự phát triển của thế giới
là hậu quả khó tránh khỏi. Do đó, đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho
phát triển.
1.3.3 Giáo dục đòi hỏi phải có các loại nguồn vốn đầu tư thích ứng
Giáo dục là một ngành sản xuất quan trọng của xã hội, từ đó đòi hỏi
phải có các nguồn vốn đầu tư phù hợp
Sản phẩm của giáo dục là con người, con người là nền tảng và là yếu tố
sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển toàn diện của quốc gia. Bên
cạnh đó, giáo dục cung cấp dịch vụ giáo dục với phông rộng lớn trải từ hàng
13
hóa công cộng đến hàng hóa cá nhân [8]. Ngoài ra lợi Ých xã hội thu được từ
đầu tư vào giáo dục lớn hơn nhiều so với lợi Ých cá nhân. Từ những đặc điểm
này, có thể thấy để phát triển giáo dục cần đa dạng hóa các nguồn cung ứng
vốn và xác định các nguồn đầu tư thích hợp với từng khía cạnh của giáo dục
sao cho hiệu quả kinh tế xã hội đạt được cao nhất.
1.4 Các nguồn vốn đầu tư cho phát triển giáo dục của Việt Nam
1.4.1 Nguồn vốn trong nước
* Nguồn vốn Ngân sách nhà nước (NSNN)
Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, NSNN không phải là nguồn vốn
duy nhất đầu tư cho giáo dục nhưng lại là nguồn vốn có vai trò chủ đạo và
quyết định chính đến việc phát triển nền giáo dục của nước ta.
Nhận thức rõ vai trò của giáo dục, Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo
dục và đào tạo là lĩnh vực được ưu tiên đầu tư trong cơ cấu chi NSNN. Luật
Giáo dục 2005 đã chỉ rõ: "Nhà nước dành ưu tiên hàng đầu cho việc bố trí
ngân sách giáo dục, bảo đảm tỷ lệ tăng chi ngân sách giáo dục hàng năm cao
hơn tỷ lệ tăng chi NSNN" [1]. Nhà nước coi giáo dục là quốc sách hàng đầu,
và luôn dành một tỷ trọng lớn trong ngân sách của mình để phát triển giáo
dục.
Bảng 1.2: Tỷ lệ chi phí cho giáo dục Việt Nam (2000-2007)
2000 2001 2002 2003 200

dc và đào tạo
10356 12649 16906 18625 27830 35007 45595 55240
Kinh phí
CTMT gi dc
và đào tạo
600 600 710 970 1250 1770 2970 3380
(Ngun: B Giỏo dc v o to)
*Ngun vn ngoi NSNN
Mc dự NSNN luụn u tiờn u t cho giỏo dc nhng trờn thc t
NSNN ch ỏp ng c 60% nhu cu vn u t cho phỏt trin giỏo dc ca
quc gia, nh vy cn cú s tham gia ca cỏc ngun vn ngoi ngõn sỏch.
Hin nay vi nhu cu hng th giỏo dc ca ngi dõn ngy cng cao,
nh nc khụng cũn l nh cung cp giỏo dc c quyn na, m bờn cnh ú
15
các tổ chức, cá nhân cũng đã được phép thành lập các cơ sở giáo dục ngoài
công lập theo quy định của nhà nước. Với vai trò kiểm soát và điều tiết của
mình, nhà nước hoàn toàn có thể hướng các hoạt động của các trường ngoài
công lập theo chiến lược phát triển chung của hệ thống giáo dục quốc dân.
Một nguồn đóng góp ngoài NSNN chính là học phí của người học. Học
phí là một khoản đóng góp quan trọng thể hiện sự công bằng trong việc
hưởng thụ giáo dục, bên cạnh đó học phí còn làm giảm gánh nặng cho NSNN.
Tuy nhiên để thực hiện công bằng xã hội và khuyến khích người dân tham gia
học tập, nhà nước có thể miễn học phí ở những cấp học nhất định và những
đối tượng thuộc diện ưu tiên theo quy đinh của pháp luật.
Ngoài ra các cơ sở giáo dục có thể tạo ra nguồn thu từ chính những hoạt
động của mình như cung ứng các loại dịch vụ, nghiên cứu khoa học, liên kết
đào tạo. Bên cạnh đó, cơ sở giáo dục có thể nhận quà biếu, các khoản đóng
góp từ các cá nhân, tổ chức, hoặc nhận các học bổng từ các quỹ giáo dục,
doanh nghiệp.
1.4.2 Nguồn vốn nước ngoài

33% và đại học được 19,3%. Ngoài ra, theo thống kê của Bộ KH&ĐT, trong
giai đoạn từ 1998-2009, tổng giá trị hiệp định ODA về giáo dục đào tạo được
ký kết là hơn 1.375,47 triệu USD tương đương 26.133 tỷ đồng, trong đó vốn
vay khoảng 953,11 triệu USD, viện trợ không hoàn lại khoảng 422,36 triệu
USD [13].
17
Nhờ có sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế mà Việt Nam có thể cải thiện
được chất lượng nguồn nhân lực cũng như chỉ số phát triển con người của
quốc gia mình.
* Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment- FDI)
Vốn FDI có vai trò rất lớn đối với phát triển giáo dục ở nước ta. Thứ
nhất vốn FDI là một trong những nguồn bổ sung cho NSNN để đầu tư cho
giáo dục. Đối với một nước đang phát triển, nền giáo dục còn lạc hậu, nhu cầu
học tập của người dân lại tăng cao, trong khi đó NSNN cũng như vốn ngoài
ngân sách không đủ cung ứng cho giáo dục vì nguồn lực còn hạn hẹp thì vốn
nước ngoài là một nguồn cung ứng cần thiết. Thứ hai vốn FDI giúp nâng cao
cơ sở vật chất, các dự án FDI vào Việt Nam đa phần đều xây dựng những
trường học, trung tâm đào tạo có đầy đủ tiện nghi, trang thiết bị hiện đại.
Ngoài ra các dự án FDI còn cung cấp những chương trình học theo chương
trình học của các nước phát triển trên thế giới như Anh, Mỹ , Pháp…, điều
này đã tạo điều kiện cho người dân Việt Nam tiếp cận được với nền tri thức
tiên tiến của thế giới và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam. Bên
cạnh đó, các dự án FDI vào giáo dục đã tạo một môi trường cạnh tranh lành
mạnh, tạo sức Ðp và động lực cho các cơ sở giáo dục trong nước phát triển.
Tuy số dự án FDI vào giáo dục đến nay còn chưa nhiều, chỉ có 127 dự án với
tổng vốn đầu tư là 269,037 triệu USD, nhưng cũng không thể phủ nhận vốn
FDI đã góp phần thay đổi bộ mặt nền giáo dục của Việt Nam theo hướng hội
nhập quốc tế.
Tóm lại qua chương 1, ta có thể thấy rằng hệ thống giáo dục của Việt
Nam hiện nay bao gồm các cấp học và trình độ đào tạo như sau: giáo dục

phát triển khác, khách hàng trong lĩnh vực giáo dục chủ yếu là Nhà nước, Nhà
nước muốn rằng nguồn nhân lực của quốc gia phải được giáo dục trong môi
trường tốt nhất và Ýt tèn kém nhất. Nhưng đến đầu thế kỉ XXI, “sinh viên”
chính là khách hàng của giáo dục. Các trường đại học lớn trên thế giới thời kì
này đã bắt đầu có những chính sách hấp dẫn để thu hót học sinh từ các nước
khác đến nước mình du học. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD)
cho biết, vào những năm đầu thế kỷ này, thế giới có khoảng 2 triệu sinh viên
20
đại học đã và đang du học nước ngoài, chiếm 2% của 100 triệu sinh viên trên
toàn thế giới. Không chỉ có vậy, rất nhiều trường đã đầu tư mở thêm các cơ sở
giáo dục ở nước ngoài. Nhiều quốc gia đã thu được những khoản lợi nhuận
khổng lồ, ví dụ như trong năm 2003 khoảng 1/3 thị trường dịch vụ giáo dục là
do Mỹ nắm giữ với hơn nửa triệu người du học, đem lại cho nền kinh tế nước
này hơn 12 tỷ USD mỗi năm; ở vị trí thứ hai là Anh khi kiếm được 5 tỷ USD
nhờ xuất khẩu kiến thức [15].
2.1.2 Xu hướng phát triển của kinh tế Việt Nam
Từ năm 1993-1996, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu hồi phục sau thời kì
suy thoái từ năm 1988-1991, và thực hiện các tốc độ tăng trưởng ngoạn mục
trên 8%/năm trong suốt bốn năm liền, Việt Nam trở thành một thị trường mới
nổi đáng chú ý và là điểm đến của các nhà đầu tư nước ngoài. Lượng vốn FDI
vào Việt Nam đã tăng mạnh từ năm 1993 và đạt đỉnh điểm vào năm 1996 với
tổng vốn đăng ký lên tới 8,6 tỷ USD [16].
Năm 1997, do chịu ảnh hưởng của cơn khủng hoảng tiền tệ khu vực,
tiến trình đổi mới kinh tế của Việt Nam đã bị chậm lại, dẫn đến một tình trạng
suy thoái kinh tế khá nghiêm trọng trong hai năm 1999-2000. Tuy nhiên,
trong giai đoạn này Việt Nam vẫn duy trì được mức tăng trưởng GDP là
7%/năm. Cũng trong thời gian này cánh cửa hội nhập đã mở, Việt Nam gia
nhập AFTA và chuẩn bị trở thành thành viên chính thức của WTO vào đầu
thiên nhiên kỉ mới.
Từ năm 2002-2007, kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng trở lại với tốc độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status