Trường Trung cấp KTKTTM số 1 Báo cáo thực hành
Lời mở đầu
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ một doanh nghiệp
nào, nguyên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất phải được ưu tiên hàng đầu. Trong
công nghiệp chế biến muốn tồn tại và phát triển phải gắn với vùng nguyên liệu.
Qua 14 năm thu mua và chế biến kể từ năm 1986 đến nay Công ty cổ phần
mía đường Thanh Hóa đã qua bao khó khăn có lúc tưởng chừng như không thể vượt
qua. Tình hình thực tế Công ty đứng bên bờ vực phá sản nhưng rồi lại phát triển đi
lên đem lại những thành quả tốt đẹp. Tất cả những thăng trầm ấy do nhiều nguyên
nhân đem lại, xong suy cho cùng một trong số những nguyên nhân cơ bản quan
trọng bậc nhất đó là vấn đề nguyên liệu cho nhà máy sản xuất.
Đủ nguyên liệu nhà máy chạy hết công suất, khai thác được tiềm năng săn có
của thiết bị, sản xuất kinh doanh có hiệu quả, giá thành hạ, đem lại lợi nhuận cao,
nộp ngân sách Nhà nước tăng, công nhân có công ăn việc làm, đời sống ổn định và
ngày càng được nâng cao, công nhân gắn bó với nhà máy.
Thiếu nguyên liệu nhà máy hoạt động kém hiệu quả, lãng phí thiết bị máy
móc, khấu hao trên đầu sản phẩm tăng, sản xuất bị thua lỗ, công nhân không có
công ăn việc làm, đời sống ngày càng khó khăn.
Từ những vấn đề trên trong những năm gần đây, đặc biệt là từ khi có chủ
trương đường lối đổi mới của Đảng và các chính sách của Nhà nước về giao quyền
tự chủ cho sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp. Công ty cổ phần mía đường
Thanh Hóa đã chủ động đầu tư giải quyết tốt vấn đề nguyên liệu cung cấp cho nhà
máy sản xuất ổn định và phát triển.
Hiện nay trong xu thế phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh, Công ty cổ
phần mía đường Thanh Hóa đã mở rộng nâng cao công suất nhà máy lên 6.500 tÊn
mía cây/ngày. Do đó việc xây dựng và phát triển vùng nguyên liệu đảm bảo đầy đủ
cho nhà máy sản xuất ngày càng trở nên quan trọng và cấp bách hơn.
Từ những vấn đề nêu trên, việc đặt ra những chương trình nghiên cứu về
vùng nguyên liệu mía đường Thanh Hoá, thực trạng vùng nguyên liệu và quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần mía đường Thanh Hóa
trong những năm vừa qua và đề ra những giải pháp nhằm xây dựng, phát triển
1. Khái niệm và mục tiêu của quản trị nguyên vật liệu
1.1. Khái niệm quản trị nguyên vật liệu và mục tiêu của quản trị nguyên vật liệu.
- Các thuật ngữ khác nhau như quản trị nguyên vật liệu và cung ứng được sử
dụng như là mác chung cho quy mô toàn cục của tất cả các hoạt động được yêu cầu
để quản lý dòng nguyên vật liệu từ các nhà cung cấp thông qua hoạt động của
doanh nghiệp đến sử dụng vật liệu cuối cùng, hoặc đối với người tiêu dùng. Ta có
khái niệm sau:
- Quản trị nguyên vật liệu là các hoạt động liên quan tới việc quản lý dòng
vật liệu vào, ra của doanh nghiệp. Đó là quá trình phân nhóm theo chức năng và
quản lý theo chu kỳ hoàn thiện của dòng nguyên vật liệu, từ việc mua và kiểm soát
bên trong các nguyên vật liệu sản xuất đến kế hoạch và kiểm soát công việc trong
quá trình lưu chuyển của vật liệu đến công tác kho tàng vận chuyển và phân phối
thành phẩm.
- Mục tiêu của quản trị nguyên vật liệu là:
+ Quản trị nguyên vật liệu nhằm đáp ứng yêu cầu về nguyên vật liệu cho sản
xuất trên cơ sở có đúng chủng loại nơi nó cần và thời gian nó được yêu cầu.
+ Có tất cả chủng loại nguyên vật liệu khi doanh nghiệp cần tới.
+ Đảm bảo sự ăn khớp của dòng nguyên vật liệu để làm cho chóng có sẵn
khi cần đến.
+ Mục tiêu chung là để có dòng nguyên vật liệu từ các nhà cung cấp đến tay
người tiêu dùng mà không có sự chậm trễ hoặc chi phía không được điều chỉnh.
1.2. Nhiệm vụ của quản trị nguyên vật liệu.
- Tính toán số lượng mua sắm và dự trữ tối ưu (kế hoạch cần nguyên vật
liệu).
- Đưa ra các phương án và quyết định phương án mua sắm cũng như kho
tàng.
- Đường vận chuyển và quyết định vận chuyển tối ưu.
Bùi Thị Hoan Lớp: KTB2 - 08
3
Trường Trung cấp KTKTTM số 1 Báo cáo thực hành
trọng yếu của quá trình sản xuất kinh doanh, nó chỉ tham gia vào một chu kỳ sản
Bùi Thị Hoan Lớp: KTB2 - 08
4
Trường Trung cấp KTKTTM số 1 Báo cáo thực hành
xuất kinh doanh nhất định và toàn bộ nguyên vật liệu được chuyển hết vào chi phí
kinh doanh.
Nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố của quá trình sản xuất (sức lao động,
tư liệu lao động và đối tượng lao động) trực tiếp cấu tạo nên thực thể của sản phẩm.
Trong quá trình sản xuất không thể thiếu nhân tố nguyên vật liệu vì thiếu nó
quá trình sản xuất sẽ không thể thực hiện được hoặc sản xuất bị gián đoạn.
Chất lượng nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản xuất,
chúng ta không thể có một sản phẩm tốt khi nguyên vật liệu làm ra sản phẩm đó lại
kém chất lượng. Do vậy cần có một kế hoạch đảm bảo nguồn nguyên vật liệu cho
quá trình sản xuất được diễn ra thường xuyên liên tục, cung cấp đúng, đủ số lượng,
quy cách, chủng loại nguyên vật liệu chỉ trên cơ sở đó mới nâng cao được các chỉ
tiêu kinh tế, kỹ thuật, sản xuất kinh doanh mới có lãi và doanh nghiệp mới có thể
tồn tại được trên thương trường.
- Xét cả về thực tiễn ta thấy rằng, nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố cơ
bản của quá trình sản xuất kinh doanh, nếu thiếu nguyên vật liệu hoặc sản xuất cung
cấp không đầy đủ, đồng bộ theo quá trình sản xuất kinh doanh thì sẽ không có hiệu
quả cao.
- Xét về mặt vật chất thuần tuý thì nguyên vật liệu là yếu tố trực tiếp cấu tạo
nên sản phẩm, chất lượng nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sản
phẩm. Do đó công tác quản trị nguyên vật liệu là một biện pháp cơ bản để nâng cao
chất lượng sản phẩm.
2.3. Vai trò quản trị nguyên vật liệu.
- Quản trị nguyên vật liệu tốt sẽ điều kiện tiền đề cho hoạt động sản xuất có
thể tiến hành và tiến hành có hiệu quả cao.
- Quản trị nguyên vật liệu tốt sẽ tạo cho điều kiện cho hoạt động sản xuất
diễn ra một cách liên tục, không bị gián đoạn góp phần đáp ứng tốt nhu cầu của
Bùi Thị Hoan Lớp: KTB2 - 08
6
Bên bán Bên Nhận hàng
Nhận hàng Vận
chuyển
Đầu ra
Trường Trung cấp KTKTTM số 1 Báo cáo thực hành
đơn vị phụ thuộc vào khả năng của người lao động và nhu cầu của doanh nghiệp khi
các nhà ra quyết định của nó quan sát được điều đó. Tương ứng với mỗi cách mà
doanh nghiệp được tổ chức, một số chức năng liên quan tới quản trị nguyên vật liệu
có thể được thực hiện trong một số bộ phận của doanh nghiệp.
Ta có một số hoạt động liên quan tới quản trị nguyên vật liệu:
- Mua.
- Vận chuyển nội bộ.
- Kiểm soát tồn kho.
- Kiểm soát sản xuất.
- Tập kết tại phân xưởng.
- Quản lý vật liệu.
- Đóng gói và vận chuyển.
- Kho tàng bên ngoài và phân phối.
Những người có trách nhiệm đối với các chức năng trên báo cáo cho nhà
quản lý vật liệu, nhà cung ứng hoặc nhà quản lý điều hành. Các chức năng được
thực hiện và cộng tác để đảm bảo điều hành một cách có hiệu quả.
Từ chỗ các doanh nghiệp tổ chức theo các cách thức rất đa dạng nó có thể
đặt tên các loại phòng cơ thể và có trách nhiệm chính xác như tên của nó. Sau đây ta
cần phân tích một số hoạt động trên. Bốn chức năng đầu hầu như chỉ diễn ra trong
hoạt động sản xuất vật chất. Hoạt động mua bán và kiểm tra hàng hoá trong khi xảy
ra trong sản xuất vật chất và phi vật chất.
4.1. Hoạt động kiểm soát sản xuất:
Nó thực hiện các chức năng sau:
kiểm tra, cất trữ hoặc sử dụng.
4.4. Hoạt động xếp dỡ.
- Quản lý các phương tiện vận tải của doanh nghiệp.
- Chuyển hàng lên phương tiện vận tải.
II. Các nhân tố ảnh hưởng tới quản trị nguyên vật liệu trong doanh nghiệp.
1. Số lượng nhà cung cấp trên thị trường.
Một trong những nhân tố ảnh hưởng rất thường tới các quá trình quản trị
nguyên vật liệu đó là các nhà cung cấp. Số lượng đông đảo các nhà cung cấp thuộc
các thành phần kinh tế khác nhau là thể hiện sự phát triển của thị trường các yếu tốt
đầu vào nguyên vật liệu. Thị trường này càng phát triển bao nhiêu càng tạo ta khả
năng lớn hơn cho sự lựa chọn nguồn nguyên vật liệu tối ưu bấy nhiêu.
Mặt khác, sức ép của nhà cung cấp có thể tạo ra các điều kiện thuận lợi hoặc
Bùi Thị Hoan Lớp: KTB2 - 08
8
Trường Trung cấp KTKTTM số 1 Báo cáo thực hành
khó khăn cho quản trị nguyên vật liệu. Sức ép này gia tăng trong những trường hợp
sau:
- Một số công ty độc quyền cung cấp.
- Không có sản phẩm thay thế.
- Nguồn cung ứng trở nên khó khăn.
- Các nhà cung cấp đảm bảo các nguồn nguyên vật liệu quan trọng nhất cho
doanh nghiệp.
2. Giá cả của nguồn nguyên vật liệu trên thị trường.
Trong cơ chế thị trường giá cả là thường xuyên thay đổi. Vì vậy việc hội
nhập và thích nghi với sự biến đổi đó là rất khó khăn do việc cập nhật các thông tin
là hạn chế. Do vậy nó ảnh hưởng tới việc định giá nguyên vật liệu, quản lý nguyên
vật liệu trong doanh nghiệp. Việc thay đổi giá cả thường xuyên là do:
- Tư giá hối đoái thay đổi làm cho các nguyên vật liệu nhập khẩu với giá
cũng khác nhau.
- Do các chính sách của chính phủ (quata, hạn ngạch )
Đảm bảo nguyên liệu cho sản xuất thực chất là nghiên cứu một trong các yếu
tố chủ yếu của sản xuất. Thông qua việc nghiên cứu này để giúp cho doanh nghiệp
thấy rõ được ưu nhược điểm trong công tác cung cấp nguyên liệu đồng thời có biện
pháp đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời, đúng chủng loại và quy cách phẩm chất.
Không để xảy ra tình trạng cung cấp thiếu nguyên liệu ngừng sản xuất, thừa nguyên
liệu gây ø đọng vốn sản xuất.
1. Đảm bảo tình hình cung cấp về tổng khối lượng nguyên liệu.
Để hoàn thành nhiệm vụ sản xuất , đi đôi với việc đảm bảo các yếu tố lao
động, tư liệu lao động, phải thực hiện tốt việc cung cấp nguyên liệu cho sản xuất.
Tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp mà nguyên liệu
của nó có những nét đặc trưng riêng. Đối với doanh nghiệp công nghiệp nguyên liệu
gồm: nguyên liệu chính, nguyên liệu phụ, phế liệu. Đối với công ty xây lắp nguyên
liệu gồm xi măng, sắt, thép, cát. Đối với doanh nghiệp nông nghiệp nguyên liệu
gồm: hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu Đối với sản xuất như ngành đường
nguyên liệu là cây mía.
Trong điều kiện kinh tế thị trường nguyên liệu nhập về doanh nghiệp từ
nhiều nguồn khác nhau như: tự nhập khẩu, liên doanh liên kết, đối lưu vật tư Mỗi
nguồn nhập lại có một giá mua, bán khác nhau. Vì vậy để đánh giá tình hình cung
cấp về tổng khối lượng nguyên liệu không thể dựa vào giá thực tế của chóng mà
phải biểu hiện khối lượng nguyên liệu thực tế cung cấp theo giá kế hoạch. Ngoài ra
Bùi Thị Hoan Lớp: KTB2 - 08
10
Trường Trung cấp KTKTTM số 1 Báo cáo thực hành
cần dựa vào tư lệ hoàn thành kế hoạch cung cấp về tổng khối lượng nguyên liệu.
2. Đảm bảo tình hình cung cấp về các loại nguyên liệu chủ yếu.
Trong thực tế sản xuất, doanh nghiệp có thể sử dụng vật liệu thay thỊ để sản
xuất sản phẩm song điều đó không có nghĩa là đối với mọi nguyên liệu đều có thể
thay thỊ được như: cây mía, cao su Các loại nguyên liệu không thể thay thế được
gọi là nguyên liệu chủ yếu, tham gia cấu thành thực thể sản phẩm. Để đảm bảo sản
xuất không bị gián đoạn, trước hết doanh nghiệp phải đảm bảo cung cấp đầy đủ các
khẩu, liên doanh liên kết và nhập từ các nguồn khác. Mở ra cơ chế mới trong việc
cung cấp nguyên liệu, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thoát khỏi sự bế tắc, kéo
dài trong một thời kỳ bao cấp chờ đợi Nhà nước cung ứng, trong khi bản thân Nhà
nước không đáp ứng nổi.
Để thấy rõ thành tích của doanh nghiệp trong việc thực hiện kế hoạch cung
cấp nguyên liệu, một trong những nội dung có ý nghĩa quan trọng là phải chỉ ra cho
được tình hình khai thác của nguồn khả năng về nguyên liệu để đảm bảo nhu cầu
sản xuất.
Khi nghiên cứu vấn đề này, có thể so sánh trị giá nguyên liệu thực tế từng
nguồn cung cấp với tổng trị giá nguyên liệu kế hoạch, cũng như với tổng giá trị
nguyên liệu thực tế cung cấp. Qua đó sẽ thấy được tư trọng của từng nguồn trong
tổng giá nguyên liệu được cung cấp trong kỳ.
Khối lượng nguyên liệu cung cấp trong kỳ là có liên quan mật thiết với tình
hình sản xuất dự trữ và sử dụng nguyên liệu. Khi phân tích cần đặt nó trong mối
quan hệ với các nhân tố trên để kết luận được đầy đủ và sâu sắc. Trên thực tế, có
khi khối lượng nguyên liệu cung cấp tăng nhưng phẩm chất quy cách không đảm
bảo sẽ dẫn đến tình trạng gây khó khăn cho sản xuất. Ngay cả trong trường hợp chất
lượng và quy cách nguyên liệu đảm bảo, nếu khối lượng sản xuất không tăng mà
tăng khối lượng nhập sẽ dẫn đến ø đọng vốn. Vì thế, vấn đề có tính nguyên tắc đặt
ra cho công tác cung cấp nguyên liệu ở mỗi doanh nghiệp cần phải quán triệt là:
đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời, đúng chủng loại và quy cách phẩm chất nhằm
phục vụ tốt cho quá trình sản xuất kinh doanh ở bất cứ doanh nghiệp nào.
4. Phát triển nguyên liệu trong công nghiệp chế biến nông sản
Chế biến nông sản là chế biến sản phẩm của ngành trồng trọt. Muốn có
nguyên liệu cho việc chế biến phải phát triển ngành trồng trọt.
Ngành trồng trọt cung cấp cho xã hội nhu cầu chủ yếu về lương thực cho con
người và gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, hoa quả, rau xanh cho bữa
ăn hàng ngày của con người, sản phẩm hàng hóa cho xuất khẩu và cũng chính cây
Bùi Thị Hoan Lớp: KTB2 - 08
12
mía khác.
Mặt khác trong sản xuất nông nghiệp các loại cây trồng thường tranh chấp
Bùi Thị Hoan Lớp: KTB2 - 08
13
Trường Trung cấp KTKTTM số 1 Báo cáo thực hành
lẫn nhau, không ổn định. Trồng mía sau mỗi năm mới cho thu hoạch nếu không có
chính sách hợp lý nông dân sẽ bỏ trồng mía mà chuyển trồng cây hoa màu khác như
cây ngô, khoai, sắn, cao su Thực tế ở nước ta trong nhiều năm qua một số nhà
máy do không giải quyết tốt vấn đề nguyên liệu nên sản xuất bị đình đốn, kém hiệu
quả thậm chí còn bị đóng cửa, dỡ bỏ nhà máy đi nơi khác.
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 thực dân Pháp đã xây dựng ở miền
Đông Nam Bộ hai nhà máy đường nhưng do không giải quyết tốt vấn đề nguyên
liệu hai nhà máy bị thải, bỏ.
Năm 1961 Nhà nước ta đầu tư xây dựng nhà máy đường Vạn Điểm công suất
1.000 tÊn mía/ngày. Qua bao nhiêu năm vẫn không đủ nguyên liệu cho nhà máy sản
xuất, từ năm 1962 đến 1983 trong 21 năm chỉ thu mua được 1.312.486 tÊn mía,
bình quân mỗi năm chỉ thu mua và chế biến được 62.516 tÊn mía. Trong khi đó yêu
cầu nguyên liệu của nhà máy là 160.000 tÊn/năm. Bước sang thời kỳ đổi mới xoá
bỏ bao cấp, mỗi năm nhà máy chỉ thu mua được 30.000 tÊn mía. Do không giải
quyết được nguyên liệu từ năm 1996 đến nay nhà máy đóng cửa không sản xuất và
đang có phương án dỡ bá đi nơi khác.
Tiếp đó là nhà máy đường Sông Lam - Nghệ An cũng được xây dựng năm
1961, công suất 500 tÊn mía/ngày, hàng năm yêu cầu 70.000 tÊn mía nguyên liệu
nhưng trong suốt 20 năm hoạt động, bình quân mỗi năm nhà máy chỉ thu mua và
chế biến được 32.000 tÊn, chưa đạt 50% nguyên liệu, hiệu quả sản xuất thấp.
Cũng trong bối cảnh đó nhà máy đường Việt Trì - Vĩnh Phó trong nhiều năm
sản xuất bị thua lỗ, nợ Nhà nước ngày một tăng, nguyên liệu vận chuyển về nhà
máy 2 - 3 ngày mới đủ ép một ngày, cũng do thiếu nguyên liệu.
Nhà máy đường Thanh Hóa công suất 1.500 tÊn mía/ngày hàng năm yêu cầu
từ 225.000 đến 250.000 tÊn mía để sản xuất ra 22.500 đến 25.000 tÊn đường. Được
Lúc đầu kinh tế Thanh Hóa với 4 nông trường (Vân Du, Thạch Quảng, Nông
trường 26/3, Thanh Hóa) sau nhiều năm chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi đã
không thay đổi được bộ mặt kinh tế vùng. Thậm chí bản thân các đơn vị này Nhà
nước phải bù lỗ, đồng thời cũng không làm được vai trò chủ đạo của các doanh
nghiệp Nhà nước đóng trên địa bàn lãnh thổ. Năm 1986 khi nhà máy đường Thanh
Hóa ra đời (nay là Công ty cổ phần mía đường Thanh Hoá). Sau những bước khó
khăn ban đầu nhà máy đã tìm ra những giải pháp đúng đắn, có hiệu quả, chỉ trong
vòng mÂy năm từ 1990 đến nay Công ty cổ phần mía đường Thanh Hóa đã góp
phần quan trọng làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội của cả một vùng trung du đồi
núi của tỉnh Thanh Hoá. Từ một động thái kinh tế - xã hội kém phát triển sang một
giai đoạn mới - giai đoạn tạo những tiền đề ban đầu để chuyển sang kinh tế phát
triển mà nội dung của nó là chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp chế biến gắn
với nông nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước gắn với thị trường mà tài chính tín dụng
là sợi dây chuyền xuyên suốt trong qóa trình đó - sự chuyển dịch này đã làm thay
đổi nội dung sinh hoạt toàn vùng. Từ thực tiễn vùng Thanh Hóa có thể nói rằng sự
ra đời của cơ sở công nghiệp chế biến cùng những bước tìm tòi đổi mới cơ chế quản
lý ở đây cũng chính là nội dung của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đối với nông
thôn - nông nghiệp - nông dân theo tinh thần đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
đã đề ra. Bước đi của Thanh Hóa cũng chính là bước đi thử nghiệm về công nghiệp
hoá, hiện đại hoá trong một vùng nông nghiệp lạc hậu tự cung, tự cấp, tự túc, không
lệ thuộc vào thiên nhiên. Qua đánh giá khái quát trên ta có thể xét vai trò của Công
ty cổ phần mía đường Thanh hoá đối với quá trình phát triển nông thôn, nông
nghiệp, nông dân trong vùng như sau:
Bùi Thị Hoan Lớp: KTB2 - 08
16
Trường Trung cấp KTKTTM số 1 Báo cáo thực hành
1. Giải quyết tốt mối quan hệ CN-NN-DV của vùng theo hướng Công nghiệp
hoá, hiện đại hoá.
Cơ sở công nghiệp chế biến ra đời từ một vùng nông nghiệp để tìm ra cơ chế,
hình thức kinh tế giữa công nghiệp với nông nghiệp, giữa kinh tế Nhà nước với kinh tế
Công nghiệp chế biến đường ở Thanh Hóa kèm theo chế biến cồn, rượu, bánh
kẹo, phân bón vi sinh từ bên, khí CO
2
bước đầu tạo ra thỊ phân công lao động trong
nội bộ Xí nghiệp, tạo thêm đối tượng lao động, tạo thêm công ăn việc làm cho con
em trồng mía trong vùng, thêm sản phẩm cho xã hội.
ý nghĩa của công nghiệp chế biến đường Thanh Hóa không chỉ hạn chế trong
phạm vi bao trùm là sự tác động của nó đến một vùng nông nghiệp, nông thôn đã
qua nhiều thập kû chìm đắm trong kinh tế tự cấp, tự túc lệ thuộc vào thiên nhiên.
Công nghiệp đã tìm ra phương thức kết hợp để giải phóng hoạt động kinh tế của
vùng khái lĩnh vực nông nghiệp, thuần nông lấy đất đai làm nền tảng duy nhất của
sản xuất đồng thời giải phóng sinh hoạt kinh tế khái phương thức sinh hoạt có tính
tự nhiên. Với vai trò của công nghiệp trong sự hợp tác liên kết mới nông dân trong
vùng đã coi nhà máy đường Thanh Hóa là của người trồng mía, lợi ích của họ đã
gắn bó với lợi ích của nhà máy và ngược lại. Công nghiệp đã giải phóng hoạt động
kinh tế của con người khái quan hệ trực tiếp với đất đai, tạo ra không gian mới cho
hoạt động kinh tế của vùng.
Như vậy công nghiệp xuất hiện tạo ra thỊ phân công lao động mới, kèm theo
sự chuyên môn hoá và hợp tác hoá đa dạng từ các khâu sản xuất, dịch vụ, chế biến,
tiêu thụ. ở đây hoạt động kinh tế chuyển hẳn trạng thái, chấm dứt tình trạng sinh tồn
bằng cách mỗi người tự tạo ra mọi sản phẩm để thoả mãn nhu cầu của mình. Trạng
thái kinh tế tự túc, tự cấp khép kín bị phá vỡ, biến sản phẩm mía đường thành một
cơ cấu chung, một nền sản xuất mang tính xã hội và đang trong xu thế mở rộng phát
triển đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao trong một vùng nông thôn rộng lớn.
3. Thay đổi tư duy kinh tế của cư dân trong vùng.
Công nghiệp chế biến đường hình thành trên vùng Thanh Hóa, không chỉ có
ý nghĩa là phát triển công nghiệp trong vùng nông thôn, tạo ra sự khác biệt về
phương thức kinh doanh mới đó là sự thay đổi từ cách tư duy tiểu nông sang tư duy
kinh tế hàng hoá và thị trường đó là kiểu kinh doanh theo đuổi mục tiêu gia tăng sản
phẩm xã hội, tăng thêm lợi nhuận, đồng thời cũng từng bước giúp cho con người tiếp
hoá thì mô hình tổ chức hợp tác cũng chịu sự chi phối của quá trình đó.
Thực tế xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng Thanh Hóa được thể hiện
qua bảng số liệu sau:
Bùi Thị Hoan Lớp: KTB2 - 08
19
Trường Trung cấp KTKTTM số 1 Báo cáo thực hành
Cơ cấu kinh tế vùng Thanh Hóa so với cơ cấu kinh tế của tỉnh Thanh Hóa
§VT: %
Tỉnh Thanh Hóa VïngmÝa Lam
Sơn
Huyện Thanh
Hóa
Năm 1990: 100 100 100
- Nông, Lâm, Thủy Sản 51,63 59,95 52,17
- Công nghiệp, Xây dựng 17,74 11,73 17,39
- Dịch vụ, Thương mại 30,63 28,32 30,43
Năm 1995: 100 100 100
- Nông, Lâm, Thủy Sản 45,99 54,60 43,11
- Công nghiệp, Xây dựng 20,09 14,53 24,80
- Dịch vụ, Thương mại 33,92 30,87 32,09
Với mô hình hợp tác đa thành phần, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà
nước chủ yếu là doanh nghiệp công nghiệp chế biến và ngân hàng đã làm thay đổi
nhanh chóng cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng GDP của vùng. Tình hình ở Thanh
Hóađã chứng minh rằng nếu có cơ chế đúng phù hợp với thực tiễn thì quan điểm
công nghiệp hóa nông nghiệp của Đảng sẽ được đưa vào cuộc sống. Năm 1995, giá
trị tăng thêm của công nghiệp trong vùng chiếm 9,1% tăng 2,6% so với năm 1990 .
Trong đó, quốc doanh chiếm 2,3% giảm 1% về tư lệ cơ cấu so với năm 1990. Như
vậy công nghiệp quốc doanh có vai trò rất quan trọng đến sự phát triển của vùng.
Sản xuất của Công ty cổ phần mía đường Thanh Hóa liên tục tăng và có hiệu quả.
Tính theo giá cố định năm 1989 giá trị sản lượng năm 1995 đạt 40,3 tư đồng chiếm
xã, nông trường quốc doanh, doanh nghiệp công nghiệp chế biến, được hình thành
và đi vào hoạt động, nhưng cục diện kinh tế - xã hội trong vùng vẫn không thoát
khỏi trạng thái kinh tế chậm phát triển, tự cung, tự cấp.
- ở khu vực kinh tế hợp tác xã, gần 100 hợp tác xã trong vùng chỉ là sự cộng
hợp các yếu tố đồng chất của kinh tế hộ nông dân còn lệ thuộc vào kinh tế tự nhiên.
- ở khu vực quốc doanh nông nghiệp, 3 nông trường quốc doanh vẫn chưa tạo ra
Bùi Thị Hoan Lớp: KTB2 - 08
21
Trường Trung cấp KTKTTM số 1 Báo cáo thực hành
được điều kiện để phát triển sản xuất tự nuôi sống mình mà vẫn phải trông chờ vào ngân
sách nhà nước, do đó không phát huy được vai trò chủ đạo đối với vùng.
- Quốc doanh công nghiệp ra đời, nhưng do chưa tạo đủ điều kiện để tác
động đến kinh tế hộ nông dân, lại chưa tạo ra quan hệ kinh tế gắn bó lợi ích nông
dân với lợi ích nhà máy, nên đã kéo dài tình trạng thiếu nguyên liệu và đứng trước
nguy cơ thua lỗ.
Nhìn lại thực trạng vùng Thanh Hóa trước năm 1990 có thể rót ra nhận xét
sau đây: Nếu không tạo lập được hình thức tổ chức và cơ chế quản lý phù hợp thì
dẫu đầu tư lớn vẫn không tạo ra được động lực làm thay đổi cục diện kinh tế - xã
hội trên vùng. Từ đó có thể kết luận rằng tăng cường đầu tư phải đi liền với đổi mới
mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn, gắn
kinh tế nhà nước với kinh tế hộ nông dân, tạo ra động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội
vùng phát triển toàn diện.
2. Qóa trình chuyển đổi Công ty.
Năm 1993 nhà nước cho phép nhà máy đường Thanh Hóa chuyển đổi thành
Công ty cổ phần mía đường Thanh Hoá. (Công ty mía đường Thanh Hóa là một
doanh nghiệp Nhà nước được thành lập theo thông báo số 01 TB ngày 04/01/1993
của Thủ tướng Chính phủ và quyết định số 11 NN-TCCB ngày 08/01/1994 của Bộ
trưởng Bộ NN&PTNT).
- Ngành nghề kinh doanh chủ yếu:
+ Công nghệ đường mật bánh kẹo.
mía đường Thanh Hoá. Công ty cổ phần mía đường Thanh Hóa kinh doanh các
ngành nghề sau:
- Công nghiệp đường, bánh kẹo, cồn, nha.
- Công nghiệp nước uống có cồn và không có cồn.
- Công nghiệp chế biến các sản phẩm sau đường.
- Công nghiệp chế biến nông, lâm sản.
- Công nghiệp chế bến thức ăn gia súc.
- Các dịch vụ: Vận tải, cơ khí, cung ứng vật tư, nguyên liệu và tiêu thụ sản
phẩm, sản xuất và cung ứng giống cây, giống con.
- Các ngành nghề khác phù hợp với pháp luật quy định.
1- Vốn điều lệ: 150 tư đồng.
Trong đó:
- Tư lệ phần Nhà nước 46% vốn điều lệ.
- Tư lệ phần bán cho người lao động trong doanh nghiệp 24% vè điều lệ.
Bùi Thị Hoan Lớp: KTB2 - 08
23
Trường Trung cấp KTKTTM số 1 Báo cáo thực hành
- Tư lệ phần bán cho người lao động trồng và bán mía cho doanh nghiệp là
26% vốn điều lệ.
- Tư lệ bán cho các đối tượng ngoài doanh nghiệp 4% vốn điều lệ.
2- Giá trị thực tế của Công ty cổ phần mía đường Thanh Hóa để cổ phần hoá
là 665.559.000.000 đồng (Sáu trăm sáu nhăm tư, năm trăm năm chín triệu đồng).
3- Ưu đãi cho người lao động:
Tổng số cổ phần ưu đãi cho người lao động: 614.456 cổ phần, trong đó:
- Số cổ phần ưu đãi cho người lao động trong doanh nghiệp: 214.465 cổ phần.
- Số cổ phần ưu đãi cho người lao động trồng và bán mía cho doanh nghiệp:
400.000 cổ phần.
- Toàn bộ giá trị được ưu đãi: 18.433.950.000 ®ång.
4. Doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá được sử dụng tiền bán cổ phần như sau:
Đào tạo và đào tạo lại cho người lao động: 228.400.000 đồng.
- Cao đẳng: 71 ngêi
- Trung cấp: 192 ngêi
- Thợ bậc cao: 137 ngêi (bËc 5 trë lªn)
- Ngoại ngữ: 37 ngêi
- Tin học: 50 ngêi
b) Sơ đồ bộ máy Công ty cổ phần mía đường Thanh Hóa
Sơ đồ bộ máy quản lý của công ty
Qua sơ đồ trên ta có một vài nhận xét như sau:
Bộ máy quản lý của công ty cổ phần mía đường thanh hóa có kết cấu rất chặt
chẽ, các phòng ban hoạt động nhịp nhàng ăn ý với nhau, cùng hỗ trợ cho nhau hoạt
Bùi Thị Hoan Lớp: KTB2 - 08
25
Ban giám đốc
Phòng giám đốc phụ
trách kỹ thuật
Phòng giám đốc phụ
trách kinh doanh
Phòng
tổ
chức
hành
chính
Phòng
kế
hoạch
nghiệp
vụ
Phòng
kế
toán