tiểu luận thực trạng giải pháp về ô nhiễm môi trường - Pdf 27

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KĨ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHAN THÀNH VINH
MSSV:13146268
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG
HƯỚNG GIẢI QUYẾT
TIỂU LUẬN BỘ MÔN XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn:Thạc sĩ Tạ Minh
Lời cảm ơn
Trước hết , em xin cảm ơn thầy Tạ Minh đã tạo điều kiện và
hướng dẫn để em làm bài tiểu luận này.Xin cảm cảm ơn bạn bè ,
gia đình và nhà trường đã tích cực giúp đỡ để em được hoàn
thành bài tiểu luận này một cách tốt nhất. Bài tiểu luận đã cung
cấp cho em những kiến thức cần thiết về môi trường, ô nhiễm
môi trường và thực trạng cấp bách của việc bảo vệ môi trường
.Vì lần đầu làm tiểu luận không thể tránh khỏi những sai sót
,khính xin thầy và các bạn thông cảm bỏ qua.
Tiểu luận có sử dụng một số tài liệu tham khảo sau:
- />-www.google.com/imghp?hl=vi
-vietsciences.free.fr
-Và một số tài liệu khác
Mục lục
PHẦN 1: MÔI TRƯỜNG VÀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
1.1.Môi trường là gì ?
1.2.Vai trò của môi trường
1.3.Ô nhiễm môi trường là gì ?
1.4.Các dạng ô nhiễm môi trường chính và tác hại
1.4.1 Ô nhiễm không khí
1.4.2 Ô nhiễm nước
1.4.3 Ô nhiễm môi trường đất
1.4.4 Ô nhiễm tiếng ồn.

bằng các luật lệ, thể chế, cam kết, quy định…
Ngoài ra có thể phân biệt thêm: môi trường nhân tạo, môi trường nhà trường (bao
gồm không gian trường, cơ sở vật chất trong trường như lớp học, phòng thí nghiệm,
sân chơi, vườn trường, thầy – trò, nội quy nhà trường, các quy định hoạt động của
các tổ chức trong nhà trường…); môi trường gia đình,. . .
Môi trường gồm nhiều thành phần chủ yếu như: Thủy quyển, thạch quyển, khí
quyển và sinh quyển.
1.2.Vai trò của môi trường
Môi trường có vai trò cực kỳ quan trọng đối với đời sống của con người. Môi
trường không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển mà còn là nơi lao động,
hưởng thụ và trau dồi những nét đẹp văn hóa thẩm mỹ.
Môi trường có 4 chức năng cơ bản:
a. Môi trường là không gian sinh sống cho con người và các thế hệ động – thực
vật.
b. Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và
sản xuất của con người.
c. Môi trường là nơi chứa đựng các chất thải của đời sống và sản xuất.
d. Môi trường là lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.
1.3.Ô nhiễm môi trường là gì ?
Ô nhiễm môi trường là tình trạng môi trường bị ô nhiễm bởi các chất hóa học ,
sinh học, bức xạ, tiếng ồn, gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và các cơ thể
sống khác. Ô nhiễm môi trường xảy ra là do con người và cách quản lý của con
người.
1.4.Các dạng ô nhiễm môi trường chính và tác hại
1.4.1 Ô nhiễm không khí
Ô nhiễm không khí là sự có mặt một vài chất lạ hoặc một vài sự biến đổi quan
trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự tỏa
mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa do bụi.
Hiện nay, ô nhiễm khí quyển là vấn đề thời sự nóng bỏng của cả thế giới chứ
không phải riêng của một quốc gia nào. Môi trường khí quyển đang có nhiều biến

Ô nhiễm môi trường đất là hậu quả các hoạt động của con người lam thay đổi các
nhân tố sinh thái vưot qua những giới hạn sinh thái của các quần xã sống trong đất.
Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật cạn, là nền
móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và văn hóa của con
người. Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người sử dụng tài nguyên đất vào
hoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo nguồn cung cấp lương thực thực phẩm
cho con người.
Với nhịp độ gia tăng dân số và tốc độ phát triển công nghiệp và hoạt động đô thị
hóa như hiện nay thì diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, chất lượng đất
ngày càng bị suy thoái, diện tích đất bình quân đầu người giảm. Riêng chỉ với ở
Việt Nam, thực tế suy thoái tài nguyên đất là rất đáng lo ngại.
1.4.4 Ô nhiễm tiếng ồn.
Ô nhiễm môi trường do tiếng ồn - tập hợp những âm thanh tạp loạn có tần số và
chu kì khác nhau, hay nói cách khác tiếng ồn là những âm thanh chói tai phát sinh
từ những nguồn chấn động không tuần hoàn.
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta đều bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn phát ra từ
các phương tiện giao thông, từ các hoạt động sản xuất như xây dựng. . . hoặc từ các
hoạt động khác như máy giặt, máy hát, catset, karaoke, vv. Tiếng ồn đã trở nên quá
đỗi quen thuộc. Nó quen thuộc bởi chúng ta buộc phải quen và đã quen với nó, tới
mức mà người ta đã quên mất sự nguy hại của nó đối với sức khỏe của mình: Chúng
ta đều nhận biết được sự ồn ào tại các quán ăn, siêu thị, sân trường hay ở ngoài
đường. . . nhưng có lẽ nhiều người trong số chúng ta lại quên rằng cường độ âm
thanh tại những nơi này đều vượt quá mức cho phép và gây hại tới sức khỏe. Tiếng
ồn xuất hiện mọi lúc, mọi nơi khiến có những lúc chúng ta tưởng rằng mình đang
thư giãn, thoát khỏi cuộc sống ồn ào nhưng lại không phải thế.
Sống và làm việc trong môi trường ồn (ở các nhà máy, xưởng cơ khí, hầm mỏ. . .
) sức khoẻ bị ảnh hưởng, phát sinh các bệnh nghề nghiệp (ù tai, điếc. . . ) hay ảnh
hưởng không tốt đến hệ thần kinh, vv.
1.4.5 Các dạng ô nhiễm khác
Ô nhiễm ánh sáng,hiện nay con người đã sử dụng các thiết bị chiếu sáng một

với thảm hoạ về môi trường. Họ phải sống chung với khói bụi, uống nước từ nguồn
ô nhiễm chất thải công nghiệp Từ đó, gây bất bình, dẫn đến những phản ứng, đấu
tranh quyết liệt của người dân đối với những hoạt động gây ô nhiễm môi trường, có
khi bùng phát thành các xung đột xã hội gay gắt.
Khói bụi của một khu công nghiệp
Nước thải ra sông Thị Vải của công ty Vedan
Cùng với sự ra đời ồ ạt các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề thủ công
truyền thống cũng có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Việc phát triển các làng
nghề có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết việc
làm ở các địa phương. Tuy nhiên, hậu quả về môi trường do các hoạt động sản xuất
làng nghề đưa lại cũng ngày càng nghiêm trọng. Tình trạng ô nhiễm không khí, chủ
yếu là do nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là than, lượng bụi và khí CO, CO
2
,
SO
2
và Nox thải ra trong quá trình sản xuất khá cao. Theo thống kê của Hiệp hội
Làng nghề Việt Nam, hiện nay cả nước có 2.790 làng nghề, trong đó có 240 làng
nghề truyền thống, đang giải quyết việc làm cho khoảng 11 triệu lao động, bao gồm
cả lao động thường xuyên và lao động không thường xuyên. Các làng nghề được
phân bố rộng khắp cả nước, trong đó các khu vực tập trung phát triển nhất là đồng
bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Tây Bắc Bộ, đồng bằng sông Cửu Long. Hoạt
động gây ô nhiễm môi trường sinh thái tại các làng nghề không chỉ ảnh hưởng trực
tiếp đến cuộc sống, sinh hoạt và sức khoẻ của những người dân làng nghề mà còn
ảnh hưởng đến cả những người dân sống ở vùng lân cận, gây phản ứng quyết liệt
của bộ phận dân cư này, làm nảy sinh các xung đột xã hội gay gắt.
Ô nhiễm từ các làng nghề làm gạch thủ công
Bên cạnh các khu công nghiệp và các làng nghề gây ô nhiễm môi trường, tại các
đô thị lớn, tình trạng ô nhiễm cũng ở mức báo động. Đó là các ô nhiễm về nước
thải, rác thải sinh hoạt, rác thải y tế, không khí, tiếng ồn Những năm gần đây, dân

trọng. Ở đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ, hàng trăm ngàn ha đất màu mở đã bị nhiễm
mặn và nhiễm phèn. Ðất còn bị xói lở các vùng dân cư ven sông, ven biển. Ngoài ra
đất còn bị suy thoái hoặc ô nhiễm do khai thác nông nghiệp qúa đáng, không bù đắp
đủ số chất khoáng lấy đi qua nông sản. Việc dùng phân tươi để bón ruộng hay việc
dùng các chất độc hại làm ô nhiễm đất.
2.2.2. Sự suy thoái rừng
Rừng nước ta bị giảm sút nghiêm trọng về số lượng cũng như chất lượng. Từ hơn
14 triệu ha (44% diện tích) năm 1945, hiện nay chỉ còn khoảng 20-28% diện tích
đất còn rừng. Trong đó rừng giàu, tốt chỉ chiếm dưới 10%, rừng trung bình 23%,
còn lại là rừng nghèo và mới phục hồi. Rừng còn tiếp tục bị suy thoái nếu không có
biện pháp hữu hiệu thì trong vài thập kỷ tới nước ta sẽ không còn rừng
2.2.3. Suy thoái và ô nhiễm nước
Vào mùa khô, nhiều vùng bị thiếu nước trầm trọng (Ðồng Văn, Lai Châu ) Hạn
hán kéo dài trong năm 1993 và 1994 tại nhiều tỉnh Trung Bộ, đặc biệt là Quảng Trị
gây thiệt hại nghiêm trọng. Ngược lại mùa mưa, xuất hiện nhiều cơn lũ đặc biệt lớn,
lũ các dòng sông lên cao kéo dài nhiều ngày gây úng ngập, làm thiệt hại nghiêm
trọng đến người và tài sản.
Ô nhiễm nước mặt ngày càng phát triển do chất thải công nghiệp, nông nghiệp, giao
thông vận tải thủy bộ, khu dân cư và sự rửa trôi trên các bề mặt sông suối.
Nước ngầm ngày càng sử dụng nhiều. Nhưng do không quản lý tốt, sử dụng quá
mức nên suy thoái về lượng và chất. Từ đó nước mặn xâm nhập nhiều nơi, cùng lớp
nước thải sinh hoạt, công nghiệp, gây lún đất, nước ngầm không đủ hay không còn
sử dụng được.
2.2.4. Suy thoái và ô nhiễm không khí
Môi trường không khí ở các đô thị, khu công nghiệp và các vùng sản xuất bị suy
thoái ảnh hưởng đến sức khỏe người dân. Ô nhiễm không khí là do các hóa chất độc
trong sản xuất công nghiệp (chì, benzen, clor ), trong nông nghiệp (nông dược) và
sinh hoạt (chật chội, đông đúc, nhà ổ chuột).
2.2.5. Suy thoái và ô nhiễm môi trường biển
Việt Nam có 3260 km bờ biển và trên 3000 đảo với các vùng đặc quyền kinh tế

Việc sử dụng nông dược tràn lan còn làm giảm đa dạng sinh học.
PHẦN 3: PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Ô
NHIỄM MÔI TRƯỜNG
3.1. Dân số
Dân số nước ta gia tăng quá nhanh với tỉ lệ gia tăng hằng năm là 2,1%, cao hơn
mức trung bình toàn thế giới (1,7%). Mỗi năm có thêm 1,5 triệu nhân khẩu. Ðiều
này gây một áp lực thực sự to lớn cho vấn đề sản xuất lương thực, tài nguyên và
môi trường. Cho nên, nhất thiết phải giảm đà gia tăng dân số để trong vài thập niên
tới dân số có thể đạt được mức ổn định.
3.2. Sản xuất lương thực
Trong 50 năm qua, nông nghiệp nước ta phát triển chậm về sản lượng lương thực,
năng suất cây trồng và bình quân lương thực tính theo đầu người còn ở khoảng hơn
300 kg, tức còn rất thấp, và là mối đe dọa thường xuyên của mọi người dẫn những
hành vi phá hoại môi trường
Cho nên trong thời gian tới, cần gia tăng sản lượng lương thực bằng cách giải
phóng sức sản xuất nông nghiệp, khai thác và sử dụng hợp lý tiềm năng đất đai, sức
lao động, vốn và kinh nghiệm sản xuất của nông dân.
Cần cân nhắc kỷ việc khai khẩn đất mới, phá rừng trồng lúa, sao cho có hiệu quả
kinh tế đồng thời bảo vệ môi trường.
3.3. Trồng rừng và bảo vệ sinh học
Trong mấy chục năm qua, rừng và đa dạng sinh học của nước ta bị tàn phá
nghiêm trọng. Năm 1943, rừng che phủ 44% tổng diện tích, đến nay chỉ còn 20 đến
28% tức là rất thấp so với mức an toàn sinh thái (bằng hay trên 1/3 tổng diện tích).
Hàng năm có từ 160-200 ngàn ha rừng bị mất đi. Rừng bị mất kéo theo sự giảm đa
dạng sinh học vốn rất phong phú và đa dạng. Nhiều loài đã và đang bị tuyệt chủng.
Trong 4 thập niên qua, có ít nhất là 200 loài chim và 120 loài thú bị diệt vong (Báo
cáo của CHXHCNVN, 1992).
Biện pháp bảo vệ rừng và đa dạng sinh học là cấp thiết sống còn của đất nước.
Chúng ta cần thực hiện các biện pháp trước mắt và lâu dài như sau:
- Cấm phá rừng nguyên sinh, rừng đầu nguồn.

- Xây dựng hệ thống quan trắc (monitoring system) quốc gia.
- Ðẩy mạnh nghiên cứu về môi trường nhằm giải quyết các vấn đề cấp bách, đồng
thời hướng tới việc phát triển bền vững.
- Tăng cường hợp tác quốc tế và khu vực trong việc bảo vệ và qui hoạch môi
trường.
3.6. Tăng cường các biện pháp hỗ trợ : giáo dục, đào tạo
- Nâng cao dân trí tổng quát và cải thiện điều kiện sống của quần chúng.
- Ðưa chương trình giáo dục về môi trường, tình yêu thiên nhiên vào các lớp học
chính khóa và ngoại khóa (du khảo, tham quan).
- Sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng.
- Ðào tạo đội ngũ cán bộ có kiến thức cơ bản về khoa học môi trường và có khả
năng đề xuất các ý kiến xử lý và bảo vệ môi trường.
Tất cả chương trình hành động trên có thể làm cơ sở để chúng ta phát triển, đồng
thời sử dụng và bảo vệ tài nguyên và môi trường của mỗi địa phương, quốc gia và
góp phần bảo vệ trái đất, cái nôi của sự sống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status