Giải pháp chống ô nhiễm môi trường không khí nhằm mục tiêu Phát Triển Bền Vững thị xã Uông Bí tỉnh Quảng Ninh - Pdf 30

Giải pháp chống ô nhiễm môi trường không
khí nhằm mục tiêu Phát Triển Bền Vững thị xã
Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.Danh mục các chữ viết tắt
BVMT: Bảo vệ môi trường
GĐ: Giai đoạn
GEF: Quỹ môi trường toàn cầu
KHCN: Khoa học công nghệ
KT- XH: Kinh tế - xã hội
HĐ: Hoạt động
PTBV: Phát triển bền vững
QH: Quy hoạch
TCCP: Tiêu chuẩn cho phép
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
UBND: Uỷ ban nhân dân
WCED: U ỷ ban môi trường và phát triển thế giới
Danh mục bảng, biểu và mô hình
1. Mô hình Phát triển bền vững
2. Danh mục các khoáng sản thị xã Uông Bí
3. Dự tính lượng bụi thải ra của một số hoạt động chính của Th ị xã
Uông Bí.
4. Dự báo lượng khí thải của một số hoạt động trên địa bàn thị xã Uông

5. Ước tính tổng lượng chất thải gây ô nhiễm không khí Uông Bí.
Lời mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển nhanh chóng về kinh tế thì các nước đang phát triển
ngày nay đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra khá trầm
trọng. Thực tế cho thấy là nhiều nước đang phát triển đã thực sự bị dồn vào thế

tiêu phát triển bền vững của Uông Bí, đô thị phía tây tỉnh Quảng Ninh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là môi trường không khí thị xã _một bộ
phận quan trọng và còn nhiều yếu kém trong cực môi trường của quá trình phát
triển bền vững Uông Bí. Đối tượng nghiên cứu cụ thể bao gồm: thực trạng môi
trường không khí và công tác bảo vệ môi trường không khí Uông Bí thời gian qua.
Trong phạm vi của đề tài không nghiên cứu tất cả vấn đề môi trường mà chỉ
tập trung vào môi trường không khí, một bộ phận môi trường có tình trạng ô nhiễm
nổi cộm nhất hiện nay tại Uông Bí.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài sử dụng phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh và
phương pháp thống kê….trên cơ sở lý thuyết đã được học và đặc biệt là thu thập số
liệu thống kê tại cơ quan thực tập bao gồm các bản quy hoạch, báo cáo, Nghị
quyết, Nghị định của Chính Phủ, Bộ kế hoạch & đầu tư, Sở tài nguyên và môi
trường Quảng Ninh …
5. Kết cấu của đề tài.
Bố cục đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Sự cần thiết của vấn đề chống ô nhiễm môi trường không khí thị
xã Uông Bí.
Chương 2: Thực trạng môi trường không khí, quản lý và bảo vệ môi trường
không khí thị xã Uông Bí.
Chương 3: Một số giải pháp chống ô nhiễm môi trường nhằm mục tiêu phát
triển bền vững thị xã Uông Bí.
CHƯƠNG I. SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ CHỐNG Ô NHIỄM MÔI
TRƯỜNG KHÔNG KHÍ THỊ XÃ UÔNG BÍ
1.1. Ô nhiễm môi trường không khí với yêu cầu phát triển bền vững
1.1.1. Yêu cầu phát triển bền vững (PTBV)
Phát triển bền vững là một khái niệm được nảy sinh từ sau cuộc khủng hoảng
môi trường và ngày càng trở thành trung tâm của sự phát triển trong mọi lĩnh vực
khi xã hội bước vào thế kỉ 21. Tuy nhiên cho đến nay chưa có một định nghĩa nào

Phát triển bền vững chính là trung tâm, là sự hài hoà của các giá trị kinh tế -
xã hội - môi trường… trong quá trình phát triển. Mỗi mục tiêu phát triển kinh tế,
xã hội hay môi trường có vị trí riêng song nó được gắn liền với các mục tiêu còn
lại. Sự hoà nhập hài hoà hữu cơ này tạo nên sự phát triển tối ưu cho cả nhu cầu
hiện tại và tương lai vì xã hội loài người.
Trong những năm qua ở nước ta cũng như nhiều nước đang phát triển khác
nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên đã bị khai thác cạn kiệt, sử dụng lãng phí và
kém hiệu quả. Các nước đang phát triển chiếm ½ diện tích lục địa nhưng lại là nơi
sinh sống của ¾ dân số thế giới, đây cũng là khu vực rất giàu tài nguyên thiên
nhiên nhất là tài nguyên khoáng sản – cơ sở nguyên liệu, nhiên liệu, năng lượng để
phát triển công nghiệp. Việc khai thác và chế biến khoáng sản có vị trí đặc biệt
quan trọng trong nền kinh tế ở các nước đang phát triển, đó là nguồn xuất khẩu chủ
yếu để thu ngoại tệ. Việc khai thác các mỏ khoảng sản mà không chú trọng đến các
biện pháp bảo vệ môi trường ở hầu hết các nước này đã làm cho nguồn nước, đất,
không khí, sinh vật ở các khu vực có tài nguyên bị phá hoại trầm trọng.
BỀN VỮNG
KINH TẾ
BỀN VỮNG
MÔI TRƯỜNG
BỀN VỮNG
XÃ HỘI
PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG
Một trong những lý do dẫn đến PTBV trở thành một viễn cảnh “xa vời” của
các nước đang phát triển như Việt Nam là do hệ thống chính sách và công cụ pháp
luật chưa đồng bộ để có thể kết hợp hiệu quả giữa 3 mặt của sự phát triển bền
vững: kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình
trạng này nhưng có thể nói sự yếu kém về năng lực và hạn chế về kinh nghiệm của
bộ máy lập pháp, hành pháp là một nguyên nhân chủ quan quan trọng. Cần khắc
phục nhanh chóng điểm yếu này trong giai đoạn phát triển tiếp theo nếu các nước

liệu, vật tư, thiết bị máy móc, đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật, sức lao động của con
người để tạo ra sản phẩm hàng hóa. Các hoạt động sống cũng vậy, con người cũng
cần có không khí để thở, cần có nhà để ở, cần có phương tiện để đi lại, cần có chỗ
vui chơi giải trí, học tập nâng cao hiểu biết… Những cái đó không gì khác là các
yếu tố môi trường. Như vậy, chính các yếu tố môi trường là “đầu vào” của quá
trình sản xuất và các hoạt động sống của con người. Hay nói cách khác môi trường
là “đầu vào” của sản xuất và đời sống.
Ngược lại, môi trường tự nhiên cũng lại là nơi chứa đựng, đồng hóa “đầu ra”
các chất thải của các quá trình hoạt động sản xuất và đời sống. Quá trình sản xuất
thải ra môi trường rất nhiều chất thải (bụi, khí thải, nước thải, chất thải rắn). Trong
các chất thải này có thể có rất nhiều loại độc hại làm ô nhiễm, suy thoái, hoặc gây
ra các sự cố về môi trường. Quá trình sinh hoạt, tiêu dùng của xã hội loài người
cũng thải ra môi trường rất nhiều chất thải. Những chất thải này nếu không được
xử lý tốt cũng sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Như vậy muốn môi
trường bền vững thì phải làm thế nào để hạn chế được nhiều nhất các chất thải, đặc
biệt là chất thải gây ô nhiễm, tác động tiêu cực đối với môi trường.
Thứ hai, môi trường liên quan đến tính ổn định và bền vững của sự phát triển
KT-XH.
Phát triển KT-XH là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh
thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội,
nâng cao chất lượng văn hóa. Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân cũng như
của cả loài người trong quá trình sống. Giữa môi trường và sự phát triển có mối
quan hệ chặt chẽ: môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát
triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường.
Trong hệ thống KT-XH, hàng hóa được di chuyển từ sản xuất đến lưu thông,
phân phối và tiêu dùng cùng với dòng luân chuyển của nguyên liệu, năng lượng,
sản phẩm, chất thải. Các thành phần đó luôn luôn tương tác với các thành phần tự
nhiên và xã hội của hệ thống môi trường đang tồn tại trong địa bàn đó. Tác động
của con người đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi trường tự
nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho quá trình cải tạo đó, nhưng cũng có thể gây

an ninh quốc phòng, giữ vững độc lập chủ quyền của dân tộc. Điều đó lại tạo điều
kiện ổn định chính trị xã hội để KT-XH phát triển. BVMT là việc làm không chỉ có
ý nghĩa hiện tại, mà quan trọng hơn, cao cả hơn là nó có ý nghĩa cho tương lai. Nếu
một sự phát triển mang lại những lợi ích kinh tế trước mắt mà khai thác cạn kiệt tài
nguyên thiên nhiên, hủy hoại môi trường, làm cho các thế hệ sau không còn điều
kiện để phát triển mọi mặt thì sự phát triển đó không được gọi là bền vững. Thế hệ
hôm nay không quan tâm tới, không làm tốt công tác BVMT, làm cho môi trường
bị hủy hoại thì các thế hệ trong tương lai chắc chắn sẽ phải gánh chịu những hậu
quả do môi trường mang lại.
1.1.3. Ô nhiễm môi trường không khí, yếu tố ảnh hưởng đến bền vững môi
trường.
1.1.3.1. Ô nhiễm môi trường
Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất lương
thực và tái tạo môi trường. Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết
cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại không
gian khác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới. Việc khai
thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên đã làm cho môi
trường bị phá vỡ sự cân bằng và khả năng tự phục hồi vốn có của nó. Ô nhiễm môi
trường chính là tình trạng môi trường bị ô nhiễm bởi các chất hóa học, sinh học...
Gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, các cơ thể sống khác.
Có rất nhiều hình thức ô nhiễm môi trường là: ô nhiễm không khí, ô nhiễm
nước, ô nhiễm đất, ô nhiễm phóng xạ, ô nhiễm sóng… Ô nhiễm không khí chính
là một dạng của ô nhiễm môi trường, là một hình thức ô nhiễm rất phổ biến và có
tác hại nghiêm trọng đối với cuộc sống của con người. Trong số các loại ô nhiễm
môi trường thì ô nhiễm không khí là dễ lan truyền nhất, chỉ một lượng nhỏ khí thải
độc hại được thải vào bầu không khí thì sẽ được lan truyền đi rất nhanh, tác hại trở
nên rất khó kiểm soát. Ô nhiễm không khí đặc biệt do tác động xấu của con người
trong khai thác tự nhiên cũng đã kéo theo rất nhiều những tác động nghiêm trọng
khác nữa đối với đời sống của chính con người.
1.1.3.2. Ô nhiễm không khí và các yếu tố ảnh hưởng.

Có 2 nguồn gốc chính gây ô nhiễm môi trường không khí là nguồn tự nhiên
và nguồn nhân tạo.
Nguồn tự nhiên: do các hoạt động như núi lửa, cháy rừng, bão bụi, và các quá
trình phân huỷ, thối rữa xác động, thực vật tự nhiên gây nên.
Nguồn nhân tạo: nguồn gây ô nhiễm nhân tạo rất đa dạng, nhưng chủ yếu là
do hoạt động công nghiệp, đốt cháy nhiên liệu hoá thạch và hoạt động của các
phương tiện giao thông. Nguồn ô nhiễm công nghiệp do hai quá trình sản xuất gây
ra:
Quá trình đốt nhiên liệu thải ra rất nhiều khí độc đi qua các ống khói của các
nhà máy vào không khí.
Do bốc hơi, rò rỉ, thất thoát trên dây chuyền sản xuất sản phẩm và trên các
đường ống dẫn tải. Nguồn thải của quá trình sản xuất này cũng có thể được hút và
thổi ra ngoài bằng hệ thống thông gió.
Các ngành công nghiệp chủ yếu gây ô nhiễm không khí bao gồm: khai thác
khoáng sản, nhiệt điện; vật liệu xây dựng; hoá chất và phân bón; dệt và giấy; luyện
kim; thực phẩm; các xí nghiệp cơ khí; các nhà máy thuộc ngành công nghiệp nhẹ;
giao thông vận tải; bên cạnh đó phải kể đến sinh hoạt của con người.
1.2. Sự cần thiết chống ô nhiễm môi trường không khí ở thị xã Uông Bí.
1.2.1. Giới thiệu chung về thị xã Uông Bí.
Uông Bí là thị xã nằm ở phía tây nam của tỉnh Quảng Ninh trên trục đường
quốc lộ 18A, cách Hà Nội 120km, Hải Phòng 29km và cách thành phố Hạ Long
40km về phía tây. Thị xã Uông Bí nằm trên trục đường tam giác tăng trưởng kinh
tế trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc: Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh; là
đầu mối giao lưu giữa 3 tuyến đường giao thông chính:
Đường 18A nối Hà Nội (trung tâm hành chính, văn hoá, giáo dục, trung tâm
công nghiệp, thương mại, dịch vụ, giao lưu quốc tế của cả nước) với Hạ Long
(trung tâm du lịch, cảng biển, công nghiệp than điện, giao lưu quốc tế).
Đường 10 qua Hải Phòng (trung tâm du lịch, cảng biển, công nghiệp), Ninh
Bình, Nam Định, Thái Bình với Quảng Ninh (Uông Bí).
Đường 18B đang trong giai đoạn xây dựng (có đoạn qua Uông Bí) sẽ là tuyển

Stt Tên khoáng
sản
Trữ lượng Địa danh
1 Than đá 690 triệu tấn Uông Bí
2 Đá vôi 28 – 30 triệu
tấn
Xã Phương
Nam
3 Đá sét 595.000 tấn Bãi Sỏi
(Nguồn: Thuyết minh điều chỉnh QH chung thị xã Uông Bí tỉnh QN đến2020)
Chính vì vậy cơ cấu kinh tế của thị xã được hình thành tập trung vào các
ngành công nghiệp (khai thác chế biến than và sản xuất điện, vật liệu xây dựng),
du lịch. Công nghiệp là ngành sản xuất chính trên địa bàn thị xã và đã có sự phát
triển khá mạnh. Tuy nhiên sự phát triển công nghiệp như hiện nay vẫn chưa tương
xứng với tiềm năng của thị xã. Cơ cấu công nghiệp thiên về công nghiệp khai
khoáng, năng suất lao động còn khá thấp đây lại là những ngành gây nên tình trạng
ô nhiễm môi trường nghiêm trọng của Uông Bí. Các sản phẩm công nghiệp đóng
góp vào thu nhập của Uông Bí bao gồm than, điện và một số sản phẩm chế biến,
trong đó công nghiệp khai thác chiếm 52,9% tổng giá trị sản xuất ngành công
nghiệp, công nghiệp chế biến chiếm17,4%. Điều này đã đặt Uông Bí trước thách
thức rất lớn trong việc vừa phải duy trì phát triển kinh tế, xã hội vừa phải bảo đảm
về vần đề môi trường trong việc theo đuổi mục tiêu PTBV.
Thị xã Uông Bí còn là trung tâm giáo dục, đào tạo nghề của tỉnh. Hiện nay
trên địa bàn có 3 trường cao đẳng, 3 trường trung học chuyên nghiệp, 1 trường kỹ
thuật quân sự. Hàng năm đào tạo hơn 14.000 người có trình độ đại học, cao đẳng,
trung học.
Do đặc thù về vì trí địa lý Uông Bí hầu như có đủ các loại hình giao thông
bao gồm: đường bộ, đường sắt, đường thuỷ với một số cảng sông quan trọng. Hệ
thống đường sắt và đường bộ có nhiều điểm giao cắt với đô thị gây ách tắc không
an toàn nhất là những khi có xe, tàu than chạy qua. Ngoại trừ quốc lộ 18A có chất

dựng, giao thông, đặc biệt là ô nhiễm do bụi ở các khu vực nội thị, ven đô.
QH tuyến thu gom, bãi chôn lấp và xử lý chất thải rắn; quản lý chất thải rắn
và chất thải nguy hại thông qua triển khai, phổ biến các mô hình phân loại rác thải
tại nguồn, giảm thiểu, tái chế và sử dụng chất thải và thực hiện quản lý, lưu giữ,
chôn lấp chất thải đúng quy định.
Cải tạo và xây dựng mới hệ thống thoát nước thải, tập trung chỉ đạo xử lý ô
nhiễm nguồn nước, cải thiện môi trường nước ở các lưu vực sông.
Sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững tài nguyên thiên nhiên, giữ cân bằng
sinh thái; bảo vệ và phát huy đa dạng sinh học, các di sản văn hoá được bảo tồn và
tôn tạo.
1.2.2.2. Yêu cầu bảo về môi trường không khí trong chiến lược PTBV thị xã.
Mục tiêu chống ô nhiễm môi trường là một trong 3 mục tiêu lớn, luôn được
đặt ngang hàng với các mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội của thị xã trong những
năm qua.
Đối với môi trường không khí thì vấn đề lại càng trở nên quan trọng bởi lẽ
không khí chính là yếu tố quan trong hàng đầu đối với sức khoẻ của con người. Tất
cả các mục tiêu, chiến lược hay kế hoạch phát triển đều nhằm hướng tới mục tiêu
cuối cùng là phát triển toàn diện con người. Con người chính là chủ thể động thời
cũng là đối tượng tác động của các quá trình phát triển. Vì vậy, đảm bảo sức khoẻ
cho con người cũng chính là yêu cầu đầu tiên để tiến hành các hoạt động kinh tế xã
hội, thúc đẩy sự phát triển không ngừng của loài người. Con người có khoẻ mạnh,
trí tuệ sáng suốt, tâm lý thoải mái thì lao động mới đạt được hiệu quả cao.
Môi trường không khí không được trong lành không những tác động đến
mục tiêu về môi trường mà nó còn gián tiếp tác động đến mục tiêu kinh tế và xã
hội. Môi trường sống và làm việc của con người mà tối thiểu là môi trường không
khí không trong lành sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ của người lao động, gián tiếp làm
giảm năng suất lao động ảnh hưởng tới mục tiêu các phát triển kinh tế. Du lịch
cũng được xác định là một ngành kinh tế mũi nhọn của thị xã, nếu cảnh quan môi
trường và bầu không khí bị ô nhiễm thì thế mạnh này sẽ cũng không thể phát triển
được. Không những thế, môi trường không khí bị ô nhiễm còn là nguyên nhân làm

máy nhiệt điện, và hàng loạt các nhà máy có sử dụng than làm nguyên liệu đốt vì
vậy khối lượng vận chuyển và bốc dỡ than ngày càng nhiều. Đồng nghĩa với nó là
sự gia tăng lượng khí thải vào bầu không khí của thị xã.
1.2.3.2. Hoạt động của các nhà máy nhiệt điện
Uông Bí hiện có 2 nhà máy nhiệt điện do được xây dựng từ lâu nên các nhà
máy này đều nằm trong khu vực nội thị, rất đông dân cư. Hàng ngày khi hoạt động
các nhà máy đều thải ra một lượng khói bụi làm đen cả một vùng trời. Đặc biệt khi
nhà máy tiến hành xả thải thì sẽ có một trận “mưa bụi” vung vãi khắp nơi. Theo
ước tính nếu đã xử lý bụi 95% thì hàng năm hai nhà máy trên cũng thải ra đến
1.200 tấn bụi/năm.
Trong tương lai khi có thêm 2 nhà máy nhiệt điện được tiếp tục xây dựng trên
địa bàn thì đây sẽ là một nguồn thải khói bụi lớn đối với bầu không khí vốn đã
không trong lành của thị xã. Uông Bí cũng dự kiến hoàn thành dự án nâng cấp và
mở rộng nhà máy nhiệt điện Uông Bí GĐ 2 thêm 300MW, đạt 710MW. Sau năm
2020 xây dựng thêm nhà máy nhiệt điện Uông Bí III với công suất 600MW nhu
cầu sử dụng than gia tăng kéo theo nhiều tác động xấu đối với bầu không khí. Đó
là chưa kể tới tác động của các hoạt động vận chuyển nguyên liệu cho sản xuất
điện của các nhà máy này.
1.2.3.3. Hoạt động sản xuất vật liệu xây dựng.
Hiện tại trên địa bàn có 2 nhà máy hoạt động trong lĩnh vực này là nhà máy xi
măng Lam Thạch và nhà máy gạch Dốc Đỏ. Các công đoạn sản xuất xi măng, gạch
ngói như: khai thác đá, nghiền đá vôi, nung lò ...đều đang là nguồn chính gây ô
nhiễm không khí khu vực nam Uông Bí.
Nhu cầu tiêu thụ vật liệu xây dựng trên địa bàn và khu vực lân cận trong
những năm sắp tới còn rất nhiều, nguồn nguyên liệu tại chỗ cho phát triển vật liệu
xây dựng còn rất phong phú, vì vậy có thể nói đây cũng là một ngành công nghiệp
thế mạnh cần được phát triển trong tương lai của thị xã. Theo dự kiến hoạt động
sản xuất vật liệu xây dựng những năm tới đều tăng (dự tính tốc độ tăng trưởng sản
lượng các ngành thời kỳ 2011 – 2020 là 9%/năm), đây cũng là một nguồn phát thải
gây ô nhiễm không khí đáng kể của thị xã trong những năm tới.

Dựa trên tính toán lượng bụi trong không khí đo được từ các hoạt động, có thể dự
báo lượng bụi trong không khí do các hoạt động và nhà máy tạo ra như sau:
Bảng2: Dự tính lượng bụi thải ra của một số hoạt động chính
Đơn vị: tấn bụi/năm
Cơ sở sản xuất Năm 2010 Năm
2020
Sản xuất than 10.301 –
10.988
>
10.000
Nhiệt điện Uông Bí (xử lý 95%) 3.600 –
4.200
>
4.200
Cụm sản xuất xi măng Lam Thạch 1.500 –
2.000
2.00
0
Gạch Dốc Đỏ < 11 11 -
20
Giao thông (không tính đến vận chuyển 5,8 – 7,8 11-
than) 15
(Nguồn: khoa địa lý trường ĐH KHTN, ĐH QGHN, 2005)
Ngoài lượng bụi thải ra không khí các hoạt động trên còn thải ra một lượng
khá lớn các chất độc hại vào không khí trong quá trình hoạt động như: CH
4
, CO
2
,
SO

C
H
4
C
O
2
S
O
2
N
o
x
C
O
V
OC
P
b
K
hai
thác
than
hầm

2
3-
28,7
5
2
3

3
0-35
2
00-
250
8
0-85
3
-3,5
1
,4-
1,8
5
4-63
3
60-
450
1
44-
153
5
,4-
6,3
g
N
hiệt
điện
Uông

1

rằng tổn thất do suy thoái tài nguyên làm GDP giảm đi xấp xỉ 10%. Điều đó có tính
định hướng để cảnh báo rằng nếu phát triển kinh tế mà không chú ý đến các vấn đề
môi trường thì sẽ có sự tăng trưởng giả tạo, mà cái nợ này sẽ gán cho tương lai.
Uông Bí là một đô thị trẻ (được thành lập từ ngày 28/20/1961), nền kinh tế lại
được phát triển chủ yếu trên nguồn tài nguyên sẵn có, trong đó công nghiệp khai
thác than, nhiệt điện và sản xuất vật liệu xây dựng như xi măng gạch ngói có đóng
góp lớn cho nền kinh tế (chiếm trên 80% tổng giá trị sản xuất trên địa bàn). Tuy
nhiên sự phát triển của các ngành công nghiệp đặc biệt là công nghiệp khai
khoáng, nhiệt điện đã vượt quá khả năng hoá giải của môi trường tự nhiên và khả
năng đáp ứng của hệ thống cơ sở hạ tầng. Điều đó đã dẫn đến một loạt những vấn
đề môi trường đáng báo động đặc biệt là ô nhiễm môi trường không khí đã ảnh
hưởng đến sức khoẻ người dân. Các vấn đề ô nhiễm môi trường phát sinh do khai
thác và sử dụng khoáng sản đều đang tồn tại ở thị xã đó là:
 Khai thác khoáng sản làm mất đất, mất rừng, ô nhiễm nước, ô nhiễm
bụi, khí độc, lãng phí tài nguyên.
 Vận chuyển, chế biến khoáng sản gây ô nhiễm bụi, khí, nước và chất
thải rắn.
 Sử dụng khoáng sản gây ra ô nhiễm không khí (SO
2
, bụi, khí độc...), ô
nhiễm nước, chất thải rắn.
Theo ước tính, để có GDP tăng trưởng 1% thì ô nhiễm môi trường sẽ tăng gấp
đôi, rõ ràng đây là một tương quan hết sức thiếu tình bền vững. Để theo đuổi mục
tiêu phát triển bền vững thì vấn đề đặt ra cho Uông Bí trước mắt và lâu dài là phải
có các giải pháp, kế hoạch hành động thật cụ thể để vừa phát triển mạnh về kinh tế
vừa đảm bảo ổn định môi trường và xã hội. Cũng đã có khá nhiều các tác giả,
những nhà khoa học chọn đề tài về môi trường thị xã làm vấn đề để nghiên cứu,
tuy nhiên vấn đề ô nhiễm môi trường không khí vẫn chưa được quan tâm đứng
mức. Sinh ra và lớn lên tại Uông Bí, lại là một sinh viên thuộc chuyên ngành kế
hoạch phát triển em mong muốn thông qua chuyên đề thực tập của mình đóng góp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status