Phát triển kinh tế tư nhân-Lý luận,thực trạng,giải pháp trong giai đoạn hiện nay - Pdf 14

LỜIMỞĐẦU
Hiện nay, thời kì quáđộ từ chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn thế giới vẫn
nói chung đang tiếp diễn và con đường “phát triển quáđộ lên chủ nghĩa xã hội bỏ
qua chếđộ tư bản chủ nghĩa” tại các nước chủ nghĩa xã hội nói riêng cũng có cơ sở
lịch sử, thực tiễn sâu xa, vững chắc, mang tính quy luật khách quan, tất yếu và
hoàn toàn khả thi. Việt Nam trong xu thế chung của thế giới cũng đang tiến hành
quáđộ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là quá trình lâu dài và cũng có nhiều khó khăn. Có
nhiều tài liệu đã nghiên cứu về vấn đề này nhưng ở mỗi tài liệu thì mới đề cập đến
một khía cạnh của con đường quáđộ lên chủ nghĩa xã hội. Là một sinh viên đang
theo học trong lĩnh vực kinh tế em muốn đi tìm hiểu những vấn đề chung, khái
quát về con đường quáđộ của nước ta. Việc nghiên cứu đề tài này sẽ cung cấp cho
em thêm những thông tin quý báu về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước
để bước đầu hình thành cho mình những tư duy kinh tế. Cùng với việc tích luỹ
những kiến thức trong những năm tiếp theo tại trường em mong muốn sau này sẽ
góp được phần nhỏ bé của mình để hoàn thành những nhiệm vụ kinh tế của thời kì
quáđộ.
Trong quá trình tìm hiểu vềđề tài: "Quáđộ lên CNXH bỏ qua chếđộ tư bản
chủ nghĩa ở Việt Nam, lý luận thực trạng và giải pháp thực hiện ở nước ta", do
vốn kiến thức của em và do thời gian có hạn nên em sẽ gặp phải những thiếu sót.
Em rất mong thầy và các bạn tham gia góp ý cho em để bài viết của em được hoàn
thiện hơn.
1
NỘIDUNG
I. Lý luận chung về quáđộ lên Chủ nghĩa xã hội.
1.Khái niệm cơ bản về quáđộ lên chủ nghĩa xã hội
Muốn hiểu được rõ thế nào là quáđộ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) trước
hết ta phải hiểu được thế nào là thời kì quáđộ. Theo lý luận Mac- Lênin đã khẳng
định muốn tiến từ một phương thức sản xuất thấp lên một phương thức sản xuất
cao hơn cần bắt buộc phải trải qua thời kì quáđộ. Mác đã khái quát về mặt lý luận
và chỉ rõ: “ Thời kì quáđộ là thời kì cải biến Cách mạng không ngừng, triệt để và
toàn diện từ phương thức sản xuất này sang phương thức sản xuất khác. Trong thời

đường phát triển quáđộ lên CNXH bỏ qua chếđộ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam mà
chủ tịch Hồ Chí Minh vàĐảng ta đã lựa chọn là con đường phát triển rút ngắn theo
phương thức quáđộ gián tiếp. Đó là con đường phát triển tất yếu khách quan, hợp
quy luật theo tiến trình phát triển lịch sử tự nhiên của Cách mạng Việt Nam vì:
Thứ nhất là do bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ: thế giới bước vào thời kì quáđộ
từ chủ nghĩa tư bản (CNTB) lên CNXH. CNTB lúc đó là xã hội đã lỗi thời về mặt
lịch sử, sớm hay muộn cũng phải được thay bằng hình thái kinh tế xã hội cộng sản
chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là giai đoạn xã hội xã hội chủ nghĩa. CNTB không
phải là tương lai của loài người, nó không vượt qua những mâu thuẫn mà mâu
thuẫn cơ bản nhất là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; mâu
thuẫn này càng ngày càng phát triển gay gắt và sâu sắc hơn; CNXH mà con người
đang vươn tới là hình thái kinh tế xã hội cao hơn CNTB đó là xã hội vì sự nghiệp
giải phóng con người, sự phát triển tự do và toàn diện của loài người. Chúng ta
quáđộ thẳng lên CNXH nghĩa làđi theo dòng chảy của thời đại nghĩa làđi theo quy
luật tự nhiên của lịch sử.
Thứ hai là do sự lựa chọn con đường độc lập dân tộc của Đảng. Ngay khi ra
đời Đảng ta đã xác định con đường phát triển của dân tộc là quáđộ lên CNXH bỏ
qua chếđộ. Từ sau khi Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do Đảng cộng sản
lãnh đạo đã thành công thì chúng ta đã cởi bỏđược hai vòng xích, đã thoát khỏi
3
cảnh một cổ hai tròng, Đảng và Nhà nước thêm vững mạnh, nhân dân đã thêm
niềm tin vào Đảng, quyết tâm đi theo Đảng. Thành quả của cuộc Cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân cần được giữ vững, cuộc sống vật chất cũng như tinh thần
của nhân dân phải được cải thiện, nâng cao nhiều so với những năm chiến đấu hy
sinh. Có hàng loạt vấn đề kinh tế, xã hội và chính trị cần được giải quyết cấp bách
sau khi Cách mạng dân tộc dân chủ thành công. Nhưng điều đó không ngăn cản
việc tiến lên CNXH; hơn nữa, việc giải quyết nó chỉ có thể bằng con đường xây
dựng CNXH. Việc đưa miền Bắc tiến lên CNXH cóý nghĩa rất lớn lao trong những
năm đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Chính điều đóđược Chủ
tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh trong hội nghị cán bộ văn hoá ngày 30/10/1958 “

cộng sản Việt Nam là một nhân tố có vai trò quyết định đối với việc đẩy nhanh sự
phát triển đất nước .Và trong công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo
đã thu được những kết quả khả quan như: đã củng cố và khẳng định con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta làđúng đắn. Sự lựa chọn con đường quáđộ lên
CNXH bỏ qua TBCN của nước ta là phù hợp với sự lựa chọn của nhân dân ta. Các
tầng lớp lao động công nhân, nông dân và trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng đã
cùng nhau chiến đấu, hy sinh để giành lại độc lập dân tộc và cuộc sống ấm no, tự
do, hạnh phúc. Do đó họ sẵn sàng liên minh chặt chẽ với nhau và cùng với Đảng
để vượt qua mọi khó khăn, xây dựng thành công CNXH.
Ngoài ra, khả năng và nguồn lực trong nước có thểđáp ứng được yêu cầu của
thời kì quáđộ lên CNXH. Chúng ta có lực lượng lao động dồi dào, chăm chỉ, khéo
léo, dễđào tạo, sẵn sàng đáp ứng được yêu cầu của thời đại mới. Tài nguyên thiên
nhiên của nước ta cũng hết sức giàu có và phong phú tạo điều kiện hoàn thành sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước tạo tiền đề xây dựng xã hội cộng sản
chủ nghĩa
3.Một sốđặc điểm cơ bản của thời kì quáđộ lên CNXH ở Việt Nam
Nước ta quáđộ lên CNXH có những đặc điểm chung của quáđộ lên CNXH
của các nước trên thế giới như: Đó là thời kì xét trên mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội đều do nhiều thành phần không thuần nhất cấu tạo lên; là thời kì mà sự phát
5
triển cái cũ của những trật tự cũđôi khi lấn át những mầm mống của cái mới của
trật tự mới. Thời kìđó có nhiều khó khăn phức tạp, phải trải qua những lần thử
nghiệm để rút ra những kinh nghiệm, những bước đi đúng đắn và trong quá trình
thử nghiệm.
Bên cạnh những đặc điểm chung đó chúng ta tiến hành quá còn có những
đặc điểm khác biệt với các quốc gia khác như :chúng ta bắt đầu tiến hành quáđộ
khi đất nước vẫn còn bị chia cắt hai miền với những chiến lược và nhiệm vụ khác
nhau (Đại hội Đảng III năm 1960). Trong quá trình tiến hành quáđộ từĐại hội
Đảng III đến Đại hội Đảng VI chúng ta luôn nhận được sự viện trợ giúp đỡ hợp tác
của hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới màđặc biệt là Liên Xô thời đó. Nhưng

ngoại tệ thu được từ xuất khẩu gạo tăng từ 734 triệu USD lên 900 triệu USD năm
2004.
Ngành công nghiệp: sản xuất vẫn phát triển ổn định và tăng trưởng cao. Sản
xuất công nghiệp và xây dựng tăng 10,2% chiếm tỷ trọng 3,9% trong tốc độ tăng
trưởng chung. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2004 đạt 354 nghìn tỷđồng,
tăng 16% so với năm 2003 trong đó tăng cao nhất là khu vực ngoài quốc doanh
(22,8%), khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 15,7%.
Thứ hai: Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế với sự chuyển dịch ngành và chuyển
các thành phần kinh tế.
Cơ cấu ngành kinh tếđã có sự chuyển dịch theo hướng khu vực I (gồm nông
nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản) tuy vẫn đạt tốc độ tăng trưởng cao liên tục nhưng tỷ
trọng đã giảm xuống trong đó tỷ trọng khu vực II (công nghiệp và xây dựng cơ
bản) và khu vực III (gồm các ngành dịch vụ) đã tăng lên. Đến năm 2003 tỷ trọng
của khu vực I là 22%, khu vực II là 39%, khu vực III là 39%; năm 2004 thì tỷ
trọng các khu vực tương ứng là 21.8%; 40.1%; 32.2% .Các thành phần kinh tế
trong GDP cũng có sự chuyển dịch từ chủ yếu là quốc doanh, hợp tác xã sang đa
thành phần nhung vai trò chủđạo của kinh tế quốc doanh vẫn được tăng cường.
7
Thứ ba: Về cơ chế quản lý kinh tế mới đã bước đầu được hình thành. Nhà
nước đã xoá bỏ về cơ bản kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp, xây
dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình hình
thành cơ chế thị trường, Nhà nước đã dần dần cải tổ bộ máy và các công cụ quản
lý. Từ chỗ chủ yếu sử dụng phương pháp hành chính coi kế hoạch hoá với các chỉ
tiêu pháp lệnh là công cụđể quản lý, điều hành nền kinh tế sang chủ yếu quản lý
bằng pháp luật kết hợp chính sách và các công cụđiều tiết vĩ mô như chính sách tài
chính, tiền tệ, thu nhập và chính sách kinh tếđối ngoại.
Thứ tư: Kinh tế nước ta đãđạt thành công lớn trong việc kiềm chế vàđẩy lùi
lạm phát. Trong những năm từ 1986 đến 1988 lạm phát tới ba con số (cao nhất là
774,7% năm 1986) nhưng đến năm 1989 lạm phát đãđược chặn lại ở hai con số sau


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status