Chủ đề 1. XÃ HỘI NGUYÊN THỦY
1. Con người đã xuất hiện trên Trái đất như thế nào?
- Cách ngày nay khoảng 5 - 6 triệu năm, trên trái đất đã xuất hiện loài Vượn cổ có
dáng hình người.
- Khoảng 3 - 4 triệu năm về trước, loài Vượn cổ đã tiến hóa và xuất hiện Người
tối cổ. Người tối cổ đã thoát khỏi thế giới động vật, con người hoàn toàn đi bằng hai
chân, đôi tay đã trở nên khéo léo, có thể cầm nắm và biết sử dụng những hòn đá, cành
cây làm công cụ. Đặc biệt, Người tối cổ đã biết chế tạo ra những công cụ thô sơ (bằng
đá) và phát minh ra lửa.
- Khoảng 4 vạn năm về trước, Người tối cổ tiến hóa dần trong quá trình lao động trở
thành Người tinh khôn. Người tinh khôn có cấu tạo cơ thể như con người ngày nay với thể
tích sọ não lớn, tư duy phát triển.
Như vậy là lao động có vai trò sáng tạo ra con người và xã hội loài người. Thông
qua các di cốt được tìm thấy ở khắp các châu lục: Đông Phi, Đông Nam Á, Trung Quốc,
châu Âu, Các nhà khảo cổ học đã tái hiện được lịch sử sự xuất hiện và tiến hóa của con
người và xã hội loài người trên trái đất.
2. Giữa Người tối cổ và Người tinh khôn có sự khác nhau như thế nào?
- Ở Người tối cổ: trán thấp và bợt ra phía sau, u mày nổi cao; cả cơ thể còn phủ
một lớp lông ngắn; dáng đi còn hơi còng, lao về phía trước; thể tích sọ não từ 850 cm
3
đến 1.100 cm
3
.
- Ở Người tinh khôn: mặt phẳng, trán cao, không còn lớp lông trên người; dáng đi
thẳng, bàn tay nhỏ, khéo léo; thể tích sọ não lớn hơn: 1.450 cm
3
.
3. Vì sao xã hội nguyên thủy tan rã?
- Khoảng 4.000 năm TCN, con người phát hiện ra kim loại (đồng và quặng sắt)
cùng với thuật luyện kim đã giúp chế tạo ra các công cụ lao động.
- Nhờ công cụ bằng kim loại, con người có thể khai phá đất hoang, tăng diện tích
+ Ngành KT chính là thủ công nghiệp
(luyện kim, đồ mĩ nghệ, đồ gốm, làm
rượu nho, dầu ô liu) và thương nghiệp
(xuất khẩu các mặt hàng thủ công,
rượu nho, dầu ô liu, nhập lúa mì và
súc vật). Ngoài ra còn trồng trọt cây
lưu niên như nho, ô liu, cam,
Các tầng
lớp xã hội
+ 3 tầng lớp chính
- Nông dân công xã, đông đảo nhất và
là tầng lớp lao động, sản xuất chính
trong xã hội.
- Quý tộc là tầng lớp có nhiều của cải
và quyền thế, bao gồm vua, quan lại
và tăng lữ.
- Nô lệ là những người hầu hạ, phục
dịch cho quý tộc; thân phận không
khác gì con vật.
+ 2 giai cấp chính
- Giai cấp chủ nô: gồm các chủ
xưởng thủ công, thuyền buôn, trang
trại , rất giàu và có thế lực về chính
trị, sở hữu nhiều nô lệ.
- Giai cấp nô lệ: với số lượng rất
đông, là lực lượng lao động chính
trong xã hội, bị chủ nô bóc lột và
đối xử rất tàn bạo.
Tổ chức
xã hội
giấy Pa-pi-rút, trên mai rùa, thẻ tre và
các tấm đất sét
+ Toán học: phát minh ra phép đếm
đến 10, các chữ số từ 1 đến 9 và số 0,
tính được số Pi bằng 3,16.
+ Kiến trúc: xây dựng các công trình
kiến trúc đồ sộ như Kim tự tháp ở Ai
+ Biết làm lịch và dùng lịch dương,
chính xác hơn: 1 năm có 365 ngày
và 6 giờ, chia thành 12 tháng.
+ Sáng tạo ra hệ chữ cái a, b, c gồm
26 chữ, gọi là hệ chữ cái La-tinh, đang
được dùng phổ biến hiện nay.
+ Khoa học phát triển cao, đặt nền
móng cho các ngành khoa học sau này.
Một số nhà khoa học nổi tiếng như:
Ta-lét, Pi-ta-go, Ơ-cơ-lít (Toán học);
Ác-si-mét (Vật lí); Pla-tôn, A-ri-xtốt
(Triết học); Hê-rô-đốt, Tu-xi-đít (Sử
học); Stơ-ra-bôn (Địa lí)
+ Kiến trúc và điêu khắc với nhiều
Cập, thành Ba-bi-lon ở Lưỡng Hà công trình nổi tiếng như: đền Pác-tê-
nông ở A-ten; đấu trường Cô-li-đê ở
Rô-ma, tượng Lực sĩ ném đĩa, thần Vệ
nữ ở Mi-lô
2. Một số thuật ngữ, khái niệm lịch sử.
a. Thế nào là “tư liệu lịch sử”, “tư liệu truyền miệng”, “tư liệu hiện vật” và
“tư liệu chữ viết”?
Tư liệu lịch sử là tất cả những dấu tích của con người trong quá khứ được lưu giữ,
truyền lại dưới nhiều dạng khác nhau giúp chúng ta hiểu biết và dựng lại được lịch sử.
khoảng 18.000 năm trong lịch sử, đến nay chế độ mẫu hệ vẫn còn nhiều tàn dư ở một số
dân tộc trên thế giới.
Thị tộc phụ hệ hay còn gọi là Thị tộc phụ quyền: Ham muốn của người nguyên
thủy cũng như con người về sau là làm thế nào để nâng cao năng suất lao động. Khoảng
4.000 năm trước công nguyên con người đã tìm ra đồng. Người nguyên thủy đã phát
minh ra cung tên mà tầm quan trọng của nó được F. Ăng-ghen đánh giá như phát minh ra
súng của thời cận đại. Các ngành nghề thủ công, chăn nuôi … cũng phát triển một cách
mạnh mẽ. Một cuộc phân công lao động và sự chuyển biến vị trí giữa đàn ông và đàn bà
bắt đầu. Thị tộc mẫu quyền nhường chỗ cho thị tộc phụ quyền (trong đó, quyền lực của
người cha - đàn ông trong bộ lạc được đề cao).
Từ khi có sự phân công lao động, sản xuất ngày càng phát triển, cuộc sống của con
người ngày càng ổn định. Ở các vùng đồng bằng ven các con sông lớn hình thành các làng
bản (chiềng, chạ), các làng bản vùng cao cũng nhiều hơn trước. Dần dần hình thành các cụm
chiềng, chạ hay làng bản, có quan hệ chặt chẽ với nhau được gọi là bộ lạc.
d. Xã hội “chiếm hữu nô lệ” là gì?
Là xã hội có hai giai cấp chính là chủ nô và nô lệ, trong đó giai cấp chủ nô thống trị và bóc lột
giai cấp nô lệ.
LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NGUỒN GỐC ĐẾN THẾ KỈ X
Chủ đề 1. BUỔI ĐẦU LỊCH SỬ NƯỚC TA
1. Những dấu tích của Người tối cổ và Người tinh khôn được tìm thấy ở Việt Nam đã
nói lên điều gì?
Dấu tích là cái còn lại của thời xa xưa, của quá khứ tương đối xa được con người
hiện tại phát hiện, khai quật để phục vụ cho các mục đích nghiên cứu về lịch sử xã hội
loài người.
Các nhà khảo cổ qua nhiều đợt thăm dò, khảo sát và khai quật đã tìm thấy các dấu
tích của Người tối cổ và Người tinh khôn trên khắp đất nước Việt Nam. Điều đó đã
khẳng định Việt Nam cũng là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại có
con người xuất hiện từ rất sớm và rất phát triển.
Ở các hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng Sơn); Núi Đọ (Thanh Hóa); Xuân
Lộc (Đồng Nai) đã tìm thấy những chiếc răng của Người tối cổ, những mảnh đá được
dần thoát khỏi sự lệ thuộc vào thiên nhiên. Hơn nữa, cùng với công cụ sản xuất tiến bộ
kéo theo năng suất lao động tăng, đời sống ngày càng ổn định và nâng cao.
Về tổ chức xã hội:
Người tinh khôn đã biết sống thành từng nhóm trong các hang động, ở những
vùng thuận tiện, thường định cư lâu dài ở một số nơi (Hòa Bình - Bắc Sơn). Cũng do sự
tiến bộ của công cụ sản xuất, kinh tế phát triển nên đời sống không ngừng được nâng
cao, dân số ngày càng tăng, dần dần đã hình thành các mối quan hệ xã hội và đời sống
tinh thần.
Đời sống tinh thần:
Họ đã biết chế tác và sử dụng những đồ trang sức; biết vẽ những hình mô tả cuộc
sống tinh thần của mình. Rồi đã hình thành một số phong tục tập quán và tín ngưỡng: thể
hiện trong mộ táng có chôn theo lưỡi cuốc đá. Như vậy là trong thời kì nguyên thủy, con
người đã bắt đầu quan tâm đến đời sống tinh thần thể hiện ở việc làm đẹp bản thân và
bày tỏ tình cảm với người chết. Đó là một bước tiến đáng kể trong sự phát triển tinh thần
của loài người.
Chủ đề 2. THỜI KÌ VĂN LANG - ÂU LẠC
I. Thời kì Văn Lang - Âu Lạc đã có những chuyển biến như thế nào trong đời sống
kinh tế, xã hội? 1. Trình độ sản xuất, chế tác công cụ của người Việt cổ đã có sự
phát triển, tiến bộ như thế nào?
Người nguyên thủy trên đất nước ta lúc đầu sinh sống ở các hang động, sau đó
tiếp tục mở rộng vùng cư trú đến các vùng chân núi, thung lũng ven khe suối, vùng đất
bãi ven sông.
Qua các di chỉ Phùng Nguyên (Phú Thọ), Hoa Lộc (Thanh Hóa), Lung Leng
(Kon Tum), có niên đại cách đây 4.000 - 3.500 năm, các nhà khảo cổ đã phát hiện hàng
loạt công cụ: rìu đá, bôn đá được mài nhẵn toàn bộ, có hình dáng cân xứng; những đồ
trang sức, những loại đồ gốm khác nhau như bình, vò, vại, bát, đĩa Những mảnh gốm
thường in hoa văn hình chữ S nối nhau, đối xứng, hoặc in những con dấu nổi liền
nhau Điều đó chứng tỏ người Việt cổ đã đạt được trình độ cao về mặt chế tác công cụ
sản xuất và đồ trang sức, đồ dùng sinh hoạt
Đặc biệt, người Việt cổ ở Phùng Nguyên (Phú Thọ) và Hoa Lộc (Thanh Hóa)
Từ khi thuật luyện kim được phát minh và nghề nông trồng lúa nước ra đời, con
người phải chuyên tâm làm một công việc nhất định. Sự phân công lao động đã được
hình thành cụ thể :
Phụ nữ làm việc nhà, thường tham gia sản xuất nông nghiệp và làm đồ gốm, dệt
vải vì người Việt cổ không chỉ độc canh cây lúa mà còn trồng các loại rau củ, cây trái
như khoai, đậu, trồng dâu, nuôi tằm. Nam giới, một phần làm nông nghiệp, đi săn, đánh
cá ; một phần chuyên hơn làm công việc chế tác công cụ, đúc đồng, làm đồ trang sức…,
về sau, được gọi chung là nghề thủ công.
Từ khi có sự phân công lao động, sản xuất ngày càng phát triển, cuộc sống con
người ngày càng ổn định ; ở các vùng đồng bằng ven các con sông lớn hình thành các
làng bản (chiềng, chạ), các làng bản ở vùng cao cũng nhiều hơn trước. Dần dần hình
thành các cụm chiềng, chạ hay làng bản có quan hệ chặt chẽ với nhau được gọi là bộ
lạc. Vị trí của người đàn ông trong sản xuất và gia đình, làng bản ngày càng cao hơn.
Chế độ phụ hệ dần dần thay thế cho chế độ mẫu hệ.
II. Nước Văn Lang đã ra đời và phát triển như thế nào?
1. Trình bày những điều kiện dẫn tới sự ra đời của nhà nước Văn Lang, nhà
nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam?
Vào khoảng các thế kỉ VIII - VII TCN, ở vùng đồng bằng ven các con sông lớn
thuộc Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay, đã hình thành những bộ lạc lớn. Sản xuất
phát triển, mâu thuẫn giữa người giàu và người nghèo đã nảy sinh và ngày càng tăng
thêm.
Việc mở rộng nghề nông trồng lúa nước ở các vùng đồng bằng ven các con sông
lớn thường xuyên phải đối mặt với hạn hán, lũ lụt. Vì vậy, cần phải có người chỉ huy
đứng ra tập hợp nhân dân các làng để giải quyết vấn đề thủy lợi bảo vệ sản xuất, mùa
màng và đời sống.
Ngoài mâu thuẫn, xung đột giữa kẻ giàu và người nghèo như đã nói ở trên thì các
làng bản khi giao lưu với nhau cũng có xung đột. Đó là xung đột giữa người Lạc Việt
với các bộ tộc người khác và cả giữa các bộ lạc Lạc Việt với nhau. Để có cuộc sống yên
ổn, cần phải có một thế lực đủ sức giải quyết, chấm dứt các xung đột đó.
Như vậy là để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển sản xuất, làm thủy lợi và giải quyết
Đời sống tinh thần :
Xã hội thời Văn Lang đã chia thành nhiều tầng lớp khác nhau: những người
quyền quý, dân tự do, nô tì. Sự phân biệt các tầng lớp còn chưa sâu sắc.
Thường tổ chức lễ hội, vui chơi (một số hành ảnh về lễ hội đã được ghi lại trên
mặt trống đồng như : đua thuyền, giã gạo, ca hát nhảy múa…).
Cư dân Văn Lang có một số phong tục tập quán : như hôn nhân, thờ cúng tổ tiên
(truyện Tấm Cám ; Bánh chưng, bánh giầy…).
III. Nước Âu Lạc đã ra đời và phát triển như thế nào?
1. Hoàn cảnh ra đời và tổ chức nhà nước Âu Lạc?
Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tần (hoàn cảnh ra đời nhà nước Âu
Lạc)
Năm 218 TCN, nhà Tần đánh xuống phương Nam để mở rộng bờ cõi. Sau 4 năm
HÙNG VƯƠNG
LẠC HẦU - LẠC TƯỚNG
(trung ương)
LẠC TƯỚNG
(bộ)
LẠC TƯỚNG
(bộ)
Bồ chính
(chiềng, chạ)
Bồ chính
(chiềng, chạ)
Bồ chính
(chiềng, chạ)
Bồ chính
(chiềng, chạ)
chinh chiến, quân Tần kéo đến vùng Bắc Văn Lang, nơi người Lạc Việt cùng sống với người
Âu Việt, vốn có quan hệ gần gũi với nhau từ lâu đời.
Cuộc kháng chiến bùng nổ. Thủ lĩnh Âu Việt bị giết, nhưng nhân dân Âu Việt và Lạc
3. Cuộc kháng chiến chống Triệu Đà năm 179 TCN, Nhà nước Âu Lạc thất
bại ?
Diễn biến chính cuộc kháng chiến :
Vào năm 207 TCN, nhân lúc nhà Tần suy yếu, Triệu Đà cắt đất ba quận lập thành
nước Nam Việt, rồi đem quân đánh xuống Âu Lạc.
Quân dân Âu Lạc với thành cao, hào sâu, vũ khí tốt và tinh thần chiến đấu dũng
cảm đã giữ vững được nền độc lập.
Triệu Đà biết không thể đánh bại được, bèn vờ xin hàng và dùng mưu kế li gián, chia
rẽ nội bộ Âu Lạc.
Năm 179 TCN, Triệu Đà lại sai quân sang đánh chiếm nước ta, An Dương Vương do
chủ quan không đề phòng, lại mất hết tướng giỏi nên bị thất bại nhanh chóng. Nước ta rơi vào
ách thống trị của nhà Triệu.
Nguyên nhân thất bại của Âu Lạc :
Do An Dương Vương chủ quan, thiếu cảnh giác, nội bộ bị chia rẽ, li gián, mất
đoàn kết. Nhớ lại Truyện nỏ thần (đơn giản hóa sự thực về âm mưu cướp nước Âu Lạc
của Triệu Đà).
Chủ đề 3. THỜI KÌ BẮC THUỘC VÀ CUỘC ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP
I. Khái niệm ‘‘thời Bắc thuộc’’ :
Thời Bắc thuộc là một khái niệm lịch sử chỉ khoảng thời gian từ sau thất bại của
An Dương Vương năm 179 TCN, nước ta bị Triệu Đà thôn tính và sáp nhập vào nước
Nam Việt. Từ đó nhân dân ta liên tục bị các triều đại phong kiến phương Bắc thống trị
cho đến khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938 mới kết
thúc, tất cả tổng cộng hơn 1.000 năm.
II. Chính sách thống trị tàn bạo của phong kiến phương Bắc đối với nước
ta :
Sáp nhập nước ta vào lãnh thổ của các triều đại PK phương Bắc, xóa tên nước ta
và chia thành các quận huyện của chúng.
Tổ chức bộ máy cai trị tàn bạo, hà khắc do người phương Bắc đứng đầu. Ra sức
bóc lột dân ta bằng các thứ thuế, nhất là thuế muối, thuế sắt…và bắt cống nạp những sản
vật quý như ngà voi, sừng tê giác, ngọc trai…
Tháng Ba năm 40 sau Công Nguyên, Trưng Trắc và Trưng Nhị tiếp tục sự
nghiệp, dựng cờ khởi nghĩa ở Hát Môn, trên vùng đất Mê Linh với lời thề:
"Một xin rửa sạch quốc thù,
Hai xin khôi phục nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này" (Thiên Nam ngữ lục)
Cuộc khởi nghĩa Mê Linh lập tức được sự hưởng ứng ở khắp các quận Giao Chỉ,
Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố. Các cuộc khởi nghĩa địa phương được quy tụ về đây
thống nhất lại thành một phong trào rộng lớn từ miền xuôi đến miền núi. Đặc biệt trong
hàng ngũ nghĩa quân có rất nhiều phụ nữ như Lê Chân, Thánh Thiên, Bát Nàn, Nàng Tía,
Ả Tắc, Ả Di Từ Mê Linh, nghĩa quân đánh chiếm lại thành Cổ Loa rồi ồ ạt tiến đánh
thành Luy Lâu. Hoảng sợ trước khí thế của nghĩa quân, quan lại của nhà Đông Hán bỏ
chạy. Tô Định bỏ cả ấn kiếm, cắt tóc, cạo râu trốn chạy về nước. Chỉ trong một thời gian
ngắn, hai Bà Trưng đã thu phục 65 huyện thành, nghĩa là toàn bộ lãnh thổ nước Việt hồi đó.
Cuộc khởi nghĩa thành công, đất nước được hoàn toàn độc lập. Hai bà lên làm vua, đóng đô
ở Mê Linh.
"Đô kỳ đóng cõi Mê Linh
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta" (Đại Nam quốc
sử diễn ca)
Năm 42, nhà Hán cử Phục Ba tướng quân Mã Viện đem hai vạn quân cùng
hai ngàn thuyền, xe sang xâm lược nước Việt. Hai bà đem quân đến đánh quân
Hán ở Lãng Bạc nhưng vì lực lượng yếu hơn nên bị thua. Hai bà phải lui về Cẩm
Khê (Vĩnh Yên, Vĩnh Phú) và cầm cự gần một năm. Bị bại trận, hai bà chạy về Hát
Môn gieo mình xuống sông Hát tự vẫn (43). Hằng năm dân gian lấy ngày 6 - 2 Âm
lịch làm ngày kỷ niệm hai Bà Trưng.
Sau khi đàn áp thành công cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng, Mã Viện đem đất
Giao Chỉ về lệ thuộc lại nhà Đông Hán như cũ đóng phủ trị tại Long Biên. Để đàn áp
tinh thần quật khởi của dân Việt, Mã Viện cho thu hết đồ đồng xứ Việt dựng một cột
đồng ở chỗ phân địa giới. Trên cột đồng có khắc sáu chữ: "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ
diệt", có nghĩa là nếu cây trụ đồng này đổ thì dân Giao Chỉ bị diệt vong. Có thuyết cho
Tùng (Thanh Hóa) và tự sát ở đấy.
Vào năm 264, nhà Ngô chia đất Giao Châu ra, lấy Nam Hải, Thương Ngô và Uất
Lâm làm Quảng Châu, lấy đất Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam làm Giao
Châu, đặt trị sở ở Long Biên. Đất Giao Châu này là lãnh thổ của Việt Nam về sau.
5. Nhà Tấn (265-460) và Nam Triều (Tống, Tề, Lương, 420-588) cuộc khởi nghĩa
Lý Bí (542 - 602).
Nhà Tấn là một triều đại không được ổn định vì nhiều thân vương cát cứ tại các
địa phương đánh nhau liên tục. Quan lại sang cai trị Giao Châu phần nhiều là người
tham lam, cộng vào đó là sự kiểm soát lỏng lẻo của chính quyền trung ương, tạo nên
cảnh tranh giành quyền lực không ngớt. Phía Nam lại có nước Lâm Ấp thường sang
quấy nhiễu. Đất Giao Châu loạn lạc không dứt.
Sau thời nhà Tấn, Trung Hoa lại phân liệt ra thành Bắc triều và Nam triều. Giao
Châu phụ thuộc vào Nam triều trải qua các nhà Tống, Tề, Lương.
Vào nửa đầu thế kỷ thứ 6, đất Giao Châu nằm dưới sự thống trị của nhà Lương.
Thứ sử Giao Châu là Tiêu Tư, nổi tiếng tham lam, tàn ác. Có được một cây dâu cao một
thước, người dân cũng phải đóng thuế. Thậm chí có người nghèo khổ, phải bán vợ, đợ
con, nhưng cũng phải đóng thuế.
Lý Bí, một người quê ở huyện Thái Bình (không phải thuộc tỉnh Thái Bình ngày
nay mà là vùng Bắc Sơn Tây, nay thuộc Hà Nội) đứng lên chiêu tập dân chúng. Ông đã
từng giữ một chức quan nhỏ với nhà Lương, cố gắng giúp đỡ những ai bị hà hiếp, nhưng
không làm được việc gì đáng kể, bèn bỏ quan trở về quê nhà và cùng người anh là Lý
Thiên Bảo mưu khởi nghĩa. Ông được nhiều người theo. Trong đó có Thủ lĩnh đất Chu
Diên (vùng Đan Phượng-Từ Liêm, thuộc Hà Tây và ngoại thành Hà Nội) là Triệu Túc và
con là Triệu Quang Phục (?-571) đem lực lượng của mình theo về. Ngoài ra còn có những
nhân vật nổi tiếng khác cũng kéo đến giúp sức như Tinh Thiều, Phạm Tu, Lý Phục Man
Mùa xuân năm 542, Lý Bí tiến quân vây thành Long Biên. Quân Lương đầu
hàng còn Tiêu Tư thì trốn thoát về được Trung Hoa. Cuộc khởi nghĩa thành công. Vua
nhà Lương vội đưa quân sang nhưng bị đánh bại.
Năm 544, Lý Bí lên ngôi hoàng đế, xưng là Lý Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân,
lấy niên hiệu là Thiên Đức, Lý Nam Đế đặt kinh đô ở miền cửa sông Tô Lịch, dựng điện
nhà Tùy sai Lưu Phương đem quân sang đánh Vạn Xuân. Lưu Phương không cần dụng
binh, cho người đi chiêu hàng được Lý Phật Tử. Từ đấy Vạn Xuân trở thành Giao Châu
của nhà Tùy.
6. Nhà Đường (618-907)-Cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan (722) và của Phùng
Hưng (trong khoảng 766-779)
Nhà Tùy làm chủ nước Trung Hoa chỉ được 28 năm thì bị nhà Đường lật đổ vào
năm 618. Nhà Đường cai trị Giao Châu cay nghiệt nhất trong các chính quyền đô hộ.
Những sản vật quý giá của Giao Châu bị vơ vét đưa về phương Bắc. Trong số đó, có
quả vải là lại trái cây mà giới quyền quý nhà Đường rất ưa chuộng. Về mặt chính trị,
nhà Đường sửa lại toàn bộ chế độ hành chính, phân chia lại châu quận, đổi Giao Châu
thành An Nam đô hộ phủ, chia ra làm 12 châu, 59 huyện.
Dưới đời nhà Đường, dân Việt liên tiếp nổi dậy, hai cuộc khởi nghĩa có tính chất
rộng lớn nhất là của Mai Thúc Loan và của Phùng Hưng.
Mai Thúc Loan quê ở làng muối Mai Phụ, thuộc huyện Thiên Lộc, Châu Hoan
(Hà Tĩnh ngày nay). Thuở nhỏ, nhà nghèo, Mai Thúc Loan theo mẹ sống ở làng Ngọc
Trừng, huyện Nam Đàn. Ông là người mạnh khỏe, có nước da đen bóng.
Năm 722, nhân dịp dân phu gánh vải sang cống cho nhà Đường, bị hành hạ, nhiều
người bỏ xác dọc đường, lòng oán thán dâng cao, Mai Thúc Loan kêu gọi những người dân
phu gánh quả vải nổi lên giết quan quân áp tải và cùng ông phất cờ khởi nghĩa. Mai Thúc
Loan chọn vùng Sa Nam (Nghệ An), một vùng hiểm trở có sông Lam rộng và núi Đụn
cheo leo làm căn cứ. Tại đây ông cho xây thành Vạn An, gồm nhiều đồn lũy, dài cả ngàn
mét. Ông xưng đế, lấy thành Vạn An làm Kinh đô. Ông thường được gọi là Mai Hắc Đế
(vua Đen họ Mai) vì nước da đen của ông.
Để lập thành một mặt trận liên hoàn chống quân Đường, Mai Hắc Đế liên kết với
các nước Cham-pa, Chân Lạp và cả Ma-lai-xi-a. Sau khi quy tụ được nhiều lực lượng,
Mai Hắc Đế cho quân tiến ra đồng bằng Bắc bộ, vây đánh thành Tống Bình (Hà Nội).
Quan đô hộ là Quang Sở Khách chống không lại, bỏ thành chạy trốn. Mai Hắc Đế
giành lại độc lập cho đất nước. Nhưng được ít lâu, nhà Đường sai Dương Tu Húc đem
10 vạn quân, theo lộ trình xưa của Mã Viện, chớp nhoáng tiến vào đất Việt, thình lình
tấn công bản doanh của Mai Hắc Đế. Mai Hắc Đế chống không lại, phải vào rừng cố
người vũ dũng và có nhiều thuộc hạ, không đồng ý, muốn lập con của Phùng Hưng là
Phùng An lên. Bồ Phá Lạc đem quân chống lại Phùng Hải. Phùng Hải tránh giao tranh,
lui về vùng rừng núi, rồi sau đó đi đâu, chẳng ai rõ, Phùng An lên nối nghiệp. Chẳng bao
lâu, nhà Đường sai Triệu Xương đem quân sang, vừa đánh vừa chiêu dụ. Thấy thế không
chống được, Phùng An phải đầu hàng. Xứ Giao Châu lại lệ thuộc nhà Đường lần nữa.
IV. Quá trình phát triển kinh tế, sự phân hóa xã hội, sự truyền bá văn hóa
phương Bắc và cuộc đấu tranh gìn giữ văn hóa dân tộc thời Bắc thuộc đã diễn ra
như thế nào?
Về kinh tế :
Mặc dù bị phong kiến phương Bắc đô hộ và cai trị, bóc lột tàn bạo, tình hình kinh
tế nước ta vẫn có những bước phát triển đáng kể từ công nghiệp đến nông nghiệp, thủ
công nghiệp và thương nghiệp.
Về công nghiệp, tuy còn hạn chế về kĩ thuật, nhưng nghề sắt vẫn phát triển : các
công cụ như rìu, mai, cuốc, dao… ; vũ khí như kiếm, giáo, mác…làm bằng sắt vẫn
được chế tác và sử dụng phổ biến.
Về nông nghiệp, nhân dân ta đã biết đắp đê phòng lụt, dùng sức kéo trâu, bò,
trồng lúa hai vụ một năm và tiếp tục nghề trồng dâu, nuôi tằm, chăn nuôi các loại gia
súc lấy thịt và sức kéo, phân bón.
Các nghề thủ công truyền thống như nghề gốm, nghề dệt…vẫn được phát triển.
Về thương nghệp, các sản phẩm nông nghiệp và thủ công không bị sung làm đồ
cống nạp mà được mua bán, trao đổi ở các chợ làng. Chính quyền đô hộ giữ độc quyền
về ngoại thương.
Sự phân hóa xã hội :
Xã hội có sự thay đổi và phân hóa sâu sắc. theo sơ đồ sau:
Thời Văn Lang - Âu Lạc Thời kì bị PK phương Bắc đô hộ
Vua Quan lại đô hộ người Hán
Quý tộc Hào trưởng người Việt, địa chủ người Hán
Nông dân công xã Nông dân công xã, nông dân lệ thuộc
Nô tì Nô tì
Các triều đại PK phương Bắc tổ chức bộ máy cai trị do người Hán nắm giữ mọi
nhưng thực chất là không thể kiểm soát được đất Giao Châu nữa. Khúc Thừa Dụ làm
chủ đất nước, xây dựng chính quyền tự chủ, khởi đầu cho nền độc lập của nước nhà.
Khúc Thừa Dụ làm Tiết độ sứ một năm thì mất, con là Khúc Hạo lên nối nghiệp cha
được mười năm (907-917). Trong mười năm này, Khúc Thừa Hạo cho sửa đổi các khu vực
hành chính, cắt đặt người trông coi mọi việc cho đến tận đơn vị xã, định lại mức thuế ruộng
đất và miễn bỏ các lao dịch nặng nề.
Trong khi ấy, tại Trung Hoa, một Tiết độ sứ họ Lưu chiếm lấy vùng Quảng Châu, lập nên
nước Nam Hán.
Năm 917, Khúc Hạo mất, con là Khúc Thừa Mỹ lên nối chức Tiết độ sứ. Khúc
Thừa Mỹ giao hảo cùng nhà Lương (đã thay nhà Đường làm chủ Trung Hoa). Vua
Nam Hán lấy cớ ấy cho quân sang đánh họ Khúc. Khúc Thừa Mỹ không chống cự
được, bị bắt đưa về Quảng Châu (930). Quân Nam Hán chiếm đóng thành Đại La.
Kế tục sự nghiệp của họ Khúc là Dương Đình Nghệ (?-937), một người làm quan
dưới đời Khúc Thừa Mỹ. Sau khi Khúc Thừa Mỹ bị bắt, Dương Đình Nghệ dấy binh ở
làng Ràng (Dương xá, Thanh Hóa), vốn là quê của ông. Các hào trưởng như Ngô Quyền,
Đinh Công Trứ đem lực lượng của mình gia nhập hàng ngũ của Dương Đình Nghệ.
Năm 931, Dương Đình Nghệ tiến quân đánh thành Đại La, Thứ sử Giao Châu là
Lý Tiến chống không lại, chạy về Quảng Châu (Trung Hoa) thì bị vua Nam Hán giết
chết. Một toán quân Nam Hán được cử sang để đàn áp quân của Dương Đình Nghệ,
nhưng bị đánh tan, phải bỏ chạy về Trung Hoa. Thắng lợi, Dương Đình Nghệ tự xưng là
Tiết độ sứ. Cai quản đất nước được sáu năm thì Dương Đình Nghệ bị một thuộc tướng là
Kiều Công Tiễn sát hại.
Ngô Quyền (897-944), tướng tài và đồng thời là con rể của Dương Đình Nghệ,
đang cai quản Châu Ái, đem quân đi trừng phạt Kiều Công Tiễn.
Ngô Quyền là người cùng quê với Phùng Hưng, xã Đường Lâm (nay thuộc thị
xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây), đã từng theo Dương Đình Nghệ từ buổi ban đầu và có uy tín
lớn với dân chúng.
Trước sự tiến công của Ngô Quyền, Kiều Công Tiễn lo sợ, vội vàng đi cầu cứu
nhà Nam Hán. Vua Nam Hán nắm cơ hội thực hiện mộng xâm lăng, bèn phong cho con
là Hoằng Tháo làm Tĩnh Hải Quân Tiết độ sứ, sai đem thủy quân đi trước còn bản thân
thuê, phụ thuộc vào lãnh chúa.
Từ những biến đổi trên đã dẫn tới sự ra đời của xã hội PK châu Âu.
2. Em biết gì về các lãnh địa của các lãnh chúa phong kiến?
Lãnh địa PK là khu đất rộng, trở thành vùng đất riêng của lãnh chúa PK - như một
vương quốc thu nhỏ.
Lãnh địa gồm có đất đai, dinh thự với tường cao, hào sâu, kho tàng, đồng cỏ,
đầm lầy của lãnh chúa. Nông nô nhận đất canh tác của lãnh chúa và nộp tô thuế, ngoài
ra còn phải nộp nhiều thứ thuế khác. Lãnh chúa bóc lột nông nô, họ không phải lao
động, sống sung sướng, xa hoa.
Đặc trưng cơ bản của lãnh địa: là đơn vị kinh tế, chính trị độc lập mang tính tự
cung, tự cấp, đóng kín của một lãnh chúa.
3. Em biết gì về các thành thị trung đại trong xã hội PK châu Âu ?
Nguyên nhân ra đời của các thành thị trung đại là do :
- Vào thời kì PK phân quyền: các lãnh địa đều đóng kín, không có trao đổi, buôn bán,
giao thương với bên ngoài.
- Từ cuối thế kỉ XI, do sản xuất thủ công phát triển, thợ thủ công đã đem hàng
hóa ra những nơi đông người để trao đổi, buôn bán, lập xưởng sản xuất.
- Từ đấy hình thành các thị trấn rồi phát triển thành thành phố, gọi là thành thị
trung đại.
Hoạt động và vai trò của các thành thị trung đại :
Cư dân chủ yếu của thành thị là thợ thủ công và thương nhân, họ lập ra các
phường hội, thương hội để cùng nhau sản xuất và buôn bán.
Hoạt động trên của các thành thị trung đại đã có vai trò thúc đẩy sản xuất, làm cho xã
hội PK phát triển.
4. Chủ nghĩa tư bản ở châu Âu được hình thành như thế nào ?
Từ cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI, do nhu cầu phát triển sản xuất cùng những
tiến bộ về kĩ thuật hàng hải như: la bàn, hải đồ, kĩ thuật đóng tàu đã thúc đẩy những
cuộc phát kiến lớn về địa lí như: B. Đi-a-xơ đến cực Nam châu Phi (1487) ; Va-xcô đơ
Ga-ma đến Tây Nam Ấn Độ (1498) ; C. Cô-lôm-bô tìm ra châu Mĩ (1492) ; Ph. Ma-
gien-lăng đi vòng quanh trái đất (1519 - 1522).
- Hình thành sớm, vào thời kì trước CN (như Trung Quốc), phát triển chậm, mức
độ tập quyền cao hơn so với xã hội PK phương Tây.
- Quá trình khủng hoảng, suy vong kéo dài và sau này rơi vào tình trạng lệ thuộc
hoặc trở thành thuộc địa của CNTB phương Tây.
Xã hội PK phương Tây :
- Ra đời muộn (thế kỉ V), nhưng phát triển nhanh.
- Xuất hiện CNTB trong lòng chế độ PK.
- Lúc đầu quyền lực của nhà vua bị hạn chế trong lãnh địa, mãi đến thế kỉ XV khi
các quốc gia PK thống nhất, quyền lực mới tập trung trong tay nhà vua.
2. Trình bày những nét chính về cơ sở kinh tế - xã hội của chế độ PK ?
Cơ sở kinh tế chủ yếu của chế độ PK là sản xuất nông nghiệp, kết hợp với chăn
nuôi và một số nghề thủ công. Sản xuất nông nghiệp đóng kín ở các công xã nông thôn
(phương Đông) hay các lãnh địa (phương Tây).
Tư liệu sản xuất, ruộng đất nằm trong tay lãnh chúa hay địa chủ, giao cho nông
dân hay nông nô sản xuất.
Xã hội gồm hai giai cấp cơ bản là địa chủ và nông dân lĩnh canh (phương Đông),
lãnh chúa phong kiến và nông nô (phương Tây). Địa chủ, lãnh chúa bóc lột nông dân và
nông nô bằng địa tô.
Riêng ở xã hội PK phương Tây, từ thế kỉ XI, công thương nghiệp phát triển
mạnh.
LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN GIỮA THẾ KỈ XIX
Chủ đề 3. BUỔI ĐẦU ĐỘC LẬP THỜI NGÔ - ĐINH - TIỀN LÊ (Thế kỉ X)
I. Những nét chính về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của buổi đầu
độc lập thời Ngô - Đinh - Tiền Lê ?
A. Về chính trị :
1. Nhà Ngô (939-965)
Ngô Vương 938-944 ; Dương Bình Vương 945-950 ; Hậu Ngô Vương 951-
965
Đánh đuổi quân Nam Hán, Ngô Quyền xưng vương (939), đóng đô ở Cổ Loa.
Ngô Vương đặt ra các chức quan văn võ, qui định triều nghi, lập bộ máy chính quyền
Năm 979, nhân lúc Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn say rượu, nằm ở sân điện,
một tên quan hầu là Đỗ Thích giết chết cả hai. Đinh Tiên Hoàng làm vua được 12 năm,
thọ 56 tuổi.
Sau khi Đinh Tiên Hoàng bị Đỗ Thích giết chết, đình thần tìm bắt được Đỗ
Thích và đem giết chết đi rồi tôn người con nhỏ là Đinh Tuệ (Đinh Toàn), mới sáu tuổi
lên làm vua. Quyền bính ở cả trong tay Thập Đạo Tướng quân Lê Hoàn. Lê Hoàn lại có
quan hệ chặt chẽ với người vợ góa của Đinh Tiên Hoàng là Dương Thái Hậu nên uy thế
rất lừng lẫy. Các công thần cũ của Đinh Bộ Lĩnh như Nguyễn Bặc, Đinh Điền đem
quân vây đánh Lê Hoàn nhưng bị Lê Hoàn tiêu diệt và giết cả.
3. Nhà Tiền Lê (980-1009)
Lê Đại Hành 980-1005 ; Lê Long Việt 1005 ; Lê Long Đĩnh 1005-1009
Nhà Tống lợi dụng sự rối ren trong triều nhà Đinh, chuẩn bị cho quân sang xâm
lược Đại Cồ Việt. Thái hậu Dương Vân Nga trao long cổn (áo bào của vua Đinh Tiên
Hoàng - tượng trưng cho uy quyền của nhà vua) cho Lê Hoàn và cùng quan lại, quân
lính tôn Lê Hoàn lên làm vua.
Lê Hoàn lên ngôi, lấy hiệu là Lê Đại Hành, lập nên nhà Tiền Lê. Để có thời gian
chuẩn bị, nhà vua phái sứ giả qua xin hòa hoãn cùng nhà Tống. Đồng thời nhà vua gấp
rút bày binh bố trận. Đầu năm 981, quân Tống theo hai đường thủy bộ, vào đánh Đại
Cồ Việt. Lê Đại Hành một mặt cho quân chặn đánh toán quân bộ ở Chi Lăng (Lạng
Sơn). Tướng Hầu Nhân Bảo, cầm đầu toán quân bộ, mắc mưu trá hàng của Lê Hoàn, bị
chém chết; quân sĩ bị diệt quá nửa, tan rã. Toán quân thủy bị chặn ở Bạch Đằng, nghe
tin thất bại, bèn tháo chạy về nước.
Dù chiến thắng, Lê Đại Hành vẫn giữ đường lối hòa hoãn, cho thả các tù binh
về nước, đồng thời cho người sang nhà Tống xin triều cống. Thấy thế không thắng
được Lê Đại Hành, vua Tống đành chấp thuận, phong cho ông làm Tiết độ sứ.
Cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ nhất thắng lợi đã biểu thị ý chí quyết
tâm chống giặc ngoại xâm của quân dân ta; chứng tỏ bước phát triển mới của đất nước
và khả năng bảo vệ độc lập dân tộc của Đại Cồ Việt.
Không còn lo lắng việc chống Tống nữa, Lê Đại Hành sửa sang mọi việc trong
nước. Ông mở mang kinh đô Hoa Lư, củng cố bộ máy chính quyền trung ương, sắp xếp
cuối cùng là nô tì (số lượng không nhiều).
Nho học chưa tạo được ảnh hưởng, giáo dục chưa phát triển. Đạo Phật được
truyền bá rộng rãi, chùa chiền được xây dựng khắp nơi, nhà sư được nhân dân quý
trọng. Nhiều loại hình văn hóa dân gian như ca hát, nhảy múa, đua thuyền tồn tại và
phát triển trong thời gian này.
II. Trình bày ngắn gọn công lao của các vị anh hùng dân tộc: Ngô Quyền, Đinh Bộ
Lĩnh, Lê Hoàn?
Ngô Quyền: Người tổ chức và lãnh đạo quân dân ta làm nên chiến thắng trên
sông Bạch Đằng năm 938. Đó là một chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta, kết thúc ách
thống trị hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc đối với nước ta, mở ra kỉ
nguyên độc lập, tự chủ của đất nước.
Ngô Quyền xưng vương, đặt nền móng cho một quốc gia độc lập, đã khẳng định
nước ta có giang sơn, bờ cõi riêng, do người Việt làm chủ và tự quyết định vận mệnh
của mình.
Đinh Bộ Lĩnh: Là người có công lớn trong việc dẹp “Loạn 12 sứ quân”. Vì trước
nguy cơ ngoại xâm mới (mưu đồ xâm lược nước ta của nhà Tống) đòi hỏi phải nhanh chóng
thống nhất lực lượng để đối phó. Đó cũng là nguyện vọng của nhân dân ta thời bấy giờ. Đinh
Bộ Lĩnh đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử đó.
Việc Đặt tên nước (là Đại Cồ Việt), chọn kinh đô và không dùng niên hiệu của
hoàng đế Trung Quốc đã khẳng định đất nước ta là “nước Việt lớn”, nhà Đinh có ý thức
xây dựng nền độc lập, tự chủ.
Lê Hoàn: Là người tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Tống lần
thứ nhất năm 981 giành thắng lợi, có ý nghĩa to lớn.
Thắng lợi ấy đã biểu thị ý chí quyết tâm chống giặc ngoại xâm của quân dân ta;
chứng tỏ bước phát triển mới của đất nước và khả năng bảo vệ độc lập dân tộc của Đại
Cồ Việt.
Trong giai đoạn lịch sử củng cố bảo vệ nền độc lập và buổi đầu xây dựng đất nước,
Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn là những vị anh hùng dân tộc, được nhân ta kính trọng,
biết ơn, nhiều nơi lập đền thờ.
Chủ đề 4. NƯỚC ĐẠI VIỆT THỜI LÝ (thế kỉ XI - đầu thế kỉ XIII)
Tổ chức bộ máy nhà nước thời Lý:
Năm 1054, nhà Lý đổi tên nước là Đại Việt và tiến hành xây dựng chính quyền
quân chủ bằng cách tổ chức bộ máy nhà nước gồm :
Chính quyền TW: đứng đầu là vua, dưới có quan đại thần và các quan ở hai ban
văn, võ.
Chính quyền địa phương: cả nước được chia thành 24 lộ, dưới lộ là phủ, dưới
phủ là huyện, dưới huyện là hương, xã.
Đó là chính quyền quân chủ, nhưng khoảng cách giữa chính quyền với nhân dân,
giữa vua với dân chưa phải là đã xa lắm. Nhà Lý luôn coi dân là gốc rễ sâu bền.
2. Trình bày những nét chính về luật pháp, quân đội và chính sách đối nội,
đối ngoại thời Lý:
Luật pháp:
Năm 1042, nhà Lý ban hành bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta có tên là bộ
Luật Hình thư.
Bao gồm những quy định chặt chẽ việc bảo vệ nhà vua và cung điện, xem trọng
việc bảo vệ của công và tài sản của nhân dân; nghiêm cấm việc giết mổ trâu bò, bảo vệ
sản xuất nông nghiệp. Người phạm tội bị xử phạt nghiêm khắc.
Quân đội:
Quân đội thời Lý bao gồm có quân bộ và quân thủy. Vũ khí có giáo mác, dao,
kiếm, cung, nỏ, máy bắn đá. Trong quân còn chia làm hai loại: cấm quân và quân địa
phương.
Quân đội nhà Lý được tổ chức có quy mô. Dưới đời Lý Thánh Tông, tổ chức
quân đội được chia làm bốn lộ là tả, hữu, tiền, hậu. Tất cả gồm có 100 đội, mỗi đội có
lính kị và lính bắn đá. Binh pháp nhà Lý rất nổi tiếng, nhà Tống bên Trung Hoa đã từng
bắt chước, áp dụng binh pháp này cho quân đội của mình. Đến thời Lý Thần Tông có
một ít thay đổi trong cơ chế quân đội. Quân lính được sáu tháng một lần đổi phiên nhau
về làm ruộng. Nhờ thế, nhân lực cho nền nông nghiệp vẫn được bảo đảm.
Chính sách đối nội, đối ngoại:
Về đối nội, nhà Lý coi trọng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Về đối ngoại, đặt quan hệ ngoại giao bình thường với nhà Tống và Cham-pa.
Phật A-di-đà, hình rồng thời Lý,
Việc xây dựng Văn Miếu, Quốc tử giám đánh dấu sự ra đời của nền giáo dục Đại
Việt. Những thành tựu về văn hóa - nghệ thuật đã đánh dấu sự ra đời của một nền văn
hóa riêng của dân tộc - văn hóa Thăng Long.
II. Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống (1075 - 1077) dưới thời Lý đã diễn
ra như thế nào?
1. Âm mưu xâm lược Đại Việt của nhà Tống được thể hiện như thế nào?
Từ giữa thế kỉ XI, tình hình nhà Tống gặp phải những khó khăn: nội bộ mâu
thuẫn, nông dân nổi lên khởi nghĩa, vùng biên ải phía Bắc Tống bị hai nước Liêu - Hạ
quấy nhiễu Đối với Đại Việt, nhà Tống quyết định dùng chiến tranh để giải quyết tình
trạng khủng hoảng trong nước và đưa nước ta trở lại chế độ đô hộ như trước.
Nhà Tống xúi giục Cham-pa đánh lên từ phía Nam, còn ở biên giới phía Bắc của
Đại Việt chúng ngăn cản việc buôn bán, dụ dỗ, mua chuộc các tù trưởng dân tộc làm
phản.