Nghiên cứu thành phần loài, sự phân bố và tái sinh của một số cây ngập mặn chính ở vùng ven biển huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh - Pdf 27

Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN I : MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài.
Nằm giữa biển và đất liền, rừng ngập mặn (RNM) là một hệ sinh thái đặc
trưng ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới nhưng rất nhạy cảm với tác động
của con người. Hệ động thực vật ở đây có những đặc tính sinh học thích nghi đặ
Nằm giữa biển và đất liền, rừng ngập mặn (RNM) là một hệ sinh thái
đặc trưng ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới nhưng rất nhạy cảm với tác
động của con người. Hệ động thực vật ở đây có những đặc tính sinh học thích
nghi đặc biệt với môi trường bùn lầy, ngập nước mặn thường xuyên.
Sự tồn tại của RNM có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về môi trường và
kinh tế xã hội, RNM không những cung cấp các lâm sản có giá trị như : gỗ, than,
củi, tanin, thức ăn, thuốc uống RNM còn là nguồn cung cấp mựn bó hữu cơ
nuôi dưỡng các loài thủy sinh tại chỗ hay những loài sống ở vùng cửa sông, ven
biển kế cận, là nơi trú đông của nhiều loài chim di cư, nơi làm tổ của nhiều loài
chim nước (Phan Nguyên Hồng, 1991) [12]. RNM có ý nghĩa quan trọng trong
việc bảo vệ môi trường, điều hòa khí hậu, ngăn chặn gió bão, mở rộng diện tích
lục địa, ngăn nước mặn lấn sâu vào đất liền. RNM còn cung cấp thức ăn để chăn
nuôi gia súc và thả ong, nhờ RNM mà cuộc sống của người dân nghèo ven biển
được cải thiện. RNM còn là địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn của nhiều khách
du lịch trong và ngoài nước, là nơi nghiên cứu và học tập của học sinh và sinh
viên, các nhà khoa học nghiên cứu về hệ sinh thái RNM. Tuy nhiên thảm thực
vật RNM Việt Nam đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng do hậu quả của chiến
tranh. Sau chiến tranh, do điều kiện kinh tế kém phát triển, sự bùng nổ dân số,
do nhận thức của người dân còn thấp nên việc khai thác RNM bừa bãi làm
nguyên liệu, phá RNM làm đầm tôm, lấy đất canh tác, lấy đất làm ruộng muối
dẫn đến diện tích RNM ngày càng bị suy giảm, chất lượng RNM cũng suy giảm
theo, đất bị thoái hóa nghiêm trọng, hàng vạn hecta đất rừng bị bỏ hoang chưa
được khôi phục, tài nguyên đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy hải sản vùng ven
Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học
1

2
Khóa luận tốt nghiệp
kiện sống từng vùng làm tăng độ đa dạng sinh học và trả lại màu xanh cho RNM
Hải Hà, song song với việc trồng rừng thì việc phát triển và bảo vệ RNM cũng
cần được quan tâm hơn. Xuất phát từ lí do trên, để việc gây trồng chăm sóc, bảo
vệ và phát triển RNM có hiệu quả cần có những kiến thức cơ bản về phân loại,
sinh học, công dụng cũng như biết được thành phần loài, phân bố và tái sinh của
các loài cây ngập mặn của vùng. Mặc dự đó có nhiều tài liệu nghiờn cứu về
RNM nhưng ở Hải Hà chưa có một công trình nào nghiên cứu về thành phần
loài, sự phân bố và khả năng tái sinh của cây ngập mặn ở đây. Xuất phát từ
những lý do trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài, sự
phân bố và tái sinh của một số cây ngập mặn chính ở vùng ven biển huyện
Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh”.
II. Mục đích nghiên cứu
Đề tài xác định thành phần loài, nhận biết các loài cây ngập mặn chính để
so sánh khi đi thực địa nhằm mục đích: Phục vụ cho nghiên cứu RNM của
huyện Hải Hà nhằm hiểu biết sâu sắc mối quan hệ giữa các nhân tố sinh thái môi
trường với cây ngập mặn, thấy được sự sinh trưởng của chúng phụ thuộc vào
những yếu tố nào, từ đó có thể đưa ra các loài cây ngập mặn nào phù hợp vào
trồng rừng.
Đề tài nghiên cứu khả năng tái sinh của một số cây ngập mặn , từ đó đưa
ra các biện pháp nhằm thúc đẩy khả năng tái sinh, với những cây có khả năng tái
sinh thấp do điều kiện môi trường nhưng vẫn sinh trưởng và phát triển tốt thỡ cú
biện pháp trồng rừng hợp lí.
Thấy được hiện trạng của RNM hiện nay và những biến đổi của RNM ven
biển dưới tác động của con người, từ đó đề xuất các biện pháp bảo vệ và phát
triển RNM góp phần làm tăng độ đa dạng sinh học của cỏc cõy ngập mặn ở
RNM Hải Hà.
III. Nội dung nghiên cứu
Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học

được ở những vùng lạnh. Trên thế giới có khoảng 16.670.000 hecta RNM với
hơn 100 loài cây, trong đó châu Á chiếm 41 % diện tích (khoảng 7 triệu hecta),
châu Mỹ có 5.781.000 hecta và châu Phi có 3.402.000 hecta. Hai nước có diện
tích RNM lớn nhất là Inđụnờxia và Braxin (mỗi nước có RNM rộng hơn 3 triệu
hecta) (P.N.Hồng và cộng sự, 1997) [13]
Tomlinson (1986) phân chia các quần xã RNM làm 2 nhúm cú thành phần
loài cây khác nhau. Nhúm phía Đông tương ứng với vùng Ấn Độ - Thái Bình
Dương với số loài cây đa dạng và phong phú. Nhúm phớa Tõy gồm bờ biển
nhiệt đới châu Phi, châu Mĩ ở cả Đại Tây Duơng và Thái Bình Dương, số loài
cây ở đõy ít chỉ bằng 1/5 ở phía đông (Spaluding và cộng sự, 1997). Các loài
chủ yếu là đước đỏ (Rhizophora mangle), mắm (Avicennia germinans),
Laguncularia racemosa. Tuy nhiên kích thước của một số loài cây lại lớn hơn
nhóm phía Đông, ví dụ như ở Braxin đước đỏ cao trên 50 m và ở Ecuado loài
này cao 63 m.(Theo Phan Nguyên Hồng, 1999) [15].
Còn rất nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu về RNM nữa như
Chapman (1975), Rao (1986), Blasco (1984)…
Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học
5
Khóa luận tốt nghiệp
2. Ở Việt Nam
Việt Nam có bờ biển dài khoảng 3260 km và hệ thông sông ngòi dày đặc
chở phù sa đổ ra cửa sông, ven biển tạo ra những bãi lầy tạo điều kiện thuận lợi
cho sự hình thành RNM. Nơi có RNM phát triển tốt nhất là bán đảo Cà Mau.
Trước chiến tranh, diện tích RNM Việt Nam là 4 triệu hecta phân bố chủ yếu là
ở miền Nam Việt Nam. Đến năm 1999, diện tích rừng còn lại 156.608 hecta
trong đó rừng tự nhiên chiếm 38,1% và rừng trồng chiếm 61,95% (Phan Nguyên
Hồng và cs, 2007) [16].
Công trình nghiên cứu có hệ thống về RNM ở Việt Nam đầu tiên là luận án
tiến sỹ quốc gia của Humbert Vũ Văn Cương (1964): “Flore ve’ge’tation de la
mangrove de la re’gion de Saigon, cap saint Jacques”, tác giả mô tả tỉ mỉ các quần

cửa sông với các loài cây chủ yếu như bần chua (Sonneratia caseolaris L.), trang
(Kandelia obovata), sú (Aegiceras corniculatum (L) Blanco), cây thuộc họ Ôrô
(Acanthaceae). Bần có kích thước khá lớn, cao 8-12 m , đường kính 15-20 cm.
• Khu vực III: Bãi bồi hẹp, ít phù sa do bờ biển dốc, nhiều gió bão nên rừng
chỉ là các dải hẹp bên trong các cửa sông. Các loài cây chủ yếu là các loài cây
thuộc họ Đước (Rhizophoracaea), vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza (L.) ), sú
(Aegiceras corniculatum (L.) Blanco), mắm biển (Avicennia marina), cây
thường nhỏ, phân cành nhiều.
• Khu vực IV: Ở đây có nhiều bãi bồi rộng, nhiều phù sa do hệ thống sông
Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long cung cấp, ít gió bão nên RNM phát triển
rất tốt, đặc biệt là bán đảo Cà Mau. Rừng có nhiều loài cây như đước, đưng, dà
vôi, dà quánh, vẹt khang, vẹt tách, vẹt trụ, mắm trắng, mắm đen, mắm biển,
mắm quăn, trang, dừa nước, cóc đỏ, cỏc cõy cú kích thước lớn.
Theo cách phân chia này thì Hải Hà thuộc khu vực I và mang nhiều nét
chung của khu vực này tuy nhiên cũng có những nét riêng biệt về địa hình dẫn
tới hệ thực vật ngập mặn có nhiều đặc điểm khác biệt sẽ được nêu ở phần sau
Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học
7
Khóa luận tốt nghiệp
II. Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái tới sự phân bố và khả
năng tái sinh của cây ngập mặn.
Sống ở môi trường sinh thái nào thỡ cỏc sinh vật sẽ chịu sự tác động đặc
trưng của môi trường đú, cõy ngập mặn sống ở vùng chuyển tiếp giữa môi
trường biển và đất liền là loại môi trường đặc biệt, các nhân tố sinh thái có ảnh
hưởng lớn đến sự phân bố và sinh trưởng của các loài cây ngập mặn. Hầu hết
các tác giả khi nghiên cứu cây ngập mặn thường đề cập đến các nhân tố sinh thái
chủ yếu như: khí hậu, thuỷ triều, độ mặn, địa hình Ngoài ra, yếu tố sinh học và
con người cũng đóng vai trũ khụng nhỏ trong sự phân bố và khả năng tái sinh
của cỏc cõy ngập mặn. Một khó khăn lớn là nhiều loài cây ngập mặn có biên độ
thích nghi rộng về khí hậu, đất, nước, độ mặn. Do đó khi dựa vào một khu phân

sinh được. Còn ở những vùng mưa ít, hạn nhiều thì hệ thực vật nghốo nàn, thưa
thớt, cây thấp bé và rừng không liên tục.
Trần Thị Bình (2002) [2] nhận xét: Lượng mưa trong năm ở tất cả các
huyện thị Quảng Ninh vào loại cao so với cả nước (>2000mm) thuận lợi cho
RNM phát triển và có ảnh hưởng mạnh tới sự phân bố, kích thước cây mắm giữa
các huyện thị.
Gió có tác dụng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự hình thành của rừng ngập
mặn theo nhiều cách. P.N.Hồng (1991) [12] đã nghiên cứu một số tác dụng của
gió đến sự hình thành và phát triển của rừng ngập mặn như: Làm tăng lượng
mưa ở vùng rừng ngập mặn (gió mùa), đưa nước triều vào sâu trong đất liền do
đó mà các cây nước lợ có thể phát triển dọc bờ sông vào sâu trong đất liền trên
dưới 100 km, gió mạnh còn làm thay đổi khí hậu địa phương như giú mựa đông
bắc (tháng 10 đến tháng 2) đem theo không khí lạnh và hanh khụ đó làm hạn chế
sự sinh trưởng của rừng ngập mặn.
2.2. Thủy văn.
Thủy triều không những có tác động trực tiếp lờn cõy ngập mặn bởi mức
độ và thời gian ngập nước mà còn ảnh hưởng đến nhiều yếu tố khác như kết cấu
độ mặn của đất, sự bốc hơi nước, các sinh vật khác trong rừng, các yếu tố này
tác động đến đời sống của cây ngập mặn Mặt khác thủy triều chịu tác động của
Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học
9
Khóa luận tốt nghiệp
gió, lượng mưa và dòng chảy trong sông.
Tìm hiểu đặc điểm của thủy triều liên quan đến sự phân bố và phát triển
của rừng ngập mặn Việt Nam và các nước Đông Nam Á, P.N.Hồng (1991) [12]
có nhận xét: Trong điều kiện khí hậu và đất không có sự khác biệt nhau lớn thì ở
vựng cú chế độ bán nhật triều cây ngập mặn phát triển tốt hơn vựng cú chế độ
nhật triều vì thời gian cây bị ngập lâu hơn cây ở chế độ bán nhật triều nờn cõy
thu được không khí trên mặt đất ít hơn, thời gian đất bị phơi trống ngắn hơn, hạn
chế bớt sự thoát hơi nước trong đất và trong cây, nhất là thời kỡ núng nắng do

trọng nhất ảnh hưởng tới sự phân bố, sinh trưởng, tỉ lệ sống của các loài cây
ngập mặn. Loại rừng này phát triển tốt nhất ở nơi có nồng độ muối trong nước
10 - 25‰ kích thước cây và số loài cũng giảm đi khi độ mặn cao (40 - 80‰)
(Blasco, 1984) [36], ở độ măn 90‰ chỉ có vài loại mắm sống được nhưng sinh
trưởng chậm (Rao, 1986) [39]. Những nơi có độ mặn quá thấp (<4‰) thì cũng
không cú cõy ngập mặn mọc tự nhiên.
Phần lớn cây ngập mặn sinh trưởng và phát triển bình thường ở môi
trường nước có nồng độ muối từ 15 - 35‰. Các loài còn lại thích sống ở những
nơi có độ mặn vừa phải 7 - 25‰. Các loài cây nước lợ không chịu được nồng độ
muối cao trên 30‰ (P.N Hồng và cs, 1997) [13].
Mai Sỹ Tuấn (1995) [33] đã nghiên cứu tác động của bẩy độ mặn khác
nhau: (0,25;50;75;100;125;150‰) lên quá trình nảy mầm tăng trưởng và quang
hợp của cây mắm con. Kết quả cho thấy độ mặn thấp tỉ lệ nẩy mầm cao, tốc độ
nảy mầm nhanh hơn so với độ mặn cao. Khả năng hạt nẩy mầm và sinh trưởng
tốt nhất ở 25‰.
P.N.Hồng (1991) [12] đã chia cỏc cõy ngập mặn thành hai nhóm: Nhúm
có biên độ muối rộng và nhúm cú biên độ muối hẹp.
Vậy độ mặn đóng vai trò lớn tới sự phân bố, sinh trưởng và khả năng tái
sinh của cây ngập mặn.
Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học
11
Khóa luận tốt nghiệp
2.4. Thể nền
Đất RNM do phù sa cỏc sụng mang từ nội địa ra cùng với trầm tích biển do
thủy triều đem vào. Do đó, tính chất của loại đất này phụ thuộc vào nguồn gốc
phù sa và trầm tích, nó rất dễ bị biến đổi dưới tác động của khí hậu, thủy văn, hệ
động thực vật đất. Cây ngập mặn có thể sống trờn cỏc thể nền ngập nước định kì
khác nhau như bùn sét, bựn cỏt, cỏt thụ lẫn sỏi, than bùn Tuy nhiên từng loại thể
nền khác nhau thì sự thích ứng và phân bố của cây ngập mặn là khác nhau và cây
ngập mặn phát triển tốt nhất trên nền bựn sét cú mựn bó hữu cơ.

sinh của cây ngập mặn. RNM phát triển mạnh ở vùng bờ biển nụng, ớt sóng gió
như trong các vịnh cửa sông hình phễu (estuary), sau các mũi đất , eo biển hẹp
hoặc dọc bờ biển cú cỏc dãy đảo che chắn ở ngoài như bờ biển Quảng Ninh
(P.N. Hồng, 1991) [12 ].
2.6. Các nhân tố sinh học và tác động của con người.
Cùng với các yếu tố vô sinh, thành phần sinh vật trong môi trường bãi lầy,
cửa sông ven biển cũng đóng góp đáng kể vào sự hình thành và phân bố RNM.
Nhờ những đặc điểm thích nghi với độ ngập triều sâu, nồng độ muối cao, chống
chịu tốt với các tác động của sóng gió thủy triều nờn cỏc thực vật tiên phong
như các loài cỏ biển và loài thuộc chi mắm (Avicennia), đóng vai trò quan trọng
trong việc tạo điều kiện cho đất ổn định, cho các quần xó cõy ngập mặn đến sau
phát triển.
Vi sinh vật như nấm, vi khuẩn có ý nghĩa to lớn trong việc phân hủy các
chất hữu cơ trong phù sa trầm tích thành các hợp chất khoáng cho cây. Mặt khác
chúng phân hủy các chất rơi rụng của cây ngập mặn tạo thức ăn dinh dưỡng cho
động vật và thực vật trong RNM.
Con người là nhân tố sinh học quan trọng đối với sự phát triển cũng như
suy thoái RNM. Chiến tranh, sự tăng dân số cùng với các hoạt động kinh tế của
mỡnh đó làm diện tich RNM bị suy giảm, làm cho biến đổi tiêu cực tính chất lí
hóa học của đất và lượng sinh vật, gây ra sự biến đổi các quẫn xã thực vật RNM.
Ví dụ : Con người đã thải chất công nghiệp ra vùng ven biển nơi có RNM dẫn
Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học
13
Khóa luận tốt nghiệp
tới cỏc cõy RNM bị chết, không tái sinh được.
Hải Hà cũng không phải là trường hợp ngoại lệ, người dân ở đây chưa
thấy được tầm quan trọng của RNM nên đã chặt phá RNM phục vụ lợi ích kinh
tế trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài. Nơi RNM đã bị chặt phá, hệ thực vật mất
đi dẫn tới mất đi lượng chất rơi rụng của cây ngập mặn và khả năng cố định chất
hữu cơ, dẫn tới đất thoái hóa chặt cứng, hệ thực vật chậm tái sinh, chậm phát

15
Khóa luận tốt nghiệp
III. Đặc điểm địa điểm nghiên cứu.
3.1. Vị trí địa lí, địa hình
Hình 1. Bản đồ khu vực cỏc xó ven biển huyện Hải Hà
Hải Hà là huyện miền núi, biên giới và hải đảo cách thành phố Hạ Long
150 km về phía bắc, cách cửa khẩu quốc tế Múng Cỏi 40 km. Phía bắc giáp với
Trung Quốc, đường biên giới dài 22,8 km, phía nam giáp với biển Đông, chiều
dài bờ biển 35 km, phía tây giáp với các huyện Bình Liêu và Đầm Hà, phía đông
giáp với thị xã Múng Cái.
Tọa độ địa lí: 21
0
12

46
’’
- 107
0
38’ 27’’ vĩ độ bắc.
107
0
30

54
’’
- 107
0
51’ 49’’ kinh độ đông.
Địa hình của huyện nói chung là dốc và phân cắt mạnh mẽ với nhiều sông
suối và cửa sông như Mã Ham, Hà Cối, Pồ Lồ, Đường Hoa và sông Cái Đá Bàn.

. (Theo số liệu
2007, Hồ Thị Phương, trạm khí tượng thủy văn huyện Hải Hà).
Như vậy so với tỉnh Nam Định có nhiệt độ trung bình hàng năm là 24,3
0
C
(Trung tâm khí tượng thủy văn quốc gia năm 2006 - 2007) thì Hải Hà có nhiệt
độ trung bình hàng năm thấp hơn 1,6
0
C.
Chế độ gió: Trong năm hình thành 2 chế độ gió mùa là gió mùa đông bắc
(tháng 10 - 3) và gió mùa tây nam (tháng 4 - 8). Tốc độ gió trung bình đạt 2,5
m/s và đạt cực đại 4,5 m/s trong mưa bão. Mỗi năm trung bình có 3 – 4 cơn bão
lớn nhỏ đổ bộ vào bờ biển.
Chế độ mưa, độ ẩm: Phân thành mùa khô và mùa mưa rõ rệt. Mùa khô
kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, chiếm 15 - 20% lượng mưa cả năm,
thấp nhất là vào tháng 1 (9,3 mm) và tháng 11 (11,1 mm). Mùa mưa kéo dài từ
tháng 5 -10, chiếm 80 – 85 % lượng mưa cả năm. Thỏng có lượng mưa cao nhất
Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học
17
Khóa luận tốt nghiệp
là tháng 6 (630,7 mm). Lượng mưa trung bình năm là 2630,4 mm. Tổng lượng
mưa 6 tháng đầu năm 2008 là 1267,5 mm và tháng 6 là 799,8 mm. Độ ẩm trung
bình đạt 85 – 90 %, tốc độ gió trung bình là 3m/s.
Do lượng mưa lớn như vậy đã tạo dòng nước ngọt tương đối phong phú
thuận lợi cho sự phát triển của RNM. Tuy nhiên, mùa mưa ở Quảng Ninh nói
chung và ở Hải Hà nói riêng không thật trùng với mùa quả hoặc trụ mầm chín
rụng và nảy mầm. Theo P.N.Hồng và cộng sự (1999) thời gian trụ mầm hoặc
quả chín của đõng vào tháng 8, trang vào tháng 3 - 4, vẹt dù có hai đợt 12 - 1 và
tháng 6 - 7 Điều này có ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển trực tiếp RNM ở
đây.

Các bãi triều ven biển chia ra làm hai khu vực theo thành phần trầm tích
như sau :
- Quảng Thành, Quảng Thắng, Quảng Minh, Quảng Điền, có thành phần trầm
tích chủ yếu là cát, cát lẫn sỏi thành phần hạt thô.
- Quảng Phong, Tiến Tới, Đường Hoa, trầm tích cỏc bói triều có thành phần mịn
hơn. Tại Đường Hoa, trầm tớch bãi triều chủ yếu là bột sét nờn hệ thực vật ở
những xã này phát triển hơn và có thành phần loài phong phú hơn so với cỏc xó
khỏc.
Do đặc điểm thể nền khác nhau như vậy đã dẫn tới hệ thực vật ở hai khu vực
này cũng khác nhau, hệ thực vật Do đặc điểm thể nền khác nhau như vậy
đã dẫn tới hệ thực vật ở hai khu vực này cũng khác nhau, hệ thực vật ở Quang
Phong, Tiến Tới, Đường Hoa phong phú và phát triển hơn ở cỏc xã Quảng
Thành, Quảng Thắng, Quảng Minh, Quảng Điền.
(Số liệu theo “Dự thảo quy hoạch nuôi trồng thủy sản mặn lợ huyện Hải Hà giai
đoạn 2006 - 2010’’, 2005)) [6].
Huyện Hải Hà có 7 xã ven biển theo mặt cắt từ phía bắ đến phía nam lần
lượt là: Quảng Thành, Quảng Thắng, Quảng Minh, Quảng Điền, Quảng Phong,
Đường Hoa, Tiến Tới. do điều kiện thời gian nghiên cứu có hạn nên chúng tôi
chọn 4 xã là Quảng Thành, Quảng Minh, Quảng Phong và Tiến Tới để nghiên
cứu được đánh dấu ở hình 2.
Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học
19
Khóa luận tốt nghiệp
Hình. 2 Địa điểm nghiên cứu
Các dấu gạch chéo đen chỉ địa điểm nghiên cứu.
Tổng diện tích bãi triều có thực vật ngập mặn toàn huyện là 1046, thể hiện trong
bảng sau:
Bảng 1. Diện tích bãi triều có thực vật ngập mặn ở huyện Hải Hà.
Xã Q.Thành Q.Thắng Q.Minh Q.Điền Q.Phong Đường
Hoa

2
)
Rừng tự nhiên 25ì60 1.500
Rừng trang trồng 10ì10 100
Quần xã thực vật trong đầm tôm 10ì10 100
Quần xã cỏ tại bãi cát chắn sóng 1ì1 1
Tại cỏc ụ tiêu chuẩn, chọn cỏc ụ có kích thước 5ì5m theo đường chéo của
cỏc ụ tiêu chuẩn để điều tra thành phần loài, dạng sống, cấu trúc rừng, số cây
trưởng thành, số cây tái sinh, đánh giá số lượng , chất lượng cây con tái sinh, số
lượng cây trưởng thành.
- Dùng phương pháp đánh dấu và đếm trực tiếp số lượng cá thể từng loài
cây ngập mặn trong cỏc ụ 5ì5m trong cỏc vựng nghiên cứu.
- Đánh giá độ che phủ (tính độ che phủ) tán lá: Tớnh số lượng cây
trung bỡnh có trong 25m
2
, sau đó đo đường kớnh tỏn cõy. Từ đường kớnh tỏn
Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học
21
Khóa luận tốt nghiệp
cõy và số lượng cây trong ô tiêu chuẩn 25m
2
, tính diện tích che phủ tỏn. Tớnh tỷ
lệ che phủ (bằng diện tích vòng của Crown trên diện tích đất rừng) theo công
thức:
L =S/G (Hall, D.O và cộng sự, 1986) [38]
Với L: tỷ lệ che phủ (%)
S: diện tích che phủ của tán (m
2
)
G: diện tích mặt đất (m

dưới để mẫu thấm đều cồn. Sau đó vớt ra, làm tiêu bản mẫu ộp khụ theo tài liệu
hướng dẫn thực hành của các tác giả Hoàng Thị Sản và Hoàng Thị Bé (2000)
[25]. Mẫu còn lại đeo etiket, sau đó làm tiêu bản giải phẫu cố định theo hướng
dẫn thực hành của các tác giả Hoàng Thị Sản và Nguyễn Tề Chỉnh, 1981 [26].
b) Thẩm định tên khoa học các loài cây ngập mặn thu được.
Chúng tôi chụp hình thỏi cỏc loài cây ngập mặn cần phân loại, đồng thời
thẩm định luụn tên khoa học bằng phương pháp hình thái so sánh dựa vào các tài
liệu thực vật RNM mang theo: “Thực vật rừng ngập mặn Việt Nam”, Nguyễn
Hoàng Trí, 1996 [30] , “Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ”,
Nguyễn Đỡnh Qỳy và cộng sự, 2002 [27]: “Cuộc hành trình xuyên suốt RNM
Việt Nam qua hình ảnh”, P.N.Hồng và cộng sự, 2007 [16].
Hình ảnh và mẫu còn lại đem về phòng thí nghiệm định loại dựa vào tài
liệu “Cõy cỏ Việt Nam” tập 1, 2, 3 của Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) [18], “Sổ
tay cây ngập mặn ở Indonexia” của Shoro Kitamura và cộng sự, 1997 [39]. Một
số mẫu khó, chúng tôi nhờ các chuyên gia kiểm tra giúp tên khoa học.
Trong quá trình tra cứu mẫu, chúng tôi đồng thời tìm hiểu giá trị của các
loài cây nghiên cứu.
4.2.3. Thống kê và xử lý số liệu
- Xác định giá trị trung bình bằng công thức:
Với Với
: Tổng các giá trị X
i
từ 1→ n
N: Tổng số mẫu đo
- Độ lệch chuẩn (δ) phản ánh độ sai lệch hoặc dao động của các giá trị so
với giá trị trung bình cộng được xác định bằng công thức:
Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học
n
X
X

1
δ
23
Khóa luận tốt nghiệp
Sai số m:
Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học
n
m
δ
=
24
Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN.
CHƯƠNG I. THÀNH PHẦN LOÀI CÂY NGẬP MẶN KHU VỰC VEN BIỂN
HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH.
1.1 Danh mục các loài cây ngập mặn ở khu vực nghiên cứu.
Sau khi nghiên cứu ngoài thực địa, thu và phân tích mẫu dựa vào các tài
liệu và sự giúp đỡ của các chuyên gia, chúng tôi đã lập được bảng danh sách các
loài cây ngập mặn ở khu vực bốn xã của Hải Hà, Quảng Ninh như sau: (các loài
xếp theo thứ tự A,B,C, tên khoa học của các họ thực vật trong ngành và theo các
loài trong họ).
Bảng 3. Danh mục các loài cây ngập mặn tại bốn xã ven biển huyện Hải Hà, tỉnh
Quảng Ninh.
PHYL. PTERIDOPHYTA Ngành Dương xỉ

Fam.1 Pteridaceae Họ Chân xỉ

1 Acrostichum aureum Ráng biển
+ Dx 3,4 A
PHYL. ANGIOPSERMAE Ngành Hạt kín

+ G 1,2 A
10 Avicennia marina (Forsk) Vierh Mắm biển
+ G 1,2 A
Fam 8. Combretaceae Họ Bàng

11 Lumnitzera racemosa (Gaud .)
Prese
Cóc vàng
+ G,B 3 A
Fam 9. Casuarinaceae Họ Phi lao

12 Casuarina esqsetifoloa J.R
&Gfost
Phi lao
- G 3,4 QP,QT
Fam 10. Chenopodiaceae Họ Rau muối

13 Suaeda maritima (L.) Dum Muối biển
- M 3,4 A
Fam 11.Convolvulaceae Họ Bìm bìm

14 Impomoea pes-caprae (L.) Br Muống biển
- L 3,4,5,6 A
Fam 12. Euphorbiaceae Họ Thầu dầu

Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học
25

Trích đoạn HUYỆN HẢI HÀ 2.1 Đặc điểm và sự phân bố của RNM Hải Hà. Khả năng tái sinh của một số loài cây ngập mặn chính tại vùngven biển huyện Hải Hà, Quảng Ninh. Hiện trạng RNM huyệnHải Hà, tỉnh Quảng Ninh. PHẦN IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I Kết luận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status