Khóa luận tốt nghiệp Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học 1
PHẦN I : MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài.
Nằm giữa biển và đất liền, rừng ngập mặn (RNM) là một hệ sinh thái
đặc trưng ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới nhưng rất nhạy cảm với tác
động của con người. Hệ động thực vật ở đây có những đặc tính sinh học thích
nghi đặc biệt với môi trường bùn lầy, ngập nước mặn thường xuyên.
Sự tồn tại của RNM có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về môi trường và
kinh tế xã hội, RNM không những cung cấp các lâm sản có giá trị như : gỗ, than,
củi, tanin, thức ăn, thuốc uống RNM còn là nguồn cung cấp mựn bó hữu cơ
nuôi dưỡng các loài thủy sinh tại chỗ hay những loài sống ở vùng cửa sông, ven
biển kế cận, là nơi trú đông của nhiều loài chim di cư, nơi làm tổ của nhiều loài
chim nước (Phan Nguyên Hồng, 1991) [12]. RNM có ý nghĩa quan trọng trong
việc bảo vệ môi trường, điều hòa khí hậu, ngăn chặn gió bão, mở rộng diện tích
lục địa, ngăn nước mặn lấn sâu vào đất liền. RNM còn cung cấp thức ăn để chăn
nuôi gia súc và thả ong, nhờ RNM mà cuộc sống của người dân nghèo ven biển
được cải thiện. RNM còn là địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn của nhiều khách
du lịch trong và ngoài nước, là nơi nghiên cứu và học tập của học sinh và sinh
viên, các nhà khoa học nghiên cứu về hệ sinh thái RNM. Tuy nhiên thảm thực
vật RNM Việt Nam đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng do hậu quả của chiến
tranh. Sau chiến tranh, do điều kiện kinh tế kém phát triển, sự bùng nổ dân số,
do nhận thức của người dân còn thấp nên việc khai thác RNM bừa bãi làm
nguyên liệu, phá RNM làm đầm tôm, lấy đất canh tác, lấy đất làm ruộng muối
dẫn đến diện tích RNM ngày càng bị suy giảm, chất lượng RNM cũng suy giảm
theo, đất bị thoái hóa nghiêm trọng, hàng vạn hecta đất rừng bị bỏ hoang chưa
xen với sú (Aegiceras corniculatum L.Blanco) những loài này đều thuộc dạng
thân bụi, phân cành sát đất, rừng đơn điệu và ít tầng, cây chậm lớn, chậm khộp
tán. Để khắc phục hiện tượng này cần có những biện pháp thích hợp quy hoạch
bãi nuôi tôm, trồng thờm cỏc loài cây ngập mặn có kích thước lớn như trang
(Kandelia obovata, Sheue, Liu & Yong), đõng (Rhizophora stylosa Giff.)… Bên
cạnh đó cần nghiên cứu đưa vào trồng thờm cỏc loài cõy khỏc phù hợp với điều
kiện sống từng vùng làm tăng độ đa dạng sinh học và trả lại màu xanh cho RNM
Hải Hà, song song với việc trồng rừng thì việc phát triển và bảo vệ RNM cũng
cần được quan tâm hơn. Xuất phát từ lí do trên, để việc gây trồng chăm sóc, bảo
Khóa luận tốt nghiệp Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học 3
vệ và phát triển RNM có hiệu quả cần có những kiến thức cơ bản về phân loại,
sinh học, công dụng cũng như biết được thành phần loài, phân bố và tái sinh của
các loài cây ngập mặn của vùng. Mặc dự đó có nhiều tài liệu nghiờn cứu về
RNM nhưng ở Hải Hà chưa có một công trình nào nghiên cứu về thành phần
loài, sự phân bố và khả năng tái sinh của cây ngập mặn ở đây. Xuất phát từ
những lý do trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiờn cứu thành phần loài, sự
phân bố và tái sinh của một số cây ngập mặn chính ở vùng ven biển huyện
Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh”.
II. Mục đích nghiên cứu
Đề tài xác định thành phần loài, nhận biết các loài cây ngập mặn chính để
so sánh khi đi thực địa nhằm mục đích: Phục vụ cho nghiên cứu RNM của
huyện Hải Hà nhằm hiểu biết sâu sắc mối quan hệ giữa các nhân tố sinh thái môi
trường với cây ngập mặn, thấy được sự sinh trưởng của chúng phụ thuộc vào
những yếu tố nào, từ đó có thể đưa ra các loài cây ngập mặn nào phù hợp vào
trưởng và phát triển trong đất liền.
- Góp phần tham gia xây dựng bảo tàng thực vật.
Khóa luận tốt nghiệp Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học 5
Phần II. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
I.Thành phần loài và sự phân bố cây ngập mặn ở Việt Nam và trên thế giới.
1. Trên thế giới
Từ lâu các nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu RNM vỡ nó không chỉ có
ý nghĩa lớn về kinh tế, khoa học mà nó cũn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ
môi trường. Người đầu tiên đề cập đến cây ngập mặn là Nearchus, một đô đốc của
Alexander Đại đế cách đây hơn 2300 năm, khi ông đi tuần tra 5 tháng trên sông
Indus và Euphrates (Java và Tan, 1986) (Theo Phan Nguyên Hồng, 1991) [12]. Kể
từ đó cho đến nay đã có rất nhiều nhà khoa học cựng cỏc công trình nghiên cứu về
RNM xuất hiện.
RNM chỉ có thể mọc tốt ở những vựng cú khí hậu ấm và ẩm, không sống
được ở những vùng lạnh. Trên thế giới có khoảng 16.670.000 hecta RNM với
hơn 100 loài cây, trong đó châu Á chiếm 41 % diện tích (khoảng 7 triệu hecta),
châu Mỹ có 5.781.000 hecta và châu Phi có 3.402.000 hecta. Hai nước có diện
tích RNM lớn nhất là Inđụnờxia và Braxin (mỗi nước có RNM rộng hơn 3 triệu
hecta) (P.N.Hồng và cộng sự, 1997) [13]
Tomlinson (1986) phân chia các quần xã RNM làm 2 nhúm cú thành phần
loài cây khác nhau. Nhúm phía Đông tương ứng với vùng Ấn Độ - Thái Bình
Dương với số loài cây đa dạng và phong phú. Nhúm phớa Tõy gồm bờ biển
nhiệt đới châu Phi, châu Mĩ ở cả Đại Tây Duơng và Thái Bình Dương, số loài
sinh học về RNM đặc biệt là những nghiên cứu của Phan Nguyên Hồng và ụng
đã trở thành giáo sư đầu ngành về nghiên cứu RNM ở Việt Nam.
Số loài cây ngập mặn hiện biết ở ven biển Nam bộ (100 loài), phong phú
hơn ven biển Trung bộ (69 loài) và ven biển Bắc bộ (52 loài). Có sự khác nhau
đó là do sự khác nhau về các đặc điểm khí hậu, địa lí, thuỷ văn (P.N.Hồng,
1999) [14].
Dựa vào các yếu tố địa lí, khảo sát thực địa và một phần kết quả ảnh viễn
thám, P.N.Hồng (1991, 1993) đã chia RNM Việt Nam thành 4 khu vực và 12
tiểu khu:
Khu vực I: Ven biển Đông Bắc, từ mũi Ngọc đến mũi Đồ Sơn.
Khu vực II: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ, từ mũi Đồ Sơn đến mũi Lạch
Trường.
Khóa luận tốt nghiệp Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học 7
Khu vực III: Ven biển Trung Bộ, từ mũi Lạch Trường đến mũi Vũng Tàu.
Khu vực IV: Ven biển Nam bộ, từ mũi Vũng Tàu đến mũi Nải - Hà Tiên.
Khu vực I: RNM phát triển rộng nhờ cỏc dãy đảo che chắn phía ngoài,
các loài cây chủ yếu là đõng (Rhizophora stylosa), trang (Kandelia obovata), vẹt
dù (Bruguiera gymnorrhiza (L)), sú ( Aegiceras corniculatum (L) Blanco), mắm
biển (Avicennia marina). Do nhiệt độ không khí vào mùa đông lạnh nờn cõy cú
kích thước nhỏ, chỉ cao khoảng 1,5 – 7 m.
Khu vực II: Tuy có các bãi bồi rộng, giàu phù sa, nhưng ở đây bãi biển
trống trải, không có các đảo che chắn gió bão nên chỉ có một ít RNM ở trong các
cửa sông với các loài cây chủ yếu như bần chua (Sonneratia caseolaris L.), trang
(Kandelia obovata), sú (Aegiceras corniculatum (L) Blanco), cây thuộc họ Ôrô
các tác giả khi nghiên cứu cây ngập mặn thường đề cập đến các nhân tố sinh thái
chủ yếu như: khí hậu, thuỷ triều, độ mặn, địa hình Ngoài ra, yếu tố sinh học và
con người cũng đóng vai trũ khụng nhỏ trong sự phân bố và khả năng tái sinh
của cỏc cõy ngập mặn. Một khó khăn lớn là nhiều loài cây ngập mặn có biên độ
thích nghi rộng về khí hậu, đất, nước, độ mặn. Do đó khi dựa vào một khu phân
bố cụ thể nào để nhận định tính chất của cây ngập mặn, có thể không áp dụng
được ở vựng khỏc hoặc không thể suy ra tính chất chung cho loại thảm thực vật
này (P.N.Hồng, 1991) [12].
2.1. Ảnh hưởng của khí hậu
Khí hậu gồm nhiều thành phần trong đó nhiệt độ, lượng mưa, gió có ảnh
hưởng nhiều đến sự phân bố, số lượng và sự tái sinh của các loài cây ngập mặn.
Nhiệt độ có ảnh hưởng lớn cả hai quá trình quang hợp và hô hấp. Điều
chỉnh phần lớn các quá trình trao đổi chất và năng lượng nội tại trong cơ thể
thực vật ở những vựng cú nhiệt độ bình quân trong năm cao, biên độ nhiệt giữa
ngày và đêm, giữa cỏc mựa thấp (đồng thời độ ẩm cao) thì rừng ngập mặn phát
triển về kích thước và số loài cây ngập mặn cao, số loài cây ngập mặn giảm hẳn
khi nhiệt độ xuống quá thấp. Ngược lại khi nhiệt độ lên quá cao (trên 35
0
C)
cũng ảnh hưởng đến hoạt động sinh lí của cây về đốt nóng lá, khiến cho cõy
thoỏt hơi nước nhanh và nhiều, hô hấp tăng, quang hợp giảm, năng suất sơ cấp
giảm (P.N. Hồng, 1991) [12].
Lượng mưa có ảnh hưởng rất rõ rệt đến sự sinh trưởng và phân bố, tái
sinh của cây ngập mặn. Theo Blasco, 1984 [36] cho rằng rừng cây ngập mặn
Khóa luận tốt nghiệp Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học 10
Tìm hiểu đặc điểm của thủy triều liên quan đến sự phân bố và phát triển
của rừng ngập mặn Việt Nam và các nước Đông Nam Á, P.N.Hồng (1991) [12]
có nhận xét: Trong điều kiện khí hậu và đất không có sự khác biệt nhau lớn thì ở
vựng cú chế độ bán nhật triều cây ngập mặn phát triển tốt hơn vựng cú chế độ
nhật triều vì thời gian cây bị ngập lâu hơn cây ở chế độ bán nhật triều nờn cõy
thu được không khí trên mặt đất ít hơn, thời gian đất bị phơi trống ngắn hơn, hạn
chế bớt sự thoát hơi nước trong đất và trong cây, nhất là thời kỡ núng nắng do
vậy cây sinh trưởng chậm, ví dụ: Rừng ngập mặn ở Nam Bộ Việt Nam phát triển
hơn vùng ven biển Quảng Ninh vì vùng biển Nam Bộ có chế độ bán nhật triều
còn ở Quảng Ninh có chế độ nhật triều. Ngoài ra biên độ triều cũng ảnh hưởng
rõ rệt đến sự phõn bố của cây ngập mặn, chỉ ở những nơi có biên độ triều cao
trung bình (2-3m), địa hình bằng phẳng thì cây ngập mặn phân bố rộng và sâu
vào trong đất liền, ví dụ ở lưu vực sông Cửu Long và phía đông Cà Mau, cỏc
dũng triều chịu tác động của gió, nhất là gió mùa và lưu lượng sông vào mùa
mưa, cỏc dũng triều không những tác động đến các yếu tố nhiệt độ, độ mặn, sự
vận chuyển trầm tích và dinh dưỡng ở trong và ngoài vựng rựng ngập mặn mà
còn là nhân tố quan trọng trong việc phân tán hạt và cây con.
Theo Mai Sỹ Tuấn (1980) [32] thì ở những vựng cú cùng mức độ thủy
triều thì thời gian và mức độ ngập quyết định lớn đến sự sinh trưởng và phân bố
của cây ngập mặn nói chung và các cây thuộc chi mắm (Avicennia) nói riêng.
Hệ thống sông cung cấp nước ngọt và phù sa: Dòng nước ngọt do cỏc
sụng, rạch đem ra rừng ngập mặn ảnh hưởng đến sự phân bố và phát triển của
cây ngập mặn vì nước sông mang theo chất phù sa cần thiết cho ngập mặn. Mặt
khác nước ngọt làm pha loãng độ mặn nước biển, phù hợp với một số loài cây
nảy mầm nhanh hơn so với độ mặn cao. Khả năng hạt nẩy mầm và sinh trưởng
tốt nhất ở 25‰.
P.N.Hồng (1991) [12] đã chia cỏc cõy ngập mặn thành hai nhóm: Nhúm
có biên độ muối rộng và nhúm cú biên độ muối hẹp.
Vậy độ mặn đóng vai trò lớn tới sự phân bố, sinh trưởng và khả năng tái
sinh của cây ngập mặn.
Khóa luận tốt nghiệp Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học 12
2.4. Thể nền
Đất RNM do phù sa cỏc sụng mang từ nội địa ra cùng với trầm tích biển do
thủy triều đem vào. Do đó, tính chất của loại đất này phụ thuộc vào nguồn gốc
phù sa và trầm tích, nó rất dễ bị biến đổi dưới tác động của khí hậu, thủy văn, hệ
động thực vật đất. Cây ngập mặn có thể sống trờn cỏc thể nền ngập nước định kì
khác nhau như bùn sét, bựn cỏt, cỏt thụ lẫn sỏi, than bùn Tuy nhiên từng loại thể
nền khác nhau thì sự thích ứng và phân bố của cây ngập mặn là khác nhau và cây
ngập mặn phát triển tốt nhất trên nền bựn sét cú mựn bó hữu cơ.
Năm 1980, Mai Sỹ Tuấn [33] trình bày kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của
đất tới sự sinh trưởng của các loài thuộc chi mắm (Avicennia) trờn các nền đất
khác nhau đã thấy rằng : Đất ven biển Tuần Châu (Quảng Ninh) nhiều cỏt thụ và
sỏi đỏ, nghốo dinh dưỡng nên sinh trưởng chậm, còi cọc, kích thước bộ, phõn cành
sát gốc. Đất Nam bộ giàu phù sa, giàu mựn bó hữu cơ nờn cõy sinh trưởng tốt.
Các RNM vựng Yờn Hưng (Quảng Ninh) nhận phù sa từ đất lateritic ở
vùng đồi do cỏc sụng Chanh, Bạch Đằng chuyển ra (cùng với điều kiện khí
hậu không thuận lợi) nên các loài cây ở đây thường thấp bé. RNM ở miền Tây
2.6. Các nhân tố sinh học và tác động của con người.
Cùng với các yếu tố vô sinh, thành phần sinh vật trong môi trường bãi lầy,
cửa sông ven biển cũng đóng góp đáng kể vào sự hình thành và phân bố RNM.
Nhờ những đặc điểm thích nghi với độ ngập triều sâu, nồng độ muối cao, chống
chịu tốt với các tác động của sóng gió thủy triều nờn cỏc thực vật tiên phong
như các loài cỏ biển và loài thuộc chi mắm (Avicennia), đóng vai trò quan trọng
trong việc tạo điều kiện cho đất ổn định, cho các quần xó cõy ngập mặn đến sau
phát triển.
Vi sinh vật như nấm, vi khuẩn có ý nghĩa to lớn trong việc phân hủy các
chất hữu cơ trong phù sa trầm tích thành các hợp chất khoáng cho cây. Mặt khác
chúng phân hủy các chất rơi rụng của cây ngập mặn tạo thức ăn dinh dưỡng cho
động vật và thực vật trong RNM.
Con người là nhân tố sinh học quan trọng đối với sự phát triển cũng như
suy thoái RNM. Chiến tranh, sự tăng dân số cùng với các hoạt động kinh tế của
mỡnh đó làm diện tich RNM bị suy giảm, làm cho biến đổi tiêu cực tính chất lí
hóa học của đất và lượng sinh vật, gây ra sự biến đổi các quẫn xã thực vật RNM.
Khóa luận tốt nghiệp Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học 14
Ví dụ : Con người đã thải chất công nghiệp ra vùng ven biển nơi có RNM dẫn
tới cỏc cõy RNM bị chết, không tái sinh được.
Hải Hà cũng không phải là trường hợp ngoại lệ, người dân ở đây chưa
thấy được tầm quan trọng của RNM nên đã chặt phá RNM phục vụ lợi ích kinh
tế trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài. Nơi RNM đã bị chặt phá, hệ thực vật mất
đi dẫn tới mất đi lượng chất rơi rụng của cây ngập mặn và khả năng cố định chất
hữu cơ, dẫn tới đất thoái hóa chặt cứng, hệ thực vật chậm tái sinh, chậm phát
+ Trụ mầm trang đang trưởng thành và bắt đầu chín.
Các đợt khảo sát này tiến hành ở các thời gian khác nhau với điều kiện
khí hậu khác nhau nhằm tìm hiểu khả năng tái sinh, sống sót của cây con .
Khóa luận tốt nghiệp Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học 16
III. Đặc điểm địa điểm nghiên cứu.
3.1. Vị trí địa lí, địa hình
Hình 1. Bản đồ khu vực cỏc xó ven biển huyện Hải Hà
Hải Hà là huyện miền núi, biên giới và hải đảo cách thành phố Hạ Long
150 km về phía bắc, cách cửa khẩu quốc tế Múng Cỏi 40 km. Phía bắc giáp với
Trung Quốc, đường biên giới dài 22,8 km, phía nam giáp với biển Đông, chiều
dài bờ biển 35 km, phía tây giáp với các huyện Bình Liêu và Đầm Hà, phía đông
giáp với thị xã Múng Cái.
Tọa độ địa lí: 21
0
12
’
46
’’
- 107
0
38’ 27’’ vĩ độ bắc.
107
0
0
C, nhiệt độ cao nhất vào tháng
7 là 31,2
0
C. Do biên độ nhiệt lớn đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây, một
số loài cây ngập mặn ở miền Nam không có mặt ở đây, cõy cú kích thước nhỏ so
với miền Nam.
Bức xạ tổng số là yếu tố quan trọng trong sự hình thành khí hậu, quyết
định sự sống và phát triển của thực vật và sinh vật phù du. Tổng bức xạ trung
bình là 200 kcal/cm
2
/năm, cao nhất vào tháng 7 là 286 kcal/cm
2
. (Theo số liệu
2007, Hồ Thị Phương, trạm khí tượng thủy văn huyện Hải Hà).
Như vậy so với tỉnh Nam Định có nhiệt độ trung bình hàng năm là 24,3
0
C
(Trung tâm khí tượng thủy văn quốc gia năm 2006 - 2007) thì Hải Hà có nhiệt
độ trung bình hàng năm thấp hơn 1,6
0
C.
Chế độ gió: Trong năm hình thành 2 chế độ gió mùa là gió mùa đông bắc
(tháng 10 - 3) và gió mùa tây nam (tháng 4 - 8). Tốc độ gió trung bình đạt 2,5
m/s và đạt cực đại 4,5 m/s trong mưa bão. Mỗi năm trung bình có 3 – 4 cơn bão
lớn nhỏ đổ bộ vào bờ biển.
Chế độ mưa, độ ẩm: Phân thành mùa khô và mùa mưa rõ rệt. Mùa khô
kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, chiếm 15 - 20% lượng mưa cả năm,
Khóa luận tốt nghiệp
là nhật triều. Trong một thỏng có kỡ nước cường, biên độ dao động sóng 0,5 -
1m. Đây cũng là khu vực có độ cao của triều lớn nhất dải ven biển Việt Nam, có
thể đạt tới 4 - 5m. Chế độ sóng phụ thuộc vào chế độ gió theo mùa và hình dạng
địa hình khu vực. Tuy nhiên, do địa hình vùng ven biển ven bờ huyện và cửa
sông tương đối kớn nờn ớt chịu ảnh hưởng của sóng ngoài khơi vịnh Bắc Bộ,
Khóa luận tốt nghiệp Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học 19
sóng nội tại hình thành tương đối yếu, không quá 1m trong gió bão. Điều này
cũng tạo thuận lợi cho sự phân bố và sinh trưởng của cây ngập mặn.
3.4. Độ mặn.
Độ mặn cao nhất vào mùa là 30 - 31‰ do thời kì này ít mưa. Độ mặn thấp
nhất là và mùa mưa là 10 - 15‰. Trong vùng cửa sông đổ ra vịnh, độ mặn thấp
nhất có thể xuống tới 2 - 4‰. Độ mặn ở Thái Bình thấp hơn, vào mùa lũ từ 9 -
17 ‰ và mùa khô từ 23 - 30 ‰. Độ mặn ở đây tương đối cao phù hợp với sự
sinh trưởng phát triển của những loài chịu mặn cao như mắm, sú.
3.5. Thể nền.
Các bãi triều ven biển chia ra làm hai khu vực theo thành phần trầm tích
như sau :
- Quảng Thành, Quảng Thắng, Quảng Minh, Quảng Điền, có thành phần trầm
tích chủ yếu là cát, cát lẫn sỏi thành phần hạt thô.
- Quảng Phong, Tiến Tới, Đường Hoa, trầm tích cỏc bói triều có thành phần mịn
hơn. Tại Đường Hoa, trầm tớch bãi triều chủ yếu là bột sét nờn hệ thực vật ở
những xã này phát triển hơn và có thành phần loài phong phú hơn so với cỏc xó
khỏc.
Do đặc điểm thể nền khác nhau như vậy đã dẫn tới hệ thực vật ở hai khu
Đường
Hoa
Tiến
Tới
Diện
tích(ha)
72,11
54,60
209,87
59,99
420,36
76,87
152,9
(Theo số liệu của “Dự thảo quy hoạch nuôi trồng thủy sản mặn, lợ huyện Hải Hà
giai đoaạn 2006 - 2010’’, 2005, phòng Nông lâm ngư nghiệp huyện Hải Hà) [6]
IV. Phương pháp nghiên cứu.
4.1.Ngoài thực địa
a) Đo, đếm ngoài thực địa.
- Chọn bờ đê cao hoặc đỉnh các đồi đất cao ven biển tại các địa điểm nghiên
cứu làm điểm đứng quan sát, nhận xét sơ bộ về thành phần loài, sự phân bố và
cấu trúc quần xã thực vật.
Khóa luận tốt nghiệp Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học 21
Theo Phùng Ngọc Đĩnh và cộng sự, 2001 [7] chọn tuyến nghiên cứu là
việc quan trọng khi nghiên cứu thảm thực vật ngoài tự nhiên vỡ nó giỳp nghiên
trưởng thành, số cây tái sinh, đánh giá số lượng , chất lượng cây con tái sinh, số
lượng cây trưởng thành.
- Dùng phương pháp đánh dấu và đếm trực tiếp số lượng cá thể từng loài
cây ngập mặn trong cỏc ụ 5ì5m trong cỏc vựng nghiên cứu.
- Đánh giá độ che phủ (tính độ che phủ) tán lá: Tớnh số lượng cây
trung bỡnh có trong 25m
2
, sau đó đo đường kớnh tỏn cõy. Từ đường kớnh tỏn
cõy và số lượng cây trong ô tiêu chuẩn 25m
2
, tính diện tích che phủ tỏn. Tớnh tỷ
Khóa luận tốt nghiệp Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học 22
lệ che phủ (bằng diện tích vòng của Crown trên diện tích đất rừng) theo công
thức:
L =S/G (Hall, D.O và cộng sự, 1986) [38]
Với L: tỷ lệ che phủ (%)
S: diện tích che phủ của tán (m
2
)
G: diện tích mặt đất (m
2
)
- Đánh giá khả năng tái sinh của cây con: Tiến hành đếm số lượng cây
con tái sinh tổng số và phân loại các cây con tái sinh ở trong ô 5ì5m dưới tán
dưới để mẫu thấm đều cồn. Sau đó vớt ra, làm tiêu bản mẫu ộp khụ theo tài liệu
hướng dẫn thực hành của các tác giả Hoàng Thị Sản và Hoàng Thị Bé (2000)
[25]. Mẫu còn lại đeo etiket, sau đó làm tiêu bản giải phẫu cố định theo hướng
dẫn thực hành của các tác giả Hoàng Thị Sản và Nguyễn Tề Chỉnh, 1981 [26].
b) Thẩm định tên khoa học các loài cây ngập mặn thu được.
Chúng tôi chụp hình thỏi cỏc loài cây ngập mặn cần phân loại, đồng thời
thẩm định luụn tên khoa học bằng phương pháp hình thái so sánh dựa vào các tài
liệu thực vật RNM mang theo: “Thực vật rừng ngập mặn Việt Nam”, Nguyễn
Hoàng Trí, 1996 [30] , “Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ”,
Nguyễn Đỡnh Qỳy và cộng sự, 2002 [27]: “Cuộc hành trình xuyên suốt RNM
Việt Nam qua hình ảnh”, P.N.Hồng và cộng sự, 2007 [16].
Hình ảnh và mẫu còn lại đem về phòng thí nghiệm định loại dựa vào tài
liệu “Cõy cỏ Việt Nam” tập 1, 2, 3 của Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) [18], “Sổ
tay cây ngập mặn ở Indonexia” của Shoro Kitamura và cộng sự, 1997 [39]. Một
số mẫu khó, chúng tôi nhờ các chuyên gia kiểm tra giúp tên khoa học.
Trong quá trình tra cứu mẫu, chúng tôi đồng thời tìm hiểu giá trị của các
loài cây nghiên cứu.
4.2.3. Thống kê và xử lý số liệu
- Xác định giá trị trung bình bằng công thức:
n
X
X
n
i
i
TB
1
Sai số m:
Khóa luận tốt nghiệp Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học 24
n
m
Khóa luận tốt nghiệp Phạm Bích Thảo K55 – Sinh học 25
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN.
CHƯƠNG I. THÀNH PHẦN LOÀI CÂY NGẬP MẶN KHU VỰC VEN BIỂN
HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH.
1.1 Danh mục các loài cây ngập mặn ở khu vực nghiên cứu.
Sau khi nghiên cứu ngoài thực địa, thu và phân tích mẫu dựa vào các tài
liệu và sự giúp đỡ của các chuyên gia, chúng tôi đã lập được bảng danh sách các
loài cây ngập mặn ở khu vực bốn xã của Hải Hà, Quảng Ninh như sau: (các loài
xếp theo thứ tự A,B,C, tên khoa học của các họ thực vật trong ngành và theo các
1
Acrostichum aureum
Ráng biển
+
Dx
3,4
A
PHYL. ANGIOPSERMAE
Ngành Hạt kín CLASS 1. DICOTYLEDONEAE
Lớp Hai lá mầm Fam.2. Acanthaceae
Họ ễrụ
2
Acanthus ilicifolius L.
G
3,4
QM
Fam 5. Apiaceae
Họ Hoa tán
5
Centella asiatica L .
Cây rau má
-
C
3
A
Fam 6. Asteraceae
Họ Cúc
6
Plucchea pteropoda Hemsl
Sài hồ nam, cỏ lức
-
C
4,5
Avicennia marina (Forsk) Vierh
Mắm biển
+
G
1,2
A
Fam 8. Combretaceae
Họ Bàng
11
Lumnitzera racemosa (Gaud .)
Prese
Cóc vàng
+
G,B
3
A
Fam 9. Casuarinaceae
Họ Phi lao
12
Casuarina esqsetifoloa J.R