Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHUÔN KHỔ CHI TIÊU
TRUNG HẠN
1.1 Khái niệm và đặc trưng cơ bản của khuôn khổ chi tiêu trung hạn
1.1.1 Khái niệm về khuôn khổ chi tiêu trung hạn.
Trước đây, việc lập ngân sách theo từng năm một là cách làm phổ biến ở các
nước. Ngân sách được sử dụng chủ yếu để kiểm soát các cơ quan quản lý chứ không
phải để bảo đảm thực thi chính sách một cách hiệu quả, và mối quan tâm chủ yếu tập
trung vào sự tuân thủ quy trình, thủ tục mà không chú ý đến các mục tiêu, đầu ra, kết
quả ngân sách. Cách làm này không khuyến khích chính phủ xác lập ưu tiên chi tiêu
một cách chiến lược cho một giai đoạn, khiến cho các Bộ khó dự liệu các nguồn thu
cho các khoản chi. Các xu hướng chính sách mới có ít cơ hội được đưa vào thực hiện
vì ngân sách hàng năm đã lập sẵn cho các chương trình hiện hành, không phản ứng
kịp với những thay đổi khách quan.
Nhận thấy những nhược điểm nói trên, nhiều nước đã chuyển sang lập ngân
sách theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn (MTEF là viết tắt của Medium Expenditure
Framework). Mục đích của khuôn khổ chi tiêu trung hạn là xác định quy mô các
nguồn lực tài chính cần để thực hiện chính sách hiện hành trong trung hạn. Khuôn khổ
đó bao gồm việc cân đối các nhu cầu của các lĩnh vực với tổng nguồn lực hiện có, trên
cơ sở các ưu tiên tổng thể của Quốc gia và của từng Bộ. Khuôn khổ này đòi hỏi phải
lập các chiến lược ngành trong trung hạn và xác định rõ nhiệm vụ, mục tiêu, kết quả
hoạt động. Trên cơ sở đó, xây dựng một ngân sách của ngành, bao gồm cả chi thường
xuyên và chi đầu tư nhằm phản ánh những chi phí cần thiết của các chính sách
ngành.Tổng nhu cầu chi tiêu được xác định trên cơ sở xác định chi phí cho các hoạt
động đã được quyết định, được lựa chọn ưu tiên nhằm đạt các sản phẩm đầu ra trong
mỗi lĩnh vực.
MTEF là sự thay đổi phương thức soạn lập ngân sách theo khuôn khổ chi tiêu trung
hạn nhằm kết nối chặt chẽ giữa tài chính (lập dự toán ngân sách) với chính sách phát
triển KTXH, kế hoạch và chiến lược phát triển ngành phù hợp với mục tiêu điều kiện
của quốc gia, ngành hoặc lãnh thổ (địa phương). Đó là một phương thức soạn lập ngân
Một khuôn khổ chi tiêu trung hạn bao gồm hai phần là kế hoạch tài chính
trung hạn (MTFF) và kế hoạch chi tiêu trung hạn (MTEFs). Kế hoạch tài chính trung
hạn là một phần của phương thức soạn lập ngân sách theo khuôn khổ chi tiêu trung
2
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
hạn, nhằm xây dựng chính sách tài chính trên cơ sở dự báo kinh tế vĩ mô, xác định
nguồn lực và ưu tiên phân bổ nguồn lực (theo quy trình từ trên xuống). Kế hoạch chi
tiêu trung hạn (KHCTTH) là một phần của phương thức soạn lập ngân sách theo
khuôn khổ chi tiêu trung hạn (theo quy trình từ dưới lên).
Phạm vi nghiên cứu chỉ xem xét đến việc xây dựng Kế hoạch chi tiêu trung
hạn mà cụ thể là cho ngành Giáo dục. Đây là kế hoạch chi ngân sách của từng ngành,
từng đơn vị trong thời gian trung hạn (từ 3-5 năm), kể từ năm dự toán ngân sách tiếp
theo, được lập hàng năm theo phương thức “cuốn chiếu”. Trong đó KHCHTH trình
bày mục tiêu, nhiệm vụ, hoạt động, chế độ, chính sách cơ bản, chủ yếu của từng
ngành, từng cơ quan đơn vị sẽ thực hiện trong trung hạn và dự báo các nguồn lực tài
chính, trong đó dự báo cụ thể nguồn lực tài chính công để thực hiện. Mặt khác,
KHCTTH thể hiện cách thức xác định, sắp xếp thứ tự ưu tiên thực hiện các nhiệm vụ,
hoạt động, chế độ, chính sách và dự kiến cụ thể kinh phí trong tổng mức trần chi tiêu
được xác định trước. Đồng thời trình bày một số giải pháp chủ yếu để cân đối giữa
nhu cầu chi và khả năng nguồn lực tài chính công, đưa ra các cảnh báo về nợ dự
phòng.
1.1.2 Đặc trưng của khuôn khổ chi tiêu trung hạn.
1.1.2.1 Đặc trưng của MTEF.
Chi tiêu gắn với nguồn lực hiện có, gắn chi tiêu với chính sách và kết quả.
Việc áp dụng lập ngân sách gắn với kết quả đầu ra là việc quản lý chi tiêu dựa vào cơ
sở tiếp cận những thông tin đầu ra giúp cho các cơ quan nhà nước và chính phủ có thể
phân bổ nguồn lực tài chính nhằm đạt được những mục tiêu chiến lược một cách hiệu
suất và hiệu quả. Trong đó việc lập ngân sách truyền thống thì không rõ ràng, việc tính
toán dựa vào các yếu tố đầu vào là chủ yếu nên thiếu tính minh bạch.
hạn 2010
Dự toán trung
hạn 2009
Số liệu năm (n+2),(n+3) được sử dụng để
phân bổ ngân sách cho chu kỳ KHCTTH
tiếp theo có điều chỉnh theo ưu tiên chính
sách mới và tình hình vĩ mô.
Dự toán trung
hạn 2011
Dự toán trung
hạn 2010
Dự toán NS
2009
KẾ HOẠCH CHI TIÊU TRUNG HẠN 2009-2011
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
MTEF là sự kết hợp cả hai quy trình là trần nguồn lực giao từ trên xuống
kết hợp việc lập ngân sách từ dưới lên. Đầu tiên các Bộ tổng hợp (Bộ Kế hoạch Đầu
tư và Bộ Tài chính) đưa ra dự báo kinh tế vĩ mô, khuôn khổ tài khóa và các mức trần
chi tiêu cho các ngành tiếp đó các bộ chủ quản, các tỉnh, các đơn vị chi tiêu lập dự
toán trung hạn gồm mức chi tiêu cơ sở và chi tiêu sáng kiến mới mới dựa trên mức
trần, xu hướng, ưu tiên, chiến lược, các nguồn vốn của ngành.
Theo KKCTTH dự toán ngân sách được lập gồm 2 phần:
Chi tiêu cơ sở: được xác định là chi cho các khoản chi (thường xuyên và đầu
tư) nhằm đảm bảo cho các chính sách và hoạt động hiện hành. Các khoản chi này gồm
2 loại chi tiêu:
+ Dự kiến chi trong 3 năm để duy trì chính sách hiện hành với các
tiêu chí và tiêu chuẩn hiện hành.
+ Dự kiến chi nhằm triển khai các chính sách và hoạt động của Chính
phủ khi nguồn vốn được xác định và nhất trí công khai bằng luật hay thẩm quyền
trình này được lặp đi lặp lại từng năm để hỗ trợ việc lập ngân sách sát với thực tế
(cuốn chiếu), trong đó ngân sách được phân bổ theo từng gói cho các năm trong giai
đoạn trung hạn, việc lập ngân sách này chủ yếu là tập trung vào kết quả hoạt động và
có sự gắn kết giữa chi thường xuyên và chi đầu tư.
Việc áp dụng lập ngân sách theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn sẽ khắc phục được
một số nhược điểm của ngân sách truyền thống.
Thứ nhất: Việc áp dụng ngân sách truyền thống chưa phát triển được đầy đủ hệ
thống thông tin nhằm cân đối nguồn lực với các ưu tiên của chính phủ. Hiện tại, các
mục tiêu của Kế hoạch phát triển KT-XH không được liên kết rõ ràng với nguồn lực,
vì vậy có thể sẽ không có nguồn lực để đáp ứng các chính sách này.
Thứ hai: Khuôn khổ ngân sách hiện tại cũng không gắn việc đạt mục tiêu và đáp
ứng các chỉ tiêu với số ngân sách cần có, việc kiểm soát đầu vào được coi trọng hơn
trong khi ít quan tâm đến việc cải thiện kết quả đầu ra thông qua việc đáp ứng các
mục tiêu và chỉ tiêu của ngành. Theo quy trình ngân sách trước đây, thì ngân sách
hàng năm được lập trên cơ sở tăng thêm (cộng thêm x% so với số dự toán của năm
trước đó) mà không xét tới việc có nên tiếp tục tiến hành các hoạt động đang được
cung cấp tài chính hay không. Các hoạt động này diễn ra từ năm này sang năm khác
trong khi nguồn lực không hẳn đã tăng lên tương ứng. Dẫn đến việc bỏ qua nhiều
chương trình, hoạt động mới hiệu quả hơn.
6
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
Thứ ba: Lập ngân sách truyền thống không đảm bảo tính kế thừa giữa kế hoạch và
lập ngân sách các năm. Ngân sách soạn lập theo chu kỳ hàng năm, do đó nó không
được đánh giá, xem xét sự phân bổ nguồn lực gắn kết với những chương trình phát
triển kinh tế xã hội dài hạn. Nguồn lực của NS phân bổ mang tính dàn trải, thiếu sự
xác định thứ tự ưu tiên chi tiêu. Cách phân bổ ngân sách hiện nay không dựa trên nền
tảng lý luận tài chính Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, thiếu chiến lược rõ ràng,
không cho phép đạt được các mục tiêu mong muốn của Chính phủ.
Thứ tư: Việc đàm phán ngân sách giữa các bộ ngành và địa phương với Bộ Tài
2. Xây dựng các
mục tiêu chiến lược
1.Xác định giới hạn
trần chi tiêu và các
chiến lược nguồn tài
trợ
6. Lựa chọn và
quyết định ưu
tiên
8. Đánh giá tính
khả thi của các
đề xuất.
4. Tính toán chi
phí cho các
hoạt động và
các đầu ra
3. Xây dựng các
đầu ra và các hoạt
động
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
Để đạt được kết quả cao hơn từ nguồn lực hiện có, MTEF đòi hỏi phải thiết lập các
công cụ để phân bổ nguồn lực phù hợp với mục tiêu chiến lược ưu tiên. Do vậy cần
xác định trước mức giới hạn nguồn lực để chủ động phân bổ chúng cho các ưu tiên,
trình tự này thực hiện như sau:
- Xác định giới hạn trần cho quốc gia (khung tài chính). Trên cơ sở đó, xác định
giới hạn trần cho các địa phương, ngành, các đơn vị.
- Đối với một đơn vị, bộ ngành, địa phương, trần ngân sách có thể có hai phần:
trần ngân sách cho chi tiêu cơ sở và trần ngân sách cho chi tiêu sáng kiến mới.
- Đánh giá các nguồn lực sẵn có, ước tính chi phí thực tế của việc thực hiện
- Xác định chi phí thực hiện các hoạt động.
- So sánh chi phí với nguồn lực sẵn có.
- Sắp xếp thứ tự ưu tiên và giảm các khả năng để phù hợp với nguồn lực sẵn có.
Sơ đồ 1.3: Các yếu tố cần thiết để xác định đầu ra.
Giải thích các yếu tố của sơ đồ:
Đầu ra là hàng loạt hàng hóa công do cơ quan Nhà nước tạo ra và cung cấp cho xã
hội.
Kết quả là các tác động, ảnh hưởng đến cộng đồng từ quá trình tạo ra một đầu ra
hoặc nhóm các đầu ra. Kết quả kế hoạch là mục tiêu của Chính phủ cố gắng đạt được
thông qua các đầu ra.
Đầu vào là những nguồn lực được các cơ quan, đơn vị công sử dụng để thực hiện
các hoạt động và từ đó tạo nên kết quả đầu ra.
Chi phí là số tiền (nguồn lực tài chính) được chi ra (phân phối và sử dụng) để
trang trải cho đầu vào.
Tính hiệu quả: Liên quan đến đầu ra và nguồn lực đầu vào cần thiết. Chỉ số hiệu
quả được tính toán thông qua các chỉ tiêu: chi phí trên một đơn vị đầu ra; chi phí trung
bình của xã hội để sản xuất một đơn vị đầu ra.
9
(1)
Chi phí
Đầu vào
(1) So sánh kinh tế
(2) So sánh hiệu suất
(3) Mức độ thành công
(4) Hiệu quả sử dụng
nguồn lực
(2)
Hoạt động
(4)
Đầu ra
- Lạm phát
- Tác động của việc thay đổi số lượng dịch vụ sẽ cung cấp.
- Chi phí thường xuyên cho các dự án đầu tư và các dự án của các nhà tài trợ.
10
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
- Phần cung cấp của đối tác cho các chương trình và các dự án của các nhà
tài trợ.
- Sức ép đối với dòng ngân sách chính- chi phí vượt trội, quỹ của các nhà tài
trợ mà đã được lên ngân sách trước kia nhưng chưa được thực hiện, giảm
đóng góp của cộng đồng (đã có kế hoạch)
• Bước 6: Lựa chọn và quyết định ưu tiên.
Do tổng dự toán của tất cả các hoạt động có thể lớn hơn mức trần chi tiêu đã
thông báo do vậy cần phải sắp xếp các danh mục và lựa chọn ưu tiên. Việc sắp xếp
này phải theo những tiêu chí nhất định. Các hoạt động, quyết định cần sắp xếp theo
các yếu tố sau:
- Tác động trực tiếp: Đầu ra và hoạt động đóng góp vào việc đạt được mục tiêu
của Bộ ngành, đơn vị, hoạt động nào giải quyết được vấn đề hoặc cải thiện được tình
hình phải được ưu tiên nhiều hơn.
- Khung thời gian: Các đầu ra và hoạt động có thể giải quyết vấn đề mau chóng
nhất và có tác động lâu dài sẽ được ưu tiên nhiều hơn.
- Hiệu suất chi phí: Vì các nguồn lực là có hạn nên viêc lựa chọn các đầu ra và
hoạt động với chi tiêu thấp nhất sẽ được ưu tiên nhiều hơn.
- Năng lực thực hiện: Năng lực thực hiện của các Bộ, ngành ,đơn vị được coi là
nhân tố quan trọng trong việc sắp xếp thứ tự ưu tiên giữa các đầu ra, những trung tâm
chi phí có năng lực thực thi cao hơn hoặc các đầu ra hay hoạt động có nhu cầu vốn
thấp hơn cần phải được ưu tiên hơn.
- Nhu cầu về vốn: một số hoạt động có nhu cầu về vốn cao ngay khi cả chúng ít
được ưu tiên hơn.
Sau khi đã sắp xếp các thứ tự ưu tiên ta sẽ giảm dự toán trên cơ sở ưu tiên.
phát triển kinh tế xã hội trong tương lai cần được dựa trên các dự đoán hợp lý về
nguồn lực trong tương lai.
Xác lập rõ ràng trong tư duy ưu tiên nguồn lực. MTEF tạo ra một cơ chế tốt hơn
cho việc sắp xếp hợp lý các khoản ngân sách phù hợp với chính sách. Lập kế hoạch
ngân sách, về thực chất là cách bố trí ngân sách cho tương lai theo kiểu dàn trải, dàn
12
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
đều hay có lựa chọn cho ưu tiên. MTEF chính là công cụ giúp làm công việc bố trí
ngân sách từ ưu tiên thấp sang ưu tiên cao hơn, từ tầm nhìn ngắn hạn (từng năm một),
phân tán rời rạc sang tầm nhìn trung hạn (3 năm), có liên kết giữa chi đầu tư và chi
thường xuyên và liên kết giữa các ngành gắn kết tốt với mục tiêu.
Chấp hành kỷ luật ngân sách. Các khoản phân bổ ngân sách cần phải dựa trên giới
hạn về tổng mức ngân sách thỏa dụng, các bộ chuyên ngành phải bằng lòng với khoản
ngân sách được thông báo và tiến hành phân bổ trong giới hạn đó.
Thể chế tốt, phù hợp và không thiên lệch. Một khuôn khổ chi tiêu trung hạn đòi
hỏi phải có một cơ sở thể chế có khả năng làm chỗ dựa cho đối tượng khác nhau sử
dụng khuôn khổ chi tiêu trung hạn như là một khuôn khổ, nền tảng cho việc đề ra các
quyết định và chi tiêu. Các nhà quyết định chính trị phải chấp nhận khuôn khổ chi tiêu
trung hạn như một phương tiện phân bổ nguồn lực.
Có các thông số thích hợp. Thiết kế một khuôn khổ chi tiêu trung hạn đòi hỏi phải
xác định được các thông số kỹ thuật như xác định tổng mức chi tiêu, mối quan hệ giữa
phân chia theo lĩnh vực và cơ cấu tổ chức của Chính phủ, nội dung gói chi tiêu, cơ sở
giá cả hợp lý cho việc dự toán các khoản chi tiêu trong tương lai, cơ chế điều phối với
quy trình ngân sách từng năm, mức độ linh hoạt theo bối cảnh khác nhau.
Đảm bảo tính minh bạch. Minh bạch về tài chính và chính sách sẽ nâng cao trách
nhiệm giải trình của các đối tượng tham gia quy trình khuôn khổ chi tiêu trung hạn.
Minh bạch tài chính là việc công khai cơ cấu và chức năng của Chính phủ, các ý định
chính sách tài chính, các khoản thu, chi của khu vực công và những dự báo tài chính.
Minh bạch về chính sách là việc công khai những ý định của Chính phủ trong một
điểm ở Việt Nam.
Thực hiện theo quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 21/4/2003 của thủ tướng chính
phủ phê duyệt báo cáo khả thi Dự án “cải cách quản lý tài chính công” và thông tư số
55/2008/TT/BTC về hướng dẫn thí điểm xây dựng kế hoạch tài chính trung hạn và kế
hoạch chi tiêu trung hạn giai đoạn 2009-2011 đã tiến hành thí điểm việc lập kế hoạch
chi tiêu trung hạn cho 4 ngành ( Giáo dục và đào tạo, Y tế, Nông nghiệp và phát triển
nông thôn, Giao thông vận tải) ở 3 địa phương (Hà nội, Bình dương, Vĩnh long) .
Sau hơn 3 năm triển khai thực hiện, được sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới, Cơ
quan phát triển Vương quốc Anh và các chuyên gia quốc tế, chuyên gia trong nước,
Bộ Tài chính cùng các Bộ, địa phương tham gia thí điểm đã xây dựng được mô hình
Kế hoạch Tài chính và Chi tiêu trung hạn cho Việt Nam và đã đưa ra được báo cáo thí
điểm cho giai đoạn trung hạn 3 năm: 2006-2008, 2007-2009 và 2008-2010. Qua quá
trình thí điểm cho ngành Giáo dục ở một số Tỉnh đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm
trong việc xây dựng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành, bao gồm các vần đề như:
14
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
Đầu tiên là yêu cầu về thông tin: Cần có một luồng thông tin toàn diện, đầy
đủ để hỗ trợ chính xác cho MTEFs. Đây là thách thức lớn nhất trong việc
thực hiện MTEF, việc thu thập thông tin ở cấp sở cũng như dữ liệu tổng
hợp từ các đơn vị cấp dưới phải cho cùng một loại thông tin. Các đơn vị
trường học, phòng quản lý quận huyện phải cập nhật thông tin một cách
chính xác như số trường, lớp, học sinh, giáo viên ở từng cấp học. Bên cạnh
đó việc cập nhật thông tin từ Trung ương cũng như các chính sách của
Tỉnh, Thành phố liên quan tới các cơ chế có thể tác động đến nhiệm vụ, chỉ
tiêu ngành.
Về dự kiến nguồn lực của ngành. Khi có giới hạn trần ngân sách do Bộ
giao xuống thì Sở giáo dục phải dự kiến nguồn lực của ngành bao gồm
những nguồn nào, nguồn Ngân sách nhà nước (trần ngân sách) và nguồn
ngoài ngân sách ( trái phiếu chính phủ, học phí, xã hội hóa giáo dục )
theo con số từ 1994, Thành phố Hồ Chí Minh còn có 20 trung tâm xóa mù chữ, 139
trung tâm tin học, ngoại ngữ và 12 cơ sở giáo dục đặc biệt. Tổng cộng 1.308 cơ sở
16
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
giáo dục của thành phố có 1.169 cơ sở công lập và bán công, còn lại là các cơ sở dân
lập, tư thục. Hệ thống các trường từ bậc mầm non tới trung học trải đều khắp thành
phố. Trong khi đó, những cơ sở xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tập trung chủ yếu vào
bốn huyện ngoại thành Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ.
Sau hơn 20 năm đổi mới đất nước, đồng hành với các lĩnh vực của xã hội, ngành
giáo dục và đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh tích cực thực hiện Nghị quyết Trung
ương 2 khóa VIII về giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ, đã có những bước
phát triển về quy mô, chất lượng và đổi mới về cơ chế hoạt động. Chất lượng đào tạo
của các nhà trường tương đối tốt; giáo dục đạo đức, luật pháp và giáo dục thể chất đều
được quan tâm thực hiện, luôn giữ thứ hạng cao so với cả nước. Tỷ lệ tốt nghiệp phổ
thông hằng năm được giữ vững, ổn định trên 90%.
Trải qua 25 năm đổi mới, ngành giáo dục vẫn còn đối mặt với không ít khó khăn
như cơ sở vật chất trường lớp còn chật hẹp, sĩ số lớp đông (40-50 học sinh/lớp), hầu
hết học sinh phải học tập 1 buổi/ngày. Dù hàng năm, ngành giáo dục TPHCM đã được
sự quan tâm của lãnh đạo TP, quận huyện, nỗ lực đáp ứng hơn 1.000 phòng học mỗi
năm nhưng với tốc độ tăng dân số cơ học ngày một cao, trường lớp không thể theo
kịp. Giáo dục chuyên nghiệp dạy nghề cũng còn nhiều bất cập, quản lý đứt khúc theo
hình thức quản lý khác nhau của 2 Bộ (Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Lao động,
Thương binh và Xã hội); đầu tư tản mạn, thiếu tập trung và chưa đúng mức để đáp
ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho địa phương.
Sớm nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục, coi sự nghiệp giáo dục là
“quốc sách hàng đầu” là nhân tố cho sự phát triển của Thành phố trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, nguồn chi ngân sách cho giáo dục chiếm tỷ trọng lớn trong
chi thường xuyên và tăng dần qua các năm, 2008 chiếm 37.22% /tổng dự toán chi
thường xuyên, năm 2009 chiếm 43,48% ,Dự toán năm 2010 chiếm 44,31%.
0,07% (số liệu năm 2011) giúp các đơn vị giáo dục có khả năng nhận được nhiều đầu tư
hơn từ ngân sách nhà nước, bên cạnh đó cơ cấu nền kinh tế có sự chuyển biến tích cực
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn (đến năm
2010 khu vực nông lâm thủy sản chiếm 1,1%GDP, khu vực công nghiệp và xây dựng
chiếm 45,3%GDP, khu vực dịch vụ là 53,6%GDP). Cơ cấu kinh tế dự kiến đến năm
2015 (% trong GDP) là dịch vụ 57%, công nghiệp 42%, nông nghiệp 1%, tạo cơ hội
tiếp cận giáo dục với tốc độ cao.
18
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
Với lợi thế là Thành phố trọng điểm kinh tế của cả nước nên TP HCM có triển vọng
tiếp nhận được nguồn đầu tư của nước ngoài cho giáo dục như có cơ hộ tiếp cận với các
nền giáo dục tiên tiến trên Thế giới, được tăng cường trang thiết bị, đổi mới nội dung,
chương trình học nâng cao được chất lượng giáo dục.
Thu nhập bình quân đầu người tăng GDP bình quân đầu người năm 2010 ước đạt
2800 USD bằng 1,68 lần năm 2005, và phấn đấu đến 2015 là 4.800 USD gấp 1,7 lần
so với năm 2010 tạo điều kiện tăng chi phí đơn vị, nâng cao chất lượng giáo dục theo
ưu tiên chiến lược của ngành.
Bên cạnh những ảnh hưởng nền kinh tế thì những tác động về xã hội cũng ảnh
hưởng không nhỏ đến ngành giáo dục, cơ hội tiếp cận giáo dục cơ bản tăng lên do tỷ
lệ hộ nghèo ngày càng giảm.
Với tình trạng nhập cư hiện nay cùng với sự gia tăng dân số tự nhiên thì giáo dục
TP HCM đang trở nên quá tải, số học sinh tăng nhanh ở tất cả các cấp học nhất là
mầm non, và các cấp học khác trong những năm tiếp theo nên cơ sở vật chất, trường
lớp cũng như giáo viên có thể không đáp ứng đủ trong tương lai.
Năm 2010 là năm cuối cùng trong Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-
2010 đồng thời đây cũng là năm cơ sở, đặt nền tảng cho việc xây dựng Kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015 và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm
2011-2020 trong đó có những định hướng phát triển và nhiệm vụ chủ yếu cho ngành Giáo
dục như sau:
Mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cơ bản và giáo dục bậc cao. Tiếp tục giữ vững
các thành tựu về phổ cập giáo dục tiểu học và hoàn thành phổ cập THCS.
Giáo dục ngoài công lập sẽ được khuyến khích phát triển mạnh ở các bậc mẫu
giáo, trung học phổ thông, THCN, dạy nghề và đại học
Nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục. Đào tạo lại cán bộ quản lý giáo dục, cải cách
chương trình quản lý giáo dục.
Các mục tiêu chương trình hoạt động chính được thống kê ở bảng sau:
Bảng 2.2: Các ưu tiên chiến lược và hoạt động.
Ưu tiên Chương trình hoạt
động
Mục tiêu
1. Nâng cao chất 1.1 Nâng cao chất lượng môi - Phấn đấu đến năm 2015
20
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
lượng giáo dục. trường và kết quả học tập.
Thực hiện học 2 buổi /
ngày ở tiểu học và THCS.
1.2 Triển khai đại trà chương
trình giáo dục mầm non
mới, trong đó chú trọng
thực hiện chương trình phổ
cập mẫu giáo 5 tuổi nhằm
chuẩn bị kỹ năng cần thiết.
1.2 Đào tạo, nâng cao chất
lượng đội ngũ giảng viên
đại học, dạy nghề có chất
lượng cao.
1.3 Triển khai thực hiện
các giải pháp nhằm giảm tỷ
dục mầm non đạt chuẩn
quốc gia.
Đến năm 2015: Giáo dục
hoà nhập được thực hiện
ở tất cả các cấp học và
trình độ đào tạo để đến
năm 2015 có 65% người
khuyết tật được học hoà
nhập; 75% thanh niên
Việt Nam trong độ tuổi
đạt trình độ học vấn
trung học phổ thông và
tương đương; tỷ lệ hoàn
thành cấp học được duy
trì ở mức 90% trở lên đối
với cả ba cấp học.
- Phấn đấu đến năm 2015
có 99% trẻ em trong độ
tuổi tiểu học được đến
trường .Năm 2015 có
20% số học sinh lớp 3
được học ngoại ngữ theo
chương trình mới.
-Đến năm 2015 tỉ lệ
người biết chữ trong độ
tuổi từ 15 trở lên là 97%.
Huy động được nhiều trẻ
khuyết tật, trẻ em có hoàn
cảnh khó khăn đi học.
- Đẩy mạnh ứng dụng
lệ trẻ dưới 3 tuổi đến nhà
trẻ, nhóm trẻ từ 15% năm
2005 lên 20% năm 2010
và đạt 30% năm 2015; trẻ
từ 3 đến 5 tuổi đến lớp
mẫu giáo đạt 67% năm
2010 và đạt 75% năm
2015;
- Đến năm 2015 có
khoảng 93% quận, huyện
có trung tâm giáo dục
thường xuyên và 85% xã,
phường có trung tâm học
tập cộng đồng.
- Xây dựng hoàn chỉnh 3
phân hiệu trường cao
đẳng tại huyện Củ Chi,
Nhà Bè và Cần Giờ
3. Đổi mới mạnh mẽ
công tác đào tạo sư
phạm, công tác bồi
dưỡng nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo
dục.
3.1Xây dựng văn bản pháp
luật giáo dục
Đẩy mạnh ứng dụng CNTT
trong QLGD
- Về đội ngũ giáo viên,
giảng viên: Đến năm
Cấp ngân sách Huyện:
- 24 Văn phòng giáo dục cấp Quận, Huyện.
- 407 Trường mầm non + mẫu giáo.
- 444 Trường tiểu học trong đó có 3 trường cấp 1, 2.
- 250 Trường trung học cơ sở trong đó có 11 trường cấp 2, 3
- 49 Trung tâm giáo dục thường xuyên.
- 24 Trường bồi dưỡng giáo dục.
• Phạm vi dự toán của sở GDĐT Thành phố Hồ Chí Minh.
- 81 Trường Trung học phổ thông
- 3 Trường mầm non.
- 2 Trung tâm giáo dục thường xuyên (Chu Văn An và Lê Quý Đôn), TT khuyết
tật Nguyễn Đình chiểu, TT Tiếng Hoa.
- TT hướng nghiệp Lê Thị Hồng Gấm.
- Trường cao đẳng kinh tế, CĐ kinh tế Phú Lâm, Thủ Đức
- 2 Trường ĐH (Nguyễn Hữu Cảnh và Nam Sài Gòn)
2.2.3 Các chế độ định mức chi tiêu hiện hành chung cho ngành Giáo dục.
2.2.3.1 Các nguyên tắc tính định mức.
Định mức chi hiện nay cho ngành giáo dục gồm 3 phần: chi cho con người, chi
hoạt động và chi khác.
Về định mức chi ngân sách cho giáo dục được áp dụng dựa trên một số thông
tư hướng dẫn ban hành của các bộ ngành liên quan.
- Quy định về mức lương tối thiểu. Mức lương tối thiểu được thay đổi qua các
năm.
Bảng 2.3: Thay đổi mức lương tối thiểu qua các năm.
STT Thời gian Lương tối thiểu Mức tăng
1 01/01/2000-31/12/2000 180.000
2 01/01/2001- 31/12/2002 210.000 16,67%
3 01/01/2003- 30/09/2005 290.000 31,1%
4 01/10/2005-30/09/2006 350.000 20,69%
5 01/10/2006-31/12/2007 450.000 28,57%
-Học phí 1 lớp/năm được tính theo mức thu hiện hành đối với từng cấp học
theo quy định tại Thông tư liên tịch số 54/1988/TTLT/BGDĐT-BTC ngày 31/08/1998
24
Đề tài: Khả năng áp dụng kế hoạch chi tiêu trung hạn ngành giáo dục trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh
của Bộ Giáo Dục-Đào Tạo và Bộ Tài Chính về hướng dẫn thực hiện thu chi và quản lý
học phí ở các cơ sở giáo dục và đào tạo công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
Các đơn vị cơ sở giáo dục phải dùng nguồn 40% học phí để thực hiện cải cách tiền
lương, trong đó đã trừ 10% thất thu học phí.
- Số lớp tính định mức được tính theo số lớp bình quân thực tế tại các trường.
- Hệ số lương bình quân được tính trên cơ sở hệ số lương bình quân thực tế chi
theo số thực giải ngân từ Kho Bạc Nhà Nước TPHCM;
- Cơ cấu chi 80% cho con người và 20% cho hoạt động theo QĐ số
151/2006/QĐ-TTg ngày 29/6/2006 của Thủ Tướng Chính Phủ về việc ban hành định
mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước năm 2007.
Riêng năm 2010 và 2011 có một số điểm thay đổi:
- Đưa phần hỗ trợ làm thêm giờ của GV khối mầm non vào trong định mức
(theo công văn số 550/UBND-TM ngày 12/02/2009 của Ủy ban nhân dân Thành Phố)
- Bổ sung thêm 1% bảo hiểm thất nghiệp vào trong định mức (theo thông tư
96/2009/TT-BTC ngày 20/05/2009 của BTC về việc hướng dẫn chế độ tài chính đối
với quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
- Bổ sung thêm 1% bảo hiểm y tế vào trong định mức (theo thông tư 62/NĐ-CP
ngày 27/07/2009 của BTC về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật
của BHYT.).
Năm 2011 theo NĐ 152/2006/NĐ-CP mức trích BHXH là 22%.
2.2.3.2 Các công thức chung để áp dụng tính định mức chi tiêu .
• HSL bình quân = HSL cấp bậc bình quân + HS PCCV bình quân
Trong đó
-HSL cấp bậc bình quân = tổng mục chi 6000 (theo MLNS)/ Tổng số biên chế
GD từng cấp.