CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN CÁC CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH NỘI ĐỊA CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ MỞ - DU LỊCH VIỆT NAM
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Du lịch là ngành kinh tế xuất hiện từ rất sớm trên thế giới. Nó được mệnh danh
là: “Ngành công nghiệp không khói” và có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống
của con người. Sự phát triển của ngành công nghiệp không khói mang lại GDP lớn cho
nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho người dân, là đòn bẩy thúc đẩy các ngành
trong nền kinh tế phát triển, là phương tiện quan trọng để thực hiện chính sách mở cửa,
là cầu nối giữa các nước trên thế giới. Theo thống kê của tổ chức du lịch thế giới trong
năm 2010 vừa qua ngành du lịch thế giới đã tạo 9% tổng thu nhập nội địa toàn cầu và
cung cấp hơn 235 triệu việc làm trong năm 2010, tương đương 8% tổng việc làm toàn
cầu. Trong xu thế quốc tế toàn cầu hóa thì ngành kinh tế du lịch giữ vai trò đặc biệt
quan trọng cho thu nhập nền kinh tế quốc dân. Phát triển du lịch là điều kiện tốt để
thực hiện xuất khẩu tại chỗ, thu nhiều nguồn ngoại tệ về cho đất nước, giải quyết nạn
thất nghiệp có xu hướng gia tăng, khai thác các nguồn lao động dư thừa, thúc đẩy cho
các ngành kinh tế khác phát triển. Trong khu vực Đông Nam Á, các nước như Thái
Lan, Singapore, Malaysia đã chú trọng phát triển ngành du lịch và đã gặt hái được
nhiều thành tựu to lớn.
Những năm gần đây, hoạt động du lịch của nước ta diễn ra hết sức sôi động và
có nhiều đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ngành du
lịch đang dần trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn và được những sự đầu tư lớn cả
trong nước và nước ngoài. Là một nước giàu tiểm năng du lịch với nhiều thắng cảnh,
di tích lịch sử, di sản thế giới và nền chính trị ổn định, Việt Nam đang là sự lựa chọn
của nhiều khách du lịch quốc tế song hành với sự gia tăng nhanh chóng của du khách
trong nước do đời sống ngày càng cao. Năm 2010, ngành du lịch đón 4,2 triệu lượt
khách quốc tế và 27 - 28 triệu lượt khách nội địa, thu nhập từ du lich đạt 75.000 đến
78.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 6% tổng GDP. Có đuợc những thành tựu trên là nhờ sự
nỗ lực của ngành du lịch nói chung, của các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực
du lịch nói riêng. Một trong những loại hình doanh nghiệp không thể thiếu và góp
phần quan trọng trong sự phát triển của ngành du lịch là doanh nghiệp lữ hành. Hoạt
Nghiên cứu và hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về giải pháp hoàn
thiện các chương trình du lịch trong kinh doanh lữ hành.
Phân tích và đánh giá về thực trạng các chương trình du lịch nội địa của công ty
cổ phần đầu tư Mở - Du lịch Việt Nam.
Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện các chương trình du lịch nội địa của công
ty cổ phần đầu tư Mở - Du lịch Việt Nam
1.4 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp hoàn
thiện chương trình du lịch nội địa của công ty
2
- Về không gian nghiên cứu: địa bàn hoạt động của công ty và thị trường nguồn
của công ty.
- Về thời gian: Các dữ liệu khảo sát được thu thập trong năm 2009,2010. Các
giải pháp đề xuất sẽ áp dụng cho thời gian từ nay đến năm 2015 và thời gian tiếp theo.
1.5 Kết cấu của luận văn tốt nghiệp
Ngoài phần cảm ơn, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu
gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về giải pháp hoàn thiện các chương trình du
lịch nội địa của công ty cổ phần đầu tư Mở - Du lịch Việt Nam
Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về giải pháp hoàn thiện các
chương trình du lịch của công ty lữ hành
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng chương
trình du lịch nội địa của công ty cổ phần đầu tư Mở - Du lịch Việt Nam
Chương 4: Các kết luận và đề xuất giải pháp hoàn thiện các chương trình du
lịch nội địa của công ty cổ phần đầu tư Mở - Du lịch Việt Nam
3
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH TRONG
DOANH NGHIỆP KINH DOANH LỮ HÀNH
2.1 Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản
phẩm này được tiêu thụ một cách đơn lẻ và không có sự gắn kết với nhau, thỏa mãn
4
độc lập nhu cầu của khách. Các dịch vụ đơn lẻ mà danh nghiệp lữ hành thực hiện bao
gồm:
- Dịch vụ vận chuyển hàng không (đăng ký đặt chỗ bán vé máy bay)
- Dịch vụ vận chuyển đường sắt (đăng ký đặt chỗ bán vé tàu hỏa)
- Dịch vụ vận chuyển tàu thủy (đăng ký đặt chỗ bán vé tàu thủy)
- Dịch vụ vận chuyển ô tô (đăng ký đặt chỗ bán vé, cho thuê ô tô)
- Dịch vụ vận chuyển bằng các phương tiện khác (đăng ký đặt chỗ bán vé, cho
thuê)
- Dịch vụ lưu trú và ăn uống (đăng ký đặt chỗ các dịch vụ trong nhà hàng,
khách sạn)
- Dịch vụ tiêu thụ chương trình du lịch (đăng ký đặt chỗ bán vé chuyến du lịch)
- Dịch vụ bảo hiểm (bán vé bảo hiểm)
- Dịch vụ tư vấn, thiết kế lộ trình
- Dịch vụ bán vé xem biểu diễn nghệ thuật, tham quan, thi đấu thể thao, và các
sự kiện khác.
* Chương trình du lịch: Chương trình du lịch là sản phẩm chủ yếu và đặc trưng
của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành. Trong đó chương trình du lịch trọn gói là sản
phẩm đặc trưng cơ bản nhất. Ngoài ra công ty lữ hành cũng có thể cung cấp cho khách
du lịch các chương trình du lịch bán phần, từng phần theo yêu cầu của khách hàng. Sự
đa dạng trong hoạt động lữ hành du lịch là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự đa dạng
của các sản phẩm cung ứng của công ty lữ hành. Không những vậy mà công ty lữ hành
còn liên kết dịch vụ của những người cung cấp. Sau đó trực tiếp hoặc gián tiếp chỉ đạo
thực hiện các dịch vụ kèm theo trong và ngoài chương trình để đảm bảo chương trình
được thực hiện hoàn hảo và đáp ứng tối đa nhu cầu của khách du lịch.
* Các dịch vụ khác: Du lịch khuyến thưởng, du lịch hội nghị, hội thảo, chương
trình du học, tổ chức các sự kiện văn hóa, xã hội, kinh tế, thể thao lớn
2.1.4 Khái niệm chương trình du lịch
Dưới góc độ của khách du lịch: Chương trình du lịch là hành trình du lịch
của các nhà cung cấp dịch vụ du lịch, do đó khách hàng sẽ tiết kiệm được chi phí cho
chuyến đi. Ngoài ra để tạo ra một chương trình du lịch đòi hỏi sự kết hợp của nhiều
yếu tố của nhiều nhà cung ứng khác nhau như tài nguyên du lịch, phương tiện vận
chuyển, cơ sở lưu trú, vui chơi giải trí thành một sản phẩm hoàn hảo, đáp ứng nhu
cầu của du khách., xóa bỏ tất cả khó khăn, lo ngại của khách, tạo cho họ sự an tâm, tin
tưởng vào chuyến đi.
2.2.2 Căn cứ xây dựng các chương trình du lịch nội địa
* Căn cứ vào phạm vi thời gian:
- Chương trình du lịch nội địa một ngày: thường là các chương trình tham quan
như "city tour" hoặc chương trình tham quan một điểm du lịch và đi về trong ngày.
- Chương trình du lịch nội ngắn ngày: Là những chương trình du lịch có thời
gian dưới 7 ngày như các chương trình du lịch cuối tuần, du lịch trong dịp nghỉ lễ, du
lịch công vụ
- Chương trình du lịch dài ngày: là những chương trình du lịch có thời gian trên
7 ngày cho đến dưới 1 năm
* Căn cứ vào chủ thể đề xuất chương trình:
- Chương trình du lịch nội địa do công ty lữ hành thiết kế sẵn
6
- Chương trình du lịch nội địa thiết kế theo yêu cầu của khách
* Căn cứ vào mức giá chào bán:
- Chương trình du lịch nội địa giá trọn gói
- Chương trình du lịch nội địa giá từng phần
2.2.3 Phương pháp xây dựng các chương trình du lịch nội địa
Nhà quản trị doanh nghiệp lữ hành khi xây dựng các chương trình du lịch nội
địa thường lựa chọn một trong hai cách tiếp cận:
Cách tiếp cận 1: Tìm thị trường cho 1 chương trình du lịch sẵn có
Nhà quản trị quyết định trước loại chương trình du lịch sẽ kinh doanh và bắt tay
vào xây dựng vào phát triển các chương trình du lịch đó. Trên cơ sở nghiên cứu, tìm
hiểu các nơi đến và điểm thăm quan du lịch, doanh nghiệp thiết kế các chương trình
một cách hấp dẫn nhất, sau đó sẽ tiến hành hoạt động marketing để tìm thị trường và
thực hiện, giám sát việc cung cấp các dịch vụ của đối tác kinh doanh theo hợp đồng đã
ký kết, tránh trường hợp sai lệch về thời gian chuyến đi so với thỏa thuận của khách.
Đối với khách du lịch, dựa vào bản kế hoạch phần nào họ biết được giá trị sử dụng của
sản phẩm dịch vụ mà mình sẽ được tiêu dùng.
- Tính linh hoạt: Chương trình du lịch có tính linh hoạt cao. Khi công ty lữ hành
thiết kế sẵn các chương trình du lịch để chào bán thì vẫn có thể thay đổi theo ý muốn
của khách hàng. Ngày nay, khi hoạt động kinh doanh du lịch đang diễn ra mạnh mẽ,
các sản phẩm kinh doanh ăn uống, lưu trú, các dịch vụ bổ sung rất phong phú, đa dạng
về giá cả và chất lượng. Chính vì vậy rất thuận lợi cho các nhà cung ứng thay thế các
yếu tố cấu thành của một chương trình du lịch có sẵn bằng các sản phẩm dịch vụ phù
hợp với nhu cầu, thị hiếu của khách.
- Tính đa dạng: Căn cứ vào cách thiết kế, xây dựng chương trình mà ta có
những chương trình du lịch khác nhau. Các công ty lữ hành cần phải luôn tạo ra sự
mới mẻ, hấp dẫn trong các chương trình du lịch, tránh sự đơn điệu, nhàm chán.
* Khái niệm chính sách sản phẩm trong kinh doanh chương trình du lịch nội địa
Một công ty lữ hành phải kinh doanh đồng thời nhiều chương trình du lịch để
thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch nội địa trên các thị trường mục tiêu của mình. Để
thỏa mãn nhu cầu thị trường đòi hỏi doanh nghiệp lữ hành phải quản lý tốt chính sách
sản phẩm của mình.
Chính sách sản phẩm trong kinh doanh chương trình du lịch nội địa là tổng thể
những quy tắc chỉ huy nhằm tung các chương trình du lịch nội địa ra thị trường để thỏa
mãn nhu cầu du lịch và thỏa mãn các nhu cầu khác có liên quan của các tập khách du
lịch nội địa trong từng thời kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, đảm bảo chương trình du
lịch kinh doanh có hiệu quả.
2.2.4.2 Nội dung chính sách sản phẩm trong kinh doanh chương trình du lịch nội địa
Chính sách sản phẩm bao gồm các nội dung chính như xác định danh mục sản
phẩm (danh mục các chương trình du lịch nội địa), phát triển sản phẩm mới (phát triển
chương trình du lịch nội địa mới) và các quyết định cơ bản về sản phẩm (quyết định cơ
bản về chương trình du lịch nội địa).
2.3 Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu của những công trình năm trước
- Chiều rộng của danh mục sản phẩm: là tổng số các nhóm chủng loại sản phẩm
do doanh nghiệp cung cấp ra thị trường. Ví dụ khi bán các chương trình du lịch nội
địa, doanh nghiệp có thể bán các chương trình du lịch nội địa thuộc các loại hình khác
nhau như: du lịch văn hóa, du lịch công vụ, du lịch sinh thái
- Chiều dài hay mức độ phong phú của danh mục sản phẩm là tổng các loại sản
phẩm của tất cả các chủng loại trong danh mục sản phẩm của doanh nghiệp
- Chiều sâu của danh mục sản phẩm: là số lượng các sản phẩm khác nhau (về
mức chất lượng, quy cách) trong các loại sản phẩm (hay có thể xác định bằng số lượng
phương án sản phẩm ) trung bình trong mỗi loại. Trong thực tế để thích nghi với sự
biến động của thị trường, các doanh nghiệp luôn có những phương án thay đổi về mẫu
mã, chủng loại một cách nhịp nhàng, uyển chuyển, nhằm khai thác tối đa các nguồn
9
khách và phục vụ khách một cách tốt nhất. Ví dụ một doanh nghiệp lữ hành khai thác
loại hình du lịch nghỉ biển, nhận thấy chương trình chưa thu hút được nhiều khách,
công ty xây dựng thêm các chương trình du lịch như du lịch nghỉ biển kết hợp chữa
bệnh bằng tắm suối khoáng bùn, du lịch khám phá lòng đại dương, du lịch thể thao
trên biển như lướt sóng, chèo thuyền kayak
- Mức độ hài hòa, tương thích của hỗn hợp sản phẩm phản ánh sự gần gũi,
giống nhau giữa các sản phẩm của các chủng loại khác nhau xét theo góc độ mục đích
sử dụng cuối cùng hoặc được sản xuất ra từ những yếu tố sản xuất giống nhau hay
những tiêu chuẩn nào đó.
Sự gần gũi của các sản phẩm giúp cho doanh nghiệp dễ quản lý, đồng thời giúp
doanh nghiệp khai thác.
Trong từng thời kỳ kinh doanh, doanh nghiệp có thể mở rộng thêm hay loại bỏ
bớt chủng loại sản phẩm, kéo dài thêm hoặc lược bớt đi một số loại sản phẩm. hoặc
phương án sản phẩm cụ thể. Bổ sung thêm các phương án cho từng loại sản phẩm dịch
vụ, có nghĩa là tăng chiều sâu, và cuối cùng là doanh nghiệp có thể là tăng hoặc giảm
mức độ tương thích giữa các loại sản phẩm mà doanh nghiệp cung ứng.
2.4.2 Phát triển các chương trình du lịch nội địa mới
2.4.2.1 Khái niệm và lí do phát triển chương trình du lịch mới
Đây là quá trình tìm kiếm ý tưởng về sản phẩm, là bước rất quan trọng để hình
thành nên sản phẩm mới. Việc hình thành ý tưởng được thực hiện một cách có hệ
thống trên cơ sở xem xét mục tiêu của việc phát triển sản phẩm mới và thị trường mà
doanh nghiệp đang nhắm vào.
Bước 2: Lựa chọn ý tưởng
Mỗi công ty phải thành lập hội đồng gồm các chuyên gia thiết kế, am hiểu về
kinh doanh, sản phẩm và về thị trường. Mục đích của việc lựa chọn này là tìm kiếm
được những ý tưởng phù hợp nhất, thải loại những ý tưởng không phù hợp.
Bước 3: Phân tích kinh doanh
Qua quá trình chọn lọc, phải xây dựng những dự án sản phẩm mới từ các ý
tưởng. Vì chỉ có dự án thì mới tạo thành hình ảnh thực sự của sản phẩm để đưa ra thị
trường. Hội đồng thẩm định sẽ xem kế hoạch phát triển sản phẩm có tính khả thi và
hiệu quả hay không
Bước 4: Soạn thảo chiến lược marketing cho sản phẩm mới
Các doanh nghiệp sẽ soạn thảo các chiến lược marketing cho dự án sản phẩm
tốt nhất đã được lựa chọn, xem xét sản phẩm cần được bổ sung những gì. Một chíên
lược marketing cho sản phẩm mới gồm 3 phần:
+ Phần 1: Chiến lược sẽ mô tả quy mô thị trường, thái độ của khách hàng mục
tiêu, vị trí của sản phẩm, các chỉ tiêu về khối lượng bán, thị phần, lợi nhuận.
+ Phần 2: Các quan điểm về phân phối sản phẩm và dự đoán chi phí marketing.
+ Phần 3: Thể hiện các quan điểm lâu dài về các yếu tố marketing mix: Tiêu
thụ, lợi nhuận…
Bước 5: Thiết kế sản phẩm
Trong bước này phải cải biến các dự án thành hiện thực, bộ phận xây dựng
chương trình, thiết kế phải đưa ra được một hay nhiều phương án hay mô hình hóa,
phải tính toán, đưa ra các thông số cần thiết cho sản phẩm mới. Sản phẩm được thiết
kế cần được kiểm tra thông qua khách hàng hay người tiêu dùng để biết ý kiến của họ.
11
Bước 7 : Đưa sản phẩm mới ra thị trường
Sản phẩm mới được người tiêu dùng kiểm tra, nếu tốt thì doanh nghiệp sẽ sản
hướng dẫn viên nhưng trong thực tế ở Việt Nam, người dẫn đoàn thường kiêm nhiệm
luôn làm hướng dẫn viên khi cần thiết. Nhiệm vụ chung của người dẫn đoàn hoặc
hướng dẫn viên là:
+ Tập hợp các thông tin về đoàn khách như số lượng, giới tính, tuổi tác, nghề
nghiệp, quốc tịch, mục đích chuyến đi, những yêu cầu đặc biệt của khách.
12
+ Nghiên cứu kỹ lưỡng hành trình của khách để lập hành trình của người dẫn
đoàn với những điểm lưu ý hoặc dự kiến khả năng có thể thay đổi một cách linh hoạt.
+ Chuẩn bị các thủ tục cần thiết cho chuyến đi dành cho khách và cho người
dẫn đoàn, xác lập lại thông tin với khách hàng và các đối tác cung cấp, hợp đồng với
các đối tác cung cấp dịch vụ, phương tiện vận chuyển, tiền đi đường, ấn phẩm quảng
cáo, bản đồ du lịch, tài liệu hướng dẫn, thuốc men
Tổ chức thực hiện chương trình
Trong giai đoạn này công việc chủ yếu là của người dẫn đoàn hoặc hướng dẫn
viên. Bao gồm:
- Đón khách tại điểm tập kết
- Giao dịch với các đối tác theo các hợp đồng đã ký kết. Ngoài ra, có thể thực
hiện một số các công việc như :
+ Giúp khách thực hiện các thủ tục khai báo có liên quan đến chuyến đi
+ Nhận thông tin của khách về các vấn đề liên quan đến đối tác là doanh nghiệp
lữ hành, các nhà cung cấp dịch vụ để có cách giải quyết kịp thời.
+ Giúp khách giải quyết các nhu cầu phát sinh
- Cung cấp thông tin cho khách trong đoàn về tất cả các khía cạnh khách quan
tâm tại nơi đến tham quan.
- Giám sát các dịch vụ cung cấp cho khách của các đối tác nhằm đảm bảo chất
lượng như đã thỏa thuận trong hợp đông với đối tác và khách hàng.
- Thường xuyên liên lạc với nhà quản lý điều hành của doanh nghiệp mình để
báo cáo và xin ý kiến giải quyết các vấn đề phát sinh.
- Thu phiếu trưng cầu ý kiến của khách
- Thanh toán và tiễn khách.
Các nội dung khác như tần số du lịch, thời gian trung bình cho một chuyến đi du
lịch, các tuyến điểm du lịch ưa thích.
* Nghiên cứu thị trường cung (các nhà cung cấp): Nghiên cứu mối quan hệ giữa
khả năng đáp ứng với chương trình du lịch, mối quan hệ này nhằm đảm bảo tính khả
thi của chương trình du lịch. Khả năng đáp ứng thường thể hiện ở hai lĩnh vực cơ bản
là giá trị tài nguyên du lịch và khả năng sẵn sàng đón tiếp phục vụ khách du lịch. Đây
là hai yếu tố cơ bản để xác định các tuyến điểm cho chương trình du lịch.
Để lựa chọn tài nguyên du lịch, người ta thường căn cứ vào các yếu tố sau:
- Giá trị đích thực của tài nguyên du lịch, uy tín của tài nguyên, sự nổi tiếng của
nó là những căn cứ ban đầu, bên cạnh đó nhân tố không thể bỏ qua là giá trị của tài
nguyên phải thỏa mãn các nhu cầu nhận thức, thẩm mỹ, sức khỏe cho khách du lịch.
Giá trị của tài nguyên du lịch chính là sự công nhận của xã hội, bao gồm công nhận
của UNESSCO, của quốc gia, của địa phương.
- Sự phù hợp của giá trị tài nguyên du lịch đối với mục đích của chương trình du
lịch.
- Điều kiện phục vụ đi lại, an ninh trật tự và môi trường an ninh xã hội của khu
vực có tài nguyên du lịch
Khi xây dựng phương án vận chuyển, yếu tố có ý nghĩa quan trọng bậc nhất là
khoảng cách giữa các điểm du lịch, thời gian trong chương trình và hệ thống phương
tiện vận chuyển trên các tuyến điểm đó. Ngoài ra cần chú ý đến sự tiện lợi như tốc độ
14
vận chuyển, các dịch vụ trong quá trình vận chuyển, chất lượng vận chuyển, mức
giá Đồng thời cũng cần tìm hiểu khả năng đón tiếp của nơi đến du lịch như: Ăn, ở,
giải trí, hướng dẫn và các dịch vụ khác. Trên cơ sở đó thiết lập mối quan hệ với các
đối tác là các nhà cung cấp các dịch vụ cần thiết tại nơi đến du lịch - những yếu tố cấu
thành không thể thiếu trong một chương trình du lịch.
Cũng như thị trường hàng hóa, dịch vụ khác, nghiên cứu thị trường trên phương
diện cung, doanh nghiệp còn phải tìm hiểu xem đối thủ cạnh tranh - các doanh nghiệp
lữ hành khác đang và sẽ cung cấp các chương trình du lịch tương tự như chương trình
mà doanh nghiệp đang triển khai
doanh nghiệp khác. Nhiều doanh nghiệp còn nghiên cứu các sách hướng dẫn du lịch
đã xuất bản để cân nhắc các hành trình dự kiến, các điểm tham quan và những hướng
dẫn, lựa chọn khách sạn và nhà hàng tại nơi đến.
- Sử dụng các cơ quan quản lý hoặc văn phòng du lịch quốc gia và địa phương:
Các tổ chức này sẽ cung cấp thông tin cho doanh nghiệp trong giai đoạn nghiên cứu để
phát triển một ý tưởng chương trình mới, giúp đỡ doanh nghiệp liên lạc hoặc gặp gỡ
với các đối tác cung cấp dịch vụ tiềm năng tại địa phương.
+ Cân nhắc tính khả thi: Đây là quyết định lựa chọn tiếp theo thường được xác
lập tại cuộc gặp gỡ giữa những người có trách nhiệm của doanh nghiệp để cân nhắc
tính khả thi của chương trình du lịch mới, để xác lập các yếu tố về chi phí, thời gian và
sức lực liên quan đên việc xây dựng chương trình.
+ Khảo sát thực địa:
Có ba cách để tổ chức chuyến khảo sát thực địa
- Cách thứ nhất: Người đi khảo sát (thường là người thiết kế chương trình) sẽ đi
tất cả các tuyến điểm đã dự kiến nhưng không thông báo trước cho các nhà cung cấp.
- Cách thứ hai: Liên hệ trước với tất cả các đối tác cung cấp dịch vụ, nhờ sự
giúp đỡ của các cơ quan quản lý hoặc văn phòng du lịch địa phương.
- Cách thứ ba: áp dụng cả hai cách trên.
+ Lập hành trình:
Hành trình (hoặc lộ trình) là trình tự cách đi, các nơi đến và điểm tham quan sẽ
trải qua trong chuyến du lịch mà khách du lịch được thưởng thức.
Mỗi chương trình du lịch không chỉ có một hành trình mà các doanh nghiệp lữ
hành cần phải lập nhiều hành trình cho một chương trình.
- Hành trình cho người dẫn đoàn hoặc hướng dẫn viên: phải được lập một cách
chi tiết nhất, bao gồm các gợi ý, lưu ý và hướng dẫn đặc biệt cho người quản lý và
người dẫn đoàn.
- Hành trình cho khách du lịch: là hành trình phổ biến và quan trọng nhất, cần
được chuẩn bị ngay trong tiến trình xây dựng và phát triển chương trình.
- Hành trình cho đối tác cung cấp dịch vụ: bao gồm thông tin liên quan đến
phần hành trình mà đối tác có trách nhiệm cung ứng dịch vụ như thời gian đến, đi, lưu
lợi nhuận dự kiến. Khi đó, mức giá bán chương trình sẽ bằng tổng của mức chi phí cơ
bản và mức lợi nhuận dự kiến.
+ So sánh mức giá bán chương trình với mức dự kiến ngân quỹ của một khách
để điều chỉnh mức giá bán và số khách tham gia để thành lập đoàn
+ Tính thuế giá trị gia tăng.
17
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH NỘI ĐỊA CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ MỞ - DU LỊCH VIỆT NAM
3.1 Phương pháp hệ nghiên cứu vấn đề
3.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
3.1.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu nội bộ bao gồm thông tin lưu trữ của công ty như báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh, các dữ liệu về cơ cấu lao động, thị trường khách mục tiêu, lượt
khách Các thông tin này do bộ phận kế toán, phòng du lịch nội địa của công ty cung
cấp.
Dữ liệu bên ngoài có thể thu thập được từ các cơ quan nhà nước, tạp chí, báo,
đài, tivi, các hiệp hội thương mại, các trường đại học, cao đẳng thu thập dữ liệu từ
website của công ty, các luận văn của các năm trước. Thu thập thông tin từ các dữ liệu
trên phục vụ cho việc phân tích thực trạng các chương trình du lịch nội địa của công
ty.
3.1.1.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Thu thập dữ liệu sơ cấp được tiến hành bằng cách phát phiếu điều tra đối với
khách hàng đã tham gia chương trình du lịch nội địa của công ty, phỏng vấn một số
nhà quản trị trong công ty.
18
*Phương pháp phát phiếu điều tra trắc nghiệm:
Bao gồm các bước:
- Xác định mẫu điều tra: 50 khách du lịch nội địa
- Xây dựng phiếu điều tra: Phiếu điều tra bao gồm hệ thống các câu hỏi trắc
Công ty cổ phần đầu tư mở - Du lịch Việt Nam là một trong những doanh
nghiệp lữ hành hàng đầu tại Hà Nội, có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực lữ hành
19
quốc tế và nội địa với tên gọi tắt là Opentour JSC, được thành lập vào ngày 3/2/2001
theo quyết định số 427/2001/QĐ-UB. Trong thời gian đầu mới đi vào hoạt động thị
trường chính của công ty là các tour du lịch trong nước và các tour đi trong ngày áp
dụng với các khách đoàn (Các tổ chức cơ quan, đoàn thể, trường học…), khách lẻ
cũng như các hộ gia đình
Với phong cách làm việc chuyên nghiệp, đội ngũ nhân viên nhiệt tình, năng
đông, tâm huyết với nghề, giỏi về trình độ chuyên môn đã ngày một đưa công ty lên
một tầm cao mới, khẳng định được vị thế của mình trong ngành du lịch ở Việt Nam
nói chung và quốc tế nói riêng. Công ty lữ hành quốc tế OPENTOUR JSC do ông Lê
Đại Nam làm giám đốc.
Tới ngày 22/11/2005 Công ty chính thức được cấp giấy phép kinh doanh lữ
hành quốc tế số 0744/2005(Giấy phép lữ hành Quốc tế số 0744/ 2005/ TCDL-GP-
LHQT), kết hợp cùng công ty Toserco và Sinhcafe Sài Gòn và hoạt động dưới thương
hiệu OPENTOUR- SINH CAFÉ phía bắc( gọi tắt là OPEN TOUR JSC).
Thông tin công ty cổ phần đầu tư Mở - Du lịch Việt Nam
• Trụ sở: 93 đường Hồng Hà, quận Ba Đình, thành phố Hà nội
• Chi nhánh: 161 Phạm Ngũ Lão, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh
• Điện thoại: (84.4) 37171444 (tổng đài) – 9122955 – 9030305
• Fax: (84.4) 7171525 - 7172225
• Di động: 0989122955 - 0903222225 - 0903449696
• Email:
• Website:
(Trang thông tin Tiếng Việt)
(Trang thông tin Tiếng Pháp)
(Trang thông tin Tiếng Anh)
(Trang quảng bá Khách Sạn tại Việt Nam)
d
Nội
địa
Vé
Đội
xe
Lễ tân
21
- Giám đốc: là người đứng đầu công ty và quản lý tất cả các hoạt động kinh doanh
nhằm đảm bảo thực hiện các kế hoạch đề ra, chịu trách nhiệm về các hoạt động của
công ty.
- Bộ phận lữ hành: là bộ phận kinh doanh chính của công ty, gồm: marketing,
inbound, outbound, nội địa, phòng vé. Với mỗi một phòng có chức năng nhiệm vụ
khác nhau, kết hợp cùng nhau để đảm bảo tạo ra các chương trình du lịch inbound,
outbound, nội địa chất lượng cao.
- Bộ phận tổng hợp và bổ trợ: là bộ phận hỗ trợ cho bộ phận lữ hành. Gồm: phòng
kế toán, đội xe, lễ tân…
* Kết quả kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư Mở - Du lịch Việt Nam năm 2009 -
2010
Bảng 3.2: Kết quả kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư Mở - Du lịch Việt Nam
năm 2009 - 2010
Các chỉ tiêu ĐVT Năm 2009 Năm 2010 So sánh 2010/2009
+/- %
I. Tổng lượt khách
1. Khách inbound
Tỷ trọng
2. Khách outbound
Tỷ trọng
3. Khách nội địa
Tỷ trọng
(22)
(0,45)
1068
0,52
1193
1,32
(176)
(1,39)
10,43
(2,96)
11,66
13,72
(14,79)
II. Tổng doanh thu 1000đ 19.923.351 21.855.045 1.931.694 9,69
22
1.Doanh thu lữ hành
Tỷ trọng
-Doanh thu lữ hành inbound
Tỷ trọng
-Doanh thu lữ hành outbound
Tỷ trọng
- Doanh thu lữ hành nội địa
Tỷ trọng
2. Doanh thu khác
Tỷ trọng
1000đ
%
1000đ
%
1000đ
0,1
1.077.925
1,7
(257.956)
(1,78)
11,79
11,24
9,86
14,74
(18,96)
III. Tổng chi phí
Tỷ suất
1.Chi phí lữ hành
Tỷ suất
- Chi phí inbound
Tỷ suất
-Chi phí outbound
Tỷ suất
-Chi phí nội địa
Tỷ suất
2. Chi phí khác
Tỷ suất
1000đ
%
1000đ
%
1000đ
%
1000đ
%
2.626.810
5,57
27.097
0,06
1.592.712
3,67
1.007.001
1,84
(63.084)
(0,69)
16,61
18,05
19,98
19,5
16,13
(7,18)
IV. Lợi nhuận trước thuế 1000đ 4.494.420 3.862.388 (632.032) (14,06)
V. Nộp ngân sách Nhà nước 1000đ 1.123.605 965.597 (158.008) (14,06)
VI. Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận
1000đ
%
3.370.815
16,92
2.896.791
13,25
(474.024)
(3,67)
(14,06)
VII. Số lao động bình quân Người 36 40 4 11,11
dẫn tới tỷ suất chi phí lữ hành của công ty năm 2010 tăng 5,57%, điều này chứng tỏ
việc sử dụng chi phí kinh doanh lữ hành của công ty là không tốt.
Lợi nhuận của công ty năm 2010 giảm14,06% tương ứng với 474.024.000
đồng. Trong năm vừa qua tình hình thị trường du lịch có nhiều biến động làm ảnh
hưởng tới hoạt động kinh doanh của công ty. Một phần không nhỏ là do trong năm
qua, tình hình thị trường du lịch trong nước và thế giới có nhiều biến động như lạm
phát của nền kinh tế, chính trị bất ổn, thiên tai, dịch bệnh…đã ảnh hưởng đến hoạt
động kinh doanh của công ty. Vì vậy trong thời gian tới, công ty cần cố gắng hơn nữa
để khắc phục khó khăn, trong đó công ty cần hoàn thiện các chương trình du lịch nội
địa của mình để nâng cao hiệu quả kinh doanh.
3.2.2 Ảnh hưởng của nhân tố môi trường đến hoàn thiện các chương trình du lịch
nội địa của công ty cổ phần đầu tư Mở - Du lịch Việt Nam
3.2.2.1 Các nhân tố môi trường vĩ mô
* Các chính sách, cơ chế quản lý của nhà nước
Đây là một yếu tố rất quan trọng, nó chi phối hoạt động kinh doanh du lịch và
qua đó sẽ ảnh hưởng đến các chương trình du lịch nói chung và các chương trình du
lịch nội địa của công ty nói riêng. Cơ chế quản lý phù hợp và chính sách thông thoáng
sẽ giúp cho các chương trình du lịch nội địa được thực hiện dễ dàng hơn. Trong những
năm gần đây, nước ta đã có những chính sách phát triển du lịch Việt Nam như giải
pháp kích cầu du lịch thông qua chương trình " Ấn tượng Việt Nam", hoạt động quảng
bá du lịch Việt Nam trên kênh truyền hình quốc tế BBC, tập trung phát triển sản phẩm
24
du lịch mang tính đặc thù, như: xây dựng sản phẩm du lịch biển, du lịch sinh thái và
văn hóa; tổ chức Năm Du lịch Quốc gia tại các tỉnh, hình thành các vùng du lịch trọng
điểm thu hút được nhiều khách du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh
doanh của công ty.
* Môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa, , xã hôị
- Môi trường kinh tế:
Có ảnh hưởng đến tất cả các ngành nói chung và ảnh hưởng mạnh tới hoạt
động kinh doanh của công ty lữ hành. Kinh tế tăng trưởng thì nhu cầu đi du lịch càng