Tài liệu Luận văn tốt nghiệp "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu lao động sang Đài Loan của Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại" - Pdf 95


………… o0o…………

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất
khẩu lao động sang Đài Loan của Công
ty cổ phần Đầu tư và Thương mại
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

1
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, với xu hướng hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới, Việt
Nam đang trên đà đẩy mạnh các hoạt động kinh tế - chính trị nhằm tìm kiếm cho
mình một chỗ đứng vững chắc trên trường quốc tế.
Hoạt động xuất nhập khẩu hiện nay đang được đặc biệt chú trọng bởi nó

2
Đây là một đề tài khá mới mẻ nên trong quá trình tìm hiểu, xây dựng đề
tài em đã gặp không ít khó khăn, nhưng với sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo
TS. Thân Danh Phúc, cùng với các anh chị ở phòng xuất khẩu lao động và
chuyên gia của Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại, cũng như qua quá trình
tìm tòi các tài liệu phục vụ cho chuyên đề, em đã xây dựng nên một chuyên đề
hoàn chỉnh. Tuy nhiên, với thời gian, trình độ còn hạn chế
và kinh nghiệm thực
tế chưa nhiều, em mong có sự góp ý của các thầy cô giáo về những thiếu sót em
mắc phải.
Em xin chân thành cảm ơn.

Hà Nội, ngày 05 tháng 5 năm 2005
Sinh viên thực hiện
Phạm Diễm Ngọc

i hoạt động kinh tế.
- Sức lao động: Sức lao động là tổng hợp thể lực và trí lực của con người
trong quá trình tạo ra của cải xã hội, nó phản ánh khả năng lao động của con
người, là điều kiện đầu tiên cần thiết trong quá trình lao động xã hội. Trong nền
kinh tế hàng hoá sức lao động là một hàng hóa đặc biệt vì nó có giá trị và giá trị
sử dụng các hàng hoá khác, ngoài ra hàng hoá sức lao động còn là một s
ản phẩm
có tư duy, có đời sống tinh thần. Thông qua thị trường lao động, sức lao động
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

4
được xác định giá cả. Hàng hoá sức lao động cũng tuân theo quy luật cung – cầu
của thị trường. Mức cung cao sẽ dẫn tới dư thừa lao động, giá cả sức lao động
(tiền công) thấp, ngược lại khi mức cung thấp sẽ dẫn tới tình trạng thiếu lao
động, giá cả sức lao động sữ trở nên cao hơn.
- Thị trường lao động: Trong mỗi xã hội, nơi nào xuất hiện nhu cầu s

dụng lao động và có nguồn lao động cung cấp, ở đó sẽ hình thành nên thị trường
lao đông. Trong nền kinh tế thị trường, người lao đông muốn tìm việc phải
thông qua thị trường lao động. Về mặt thuật ngữ, "Thị trưòng lao đông" thực
chất phải được hiểu là "Thị trường sức lao động" để phù hợp với khái niệm của
tổ chức lao động qu
ốc tế: Thị trường lao động là một lĩnh vực của nền kinh tế,
nó bao gồm toàn bộ các quan hệ lao động được xác lập trong lĩnh vực mua bán,
trao đổi và thuê mướn sức lao động. Trên thị trường lao động, mối quan hệ được
thiết lập giữa một bên là người lao động và một bên là người sử dụng lao động.
Qua đó, cung-cầu về lao đọng ảnh hưởng tới tiền công lao độ
ng và mức tiền
công lao động cũng ảnh hưởng tới cung- cầu lao động.
+ Cầu lao động: là lượng lao động mà người thuê có thể thuê ở mỗi mức

mướn lao động theo pháp luật.
- Di dân quốc tế: Di dân quốc tế được hiểu là quá trình di chuyển lao
động từ nước này sang nứoc khác để tìm việc làm. Nếu xét theo khía cạnh dân
số học thì xuất khẩu lao động cũng là một quá trình di dân quốc tế. Do đó,việc
đưa nguời lao động đi làm việc ở nước ngoài chính là tham gia vào quá trình di
dân quốc tế, nó không nằm ngoài những quy luật chung. Việc
đưa người lao
động đi làm việc ở nước ngoài tuân theo những hiệp định giữa hai quốc gia, đa
quốc gia hoặc theo công ước quốc tế, tuỳ từng trường hợp khác nhau mà nó
được xếp nằm trong giới hạn nào.
- Xuất khẩu lao động:
Đến nay, trên thế giới vẫn chưa có một khái niệm chuẩn nào về xuất khẩu
lao động. Vì vậy, chúng ta có thể hiểu xuất khẩu lao độ
ng thông qua khái niệm
của tổ chức lao động quốc tế ( ILO) như sau: Xuất khẩu lao động là hoạt động
kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia
trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất hượp pháp quy định được
sự thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận người lao động.
Phân loại xuất khẩ
u lao động:
Căn cứ vào cơ cấu người lao động đưa đi:

Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

6
Lao động có nghề: là loại lao động trước khi ra nước ngoài làm việc đã
được đào tạo thành thạo một loại nghề nào đó và khi số lao động này ra nước
ngoài làm việc có thể bắt tay ngay vào công việc mà không phải bỏ ra thời gian
và chi phí để tiến hành đào tạo nữa.
Lao động không có nghề: là loại lao động mà khi ra nước ngoài làm việc


7
Đối tác nước ngoài có nhu cầu sử dụng lao động, đưa ra những yêu cầu cụ
thể về số lượng, tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính Các doanh nghiệp, tổ chức kinh
tế của Việt Nam sau khi nhận được đơn đặt hàng của bên nước ngoài sẽ tiến
hành sơ tuyển dựa trên những tiêu chí có sẵn. Để đảm bảo đúng yêu cầu của
mình, bên nước ngoài thực hiện kiểm tra lại m
ột lần nữa trước khi lao động sang
làm việc.
2.2. Thông qua doanh nghiệp Việt Nam nhận thầu, nhận khoán công trình
hoặc đầu tư ở nước ngoài.
Bên nước ngoài đặt hành cho các công trình xây dựng, do vậy phải đưa đi
đồng bộ các đối tượng lao động gồm có kỹ thuật, quản lý, chỉ đạo thi công và
lao động trực tiếp sang nước ngoài làm việc. Sau khi công trình kết thúc thì cũng
chấm dứt hợp đồng đối với ngườ
i lao động, vì thế xuất khẩu lao động theo hình
thức khoán khối lượng công việc thường không ổn định, tâm lý của người lao
động dễ bị chán nản, không tận tâm với công việc.
2.3. Theo hợp đồng lao động do cá nhân người lao động trực tiếp ký kết với
người sử dụng lao động ở nước ngoài (sau đây gọi là hợp đồng cá nhân):
Đây là hình thức phổ biến nhất hiện nay, hình thức này đòi h
ỏi đối tượng
lao động đa dạng tuỳ theo yêu cầu và mức độ phức tạp của công việc. Có những
yêu cầu của người nước ngoài đòi hỏi người có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm
sản xuất, kinh nghiệm tổ chức quản lý, cũng có những yêu cầu chỉ cần người lao
động có trình độ giản đơn.
Ngoài những hình thức đưa lao động đi làm việc có thờ
i hạn ở nước
ngoài, hình thức xuất khẩu lao động tại chỗ cũng đã trở nên phổ biến hơn ở Việt
Nam. Thông qua các tổ chức kinh tế của ta, người lao động được cung ứng cho

tiêu để đánh giá hiệu quả của xuất khẩu lao động
3.1 Lợi ích kinh tế đạt được
a. Số lượng lao động được giải quyết việc làm trong năm:
Công thức tính:L = Lc + Lx - Ln

Trong đó:
L : Số lao động được giải quyết việc làm trong năm
Lc : Số lao động từ năm trước vẫn còn đang tiếp tục
Lx : Số lao động được đưa sang hoạt động trong năm
Ln : Số lao động kết thúc hợp đồng trở về nước trong năm
Ý nghĩa của chỉ tiêu:

Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

9
Chỉ tiêu này nêu ra được chi tiết kết quả đạt được trong một năm qua của
công tác xuất khẩu lao động. Nó chỉ ra được những đóng góp của lĩnh vực này
đối với việc tạo công ăn việc làm cho xã hội mà nhà nước ta đã không phải bỏ
vốn đầu tư để tạo việc làm mới, giải quyết một phần tình trạng ứ đọng lao động
của đất nướ
c ( mặc dù trước khi đi xuất khẩu lao động những người lao động
này không phải tất cả đều thuộc diện thất nghiệp).
b. Thu nhập quốc dân về ngoại tệ thông qua hoạt động xuất khẩu lao động:
Công thức tính: P = ∑ Yj ( j = 1 đến n )


Mtk = m
dt
. L

Trong đó:
Mtk : Mức tiết kiệm vốn đầu tư tạo ra việc làm
m
dt
: Mức đầu tư trung bình tạo ra một chỗ làm việc mới
L : Số người có việc làm thường xuyên ở nước ngoài
Ý nghĩa chỉ tiêu:

Cho biết mức độ tiết kiệm không phải bỏ vốn đầu tư tạo ra chỗ làm việc
mới ở trong nước và đồng nghĩa với việc tăng thêm nguồn vốn đầu tư cho giải
quyết việc làm.
d. Giá trị hàng hoá do người lao động đưa về:
Công thức tính:G = ∑ Hj ( j = 1 đến n )
Hj =
∑ h
ij
. N
j

Trong đó:
G : Giá trị hàng hoá do người lao động đem về
H : Giá trị hàng hoá do người lao động ở mỗi thị trường đem về

i : Biến số người
j : Biến số nước sử dụng lao động
Ý nghĩ
a chỉ tiêu:
Chỉ tiêu cho biết phần thu nhập của người lao động ở nước ngoài được
tính vào thu nhập quốc dân.
Ngoài các chỉ tiêu có thể lượng hoá được để so sánh nói trên còn có một
số chỉ tiêu khác cũng có thể lượng hoá được như số lao động có nghề được đào
tạo nâng cao trình độ, mức tiết kiệm chi phí đào tạo trên một người lao động
song nói chung còn ở mức thấp. Một số khía cạnh khác như vi
ệc du nhập kỹ
thuật công nghệ và kinh nghiệm sản xuất mới, việc du nhập nếp sống tiến bộ,
tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa hai nước, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế
phản ánh hiệu quả về mặt xã hội.
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

12
3.2 Chi phí bỏ ra:
Bao gồm có các chi phí cho người lao động trong lĩnh vực tham gia, chi
phí cho bộ máy quản lý, tổ chức tuyển mộ, đưa đi và quản lý ở nước ngoài, xử lý
các công việc sau khi đưa người lao động hết hạn trở về nước, tiền nộp phạt cho
nước bạn do người lao động tự ý bỏ hợp đồng
Chi phí về mặt xã hội có ý kiến cho rằng còn có những tiêu cực do lao
động gây ra ở nướ
c ngoài. Song những cái đó là yếu tố chủ quan có thể khắc
phục được nếu có biện pháp và chính sách thích hợp.
II. Vai trò của xuất khẩu lao động đối với sự phát triển kinh tế:
Xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế quan trọng đối với mỗi quốc gia,
đặc biệt đối với các nước kinh tế kém phát triển. Hoạt động này đem lại lợi ích
cho tất cả các bên tham gia: bên xuất khẩu lao

cho gia đình khoảng 1,5 tỷ USD, bình quân mỗi lao động khoảng 3.750 USD
hay 302,5 USD một tháng, cao gấp nhiều lần phần dôi ra sau khi trừ đi chi tiêu
cho ăn uống của lao động trong nước. Một tỷ rưỡi USD tuy chưa thấm tháp gì so
với Philippines (số tiền gửi qua kênh chuyển tiền chính thức là trên 7 tỷ USD,
còn theo ước tính của ADB tính thêm cả kênh chuyển tiền không chính thức thì
tổng số lên đến 14 – 21 tỷ USD, chiếm 32%GDP của nước này), nh
ưng đã
chiếm khoảng 3,3% GDP của cả nước và tương đương với nguồn vốn ODA giải
ngân trong năm.
- Về xã hội: Đối với một nước hơn 82 triệu dân, với trên một nửa là số
người trong độ tuổi lao động, nhưng số người thất nghiệp ở thành thị lên đến
5,6% và số thời gian chưa được sử dụng ở nông thôn lên đến trên 20%, thì xuất
khẩu lao động là một kênh giải quyết việc làm cho người lao động rất có ý
nghĩa. Trong mấy năm gần đây, số lao động đi xuất khẩu của nước ta mỗi năm
đã lên đến trên dưới 70 nghìn người và đến nay đã có khoảng 400 nghìn người
Việt Nam đang làm việc ở khoảng trên 40 nước và vùng lãnh thổ. Song nếu so
với Philippines có cùng số dân và số người trong tuổi lao động như Việt Nam thì
kết qu
ả trên còn thấp hơn rất nhiều. Năm 2004, nước này đã có 1 triệu lao động
đi làm việc ở nước ngoàI, đưa Philippines vượt qua Mexico trở thành nước xuất
khẩu lao động lớn nhát thế giới. Cho đến nay, nước này có khoảng 8 triệu lao
động làm việc ở 56 nước, đông nhất là tại Mỹ, ả Rập Saudi, Malayxia, Canada,
Nhật Bản…
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

14
Thực hiện tốt công tác xuất khẩu lao động sẽ giảm được tệ nạn xã hội do
thất nghiệp gây ra, tạo một hướng lao động tích cực cho người lao động, học tập
được phong cách lao động mới do tổ chức lao động ở nước ngoài trang bị
- Về quan hệ đối ngoại: Mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác trong lĩnh


15
- Doanh nghiệp xuất khẩu lao động làm ăn có hiệu quả sẽ thực hiện nghĩa
vụ với ngân sách Nhà nước.
Tuy nhiên một vấn đề bức xúc đang đặt ra trong giai đoạn hiện nay đó là
tình trạng ngày càng có nhiều lao động không thực hiện hợp đồng đã ký.Việc
này có thể gây ảnh hưởng lớn đối với uy tín của doanh nghiệp cũng như sự ổn
định trên thị trường hi
ện tại và tiềm năng.
2.2. Với bản thân người lao động:
- Người đi xuất khẩu lao động có điều kiện giúp gia đình thoát khỏi đói
nghèo cải thiện mức sống của bản thân và gia đình.
- Người lao động có thể tiếp thu kỹ năng làm việc, quản lý, tích luỹ trình
độ tay nghề và kinh nghiệm thực tiễn để tự tạo việc làm sau khi về nước.
III. MỘT SỐ KINH NGHIỆM CỦA PHILIPPINE VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG:
1. Khuôn khổ pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động:
Hiện nay có rất nhiều người Philippine đi làm việc ở nước ngoài do nhiều
nước có nhu cầu về lao động. Tuy nhiên nếu không có những chính sách cụ thể
của Chính phủ thì người lao động có thể bị đưa đi không chính thống và có thể
bị bóc lột. 10 năm trước đây Philippine đã đặt tất cả các vấn đề lên bàn để xem
xét với m
ục đích làm sao tạo điều kiện để nguời lao động được đi làm việc ở
nước ngoài một cách thuận lợi.Trong đó làm rõ vai rò của Chính phủ và các bên
có liên quan.
Ở Philippine nhiệm vụ của Nhà nước là tối đa hoá lợi ích của người lao
động. Việc này khó được thực hiện ở khu vực tư nhân. Với chính sách hiện nay
người dân tin tưởng rằng Chính phủ luôn bảo vệ quyền lợi củ
a người lao động ở
nước ngoài và cố gắng giảm thiểu chi phí đối với bản thân họ, cho gia đình họ
và cho đất nước.

Chính phủ rất quan tâm các hoạt động khen thưởng và đưa ra các mức
thưởng cho các doanh nghiệp làm tốt. Khi làm các thủ tục khen thưởng, các
doanh nghiệp không cần phải xuất trình hợp đồng vì họ đã được xác nh
ận và đã
có kết quả thanhf công của người lao động. Điều quan trọng là nếu doanh nghiệp
nào thành công sẽ được Chính phủ đưa vào danh sách khen thưởng. Điều này rất
có ích cho doanh nghiệp vì nếu như một công ty hoặc một quốc gia nào cần tìm
hiểu các doanh nghiệp tốt thì Chính phủ giới thiệu với họ danh sách các doanh
nghiệp có uy tín. Như vậy doanh nghiệp sẽ có điều kiện kinh doanh tốt hơn,
cũng như
doanh nghiệp sẽ có điều kiện để gia hạn giấy phép dễ dàng hơn. Danh
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

17
sách các doanh nghiệp hoạt động tốt và có uy tín cũng được đưa lên các báo cáo
của Chính phủ.
4. Các dịch vụ cung cấp cho người lao động làm việc ở nước ngoài:
Để đảm bảo phúc lợi cho người lao động Chính phủ Philippine đã có các
dịch vụ hỗ trợ như sau:
- Ngoài các cán bộ phúc lợi làm việc tại đại sứ quán, chúng tôi xây dựng
các trung tâm cung cấp dịch vụ ngay tại khu vực có người lao động làm việc. ở
các trung tâm, hàng ngày có các bác s
ĩ, cán sự xã hội làm việc và hỗ trợ cho
người lao động.
- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về những người lao động đang làm
việc nước ngoài tại đại sứ quán Philippine ở mỗi nước nơi có lao động đế làm
việc là rất quan trọng, vì qua đó cơ quan quản lý mới biết cụ thể người lao động
đang ở đâu và làm việc gì trên cơ sở
đó mới quan tâm họ sâu sát được. Việc
đăng ký danh sách này có tác dụng giảm thiểu các rủi ro với người lao động. Để

vậy vấn đề đặt ra là cần xây dựng và quảng bá về chất lượng người lao động của
chúng ta. Muốn vậy trước tiên phải xác định người lao
động ở nước mình có thể
làm được những việc gì. Sau đó tăng cường đào tạo để nâng cao chất lượng và
tăng tính cạnh tranh. Bên cạnh đó cũng cần trang bị ngoại ngữ cho người lao
động. Cho đến nay tiếng Anh vẫn là ngoại ngữ cần đầu tư. Một số đối tác ở các
nước, họ yêu cầu phải có xác nhận về tay nghề mà người lao động cần phải
đáp
ứng.
6. Hiệp hội các doanh nghiệp và phương thức hoạt động:
Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân có tiếng nói cũng như
cùng phối hợp với Chính phủ đưa người lao động ra nước ngoài làm việc, họ
thành lập các hiệp hội của các doanh nghiệp tư nhân. Hiệp hội này có hệ thống
thống nhất từ trên xuống dưới. Tất cả các doanh nghiệp đư
a lao động đi làm việc
ở nước ngoài đều gia nhập hiệp hội lao động ngoài nước Philippine. Bên cạnh
các hiệp hội chung còn có các hiệp hội chuyên môn như Hiệp hội lao động làm
việc ngoài khơi, Hiệp hội xuất khẩu lao động vui chơi giải trí , hoặc có những
hiệp hội theo vùng, khu vực. Ví dụ như Hiệp hội xuất khẩu lao động Nhật Bản,
Hiệp hội xuất khẩu lao động H
ồng Kông Hiện nay, ở Philippine có khoảng 30-
40 hiệp hội lớn, nhỏ.

Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

19


khoảng 25-28 C. Lượng mưa rất dồi dào. Nửa phía Bắc của đảo mưa lớn kéo dài
từ đầu tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Trong khi đó khu vực phía Nam đảo lại
ấm áp về mùa đông. Tình hình thời tiết sẽ ngược lại, vào mùa hè khi gió mùa
Tây - Nam đem mưa đến phía Nam thì thời tiết lại nóng, khô đều ở phía Bắc.
Dân số Đài Loan có trên 23 triệu người. Thủ phủ là Đài Bắc, nơi có mật
độ dân số cao nhấ
t, tiếp sau đó là thành phố Cao Hùng ở phía Nam. Gần 60%
dân số Đài Loan tập trung ở 4 thành phố lớn: Đài Bắc, Cao Hùng, Đài Trung và
Đài Nam.
Đài Loan sử dụng tiếng phổ thông (tiếng Hoa) trong ngôn ngữ hành
chính. Tuy nhiên tiếng Phúc Kiến và tiếng Hẹ được sử dụng khá phổ biến trong
giao tiếp hàng ngày.
Tôn giáo thịnh hành ở Đài Loan là Phạt giáo với khoảng 4,9 triệu phật tử.
Bên cạnh đó Thiên Chúa giáo cũng có ảnh hưởng rất l
ớn với gần 30 vạn tín đồ,
và hơn 40 vạn tín đồ đạo Tin lành. Đạo Hồi cũng đã xuất hiện ở Đài Loan.
Đài Loan có vị trí địa lý khá gần Việt Nam. Từ Hà Nội hoặc Thành phố
Hồ Chí Minh đi Đài Loan chỉ mất khoảng 3-4h Bay. Do đó thời tiết, khí hậu
cũng khá gần với thời tiết, khí hậu của miền Bắc Việt Nam. Về phong tục, tậ
p
quán, sinh hoạt của người Đài Loan cũng có những nét tương đồng với nước ta,
cũng mang sắc thái của nền văn hoá Á Đông.
2. Thực trạng lao động nước ngoài tại Đài Loan:
Để giảm bớt tình trạng thiếu nhân lực, từ năm 1989, Đài Loan chính thức
nhận lao động nước ngoài vào làm việc. Nền kinh tế tăng trưởng ở mức trên 6%
và tỷ lệ thất nghiệp dao độ
ng ở mức 3% trong hàng chục năm (riêng năm 2001
tỷ lệ này trên 4%), cùng với việc phát triển mạnh cơ sở hạ tầng, Đài Loan phải
đối mặt với sự khan hiếm nhân lực đặc biệt trong ngành xây dựng.
Trong hơn 10 năm gần đây, thanh niên Đài Loan không còn thích thú với

cộng
1994 6.020 2.344 38.473 105.152 0 151.985
1995 5.430 2.071 54.647 126.903 0 189.051
1996 10.206 1.489 83.630 141.230 0 236.555
1997 14.648 736 100.295 132.717 0 248.396
1998 22.058 940 114.255 133.367 0 270.620
1999 41.224 158 113.928 139.526 131 294.967
2000 77.830 113 98.161 142.665 7.746 326.515
7/2001 89.608 73 85.787 139.924 10.869 326.261
27,47% 0,02% 26,30% 42,88% 3,33% 100%

Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

22
Nguồn: Văn phòng Kinh tế – Văn hoá Việt Nam tại Đài Bắc
Bảng 2:
Cơ cấu ngành nghề ( năm 2001)

Tháng 7 Tháng 6 Tăng, giảm Tỷ lệ
Tổng cộng
326.261 100.00 329.612 100.00 -3351 -1,02 %
Sản xuất chế
tạo
173.230 53.09 176.976 53.69 -3746 -0,60%
Xây dựng 37.289 11.44 37.328 11.32 -39 +0,12%
GVGĐ & KHC 114.562 35.11 114.140 34.63 +422 +0,48%
Thuyền viên 1180 0,36 1168 0,36 +12 +0,48%

Nguồn: Văn phòng Kinh tế – Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc
Khởi đầu, chỉ các công ty hoạt động trong các dự án công cộng được

dụng lao động và người lao động.
Lao động làm việc trong lĩnh vực khán hộ công và giúp việc gia đình
không phải áp dụng quy định khấu trừ trên đây.
3.4. Bảo hi
ểm:
Người lao động tham gia bảo hiểm lao động và bảo hiểm y tế trong đó:
- Bảo hiểm lao động: Chủ chịu 70%, người lao động chịu 20% và chính
quyền trợ cấp 10%.
- Bảo hiểm y tế: Chủ sử dụng chiu 60%, người lao động trả 30% và chính
quyền trợ cấp 10%.
3.5. Thuế thu nhập:
Thuế thu nhập áp dụng đối với người lao động nước ngoài được xác định
theo thờ
i gian làm việc trong năm.
Những người sống ở Đài Loan dưới 183 ngày trong quy định mức thuế
mỗi năm (thuế niên, tính từ ngày 1-1 đến ngày 31-12) thì nộp 20% thu nhập.
Những người sống ở Đài Loan đủ hoặc trên 183 ngày trong thuế iên thì
nộp 6% thu nhập như người bản địa.
3.6. Giờ làm việc:
Giờ làm việc được quyết định giữa chủ và người lao động theo quy định
cụ thể trong h
ợp đồng lao động.
Theo luật về tiêu chuẩn lao động quy định thì giờ làm việc trong ngành
công nghiệp là 8h/ngày và 48h/tuần. Hiện nay là 84h/2 tuần.
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

24
Luật cũng quy định về chế độ làm thêm giờ, giữa buổi làm việc sau 4
tiếng được nghỉ giải lao 30 phút. Tuỳ theo tính liên tục và khẩn trương trong sản
xuất mà cống việc được bố trí theo ca, trách nhiệm của chủ là phải sắp xếp ngày


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status