THỰC TRẠNG NGUYÊN NHÂN GIẢI PHÁP CỦA HIỆN TƯỢNG LY HÔN
TRONG CÁC GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY
CHƯƠNG 1:
1. 1. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Các cụ xưa đã nói “Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn”. Từ ý nghĩa của
câu nói đó mà nhiều gia đình, đặc biệt những cặp gia đình trẻ, họ thường xuyên vun đắp
hạnh phúc. Chồng bảo vợ nghe, vợ nói chồng đồng tình. Đôi bên tôn trọng và nhường
nhịn lẫn nhau trong từng lời ăn tiếng nói, cung cách ứng xử hàng ngày và cả công việc
hệ trọng của gia đình đều được mang ra để vợ chồng bàn bạc, thảo luận và quyết định.
Những mái ấm như vậy được mọi người khen ngợi, xã hội biểu dương!
Bên cạnh những gia đình trong ấm ngoài êm thì đó đây vẫn còn xảy ra những cặp
vợ chồng với “cơm không lành, canh không ngọt”, hạnh phục gia đình rạn nứt, gây hậu
quả lâu dài cho gia đình và dòng tộc, đặc biệt là những mái đầu xanh vô tội lạc lỏng bơ
vơ. Theo Toà án nhân huyện Điện Bàn, năm 2010, Toà đã thụ lý và giải quyết 211 vụ án
ly hôn, so với cùng kỳ năm 2009 tăng 27 vụ, trong đó đình chỉ 40 vụ, do nguyên đơn xin
rút đơn, hoà giải đoàn tụ 35 vụ, đôi bên thuận tình ly hôn 106 vụ. Toà xử 29 vụ. Chuyển
hồ sơ lên cấp trên 1 vụ.
Vậy nguyên nhân nào xảy ra hạnh phúc gia đình rạn nứt, đỗ vỡ, chủ yếu phần lớn
là do mâu thuẩn gia đình, kinh tế khó khăn, ngoại tình, bạo hành đánh đập vợ con và các
loại tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, nghiện ngập…
Để minh chúng cho vấn đề này, nếu ai đó có chút quan tâm về chuyện ly hôn, phát
xuất từ canh bạc, men bia, men rượu xin dành thời gian thử dạo một vòng từ phố thị đến
các vùng nông thôn hẻo lánh, ghé mắt vào mấy quan rượu bia thì sẽ rõ. Từ 16 giờ chiều
đến 20 giờ đêm, các dịch vụ ăn uống đón tiếp thực khách là nam giới bàn nối bàn, chén
nọ cụng ly kia. Thử liệu trong số đó được bao nhiêu người khi mình vui vẻ và bao lời
chúc tụng ngọt ngào với bạn bè mà nghĩ đến hình ảnh vợ con, thân cò phải gánh vác bao
nỗi nhọc nhằn lo toan cho mái ấm gia đình? Lại có trường hợp nợ máu đỏ đen tiền bạc
dốc túi thả vào những canh bạc thâu đêm suốt sáng. Về nhà còn thượng cẳng chân, hạ
cẳng tay bạo hành, vũ phu đối với vợ con. Mặc tiếng gào thét kêu cứu của con trẻ, gây
ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trong khu dân cư, thôn xóm. Chưa hết, còn có
người tư tưởng mang nặng thói trăng hoa, mê muội dẫn đến quên đi bổn phận và trách
Nói tóm lại, gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình yên ấm thì xã hội mới yên vui.
Mặt khác, đạo làm người thì cần phải biết đúng sai, biết đâu là đạo lý nghĩa vợ chồng. Do
đó, mỗi chúng ta khi đã có gia đình thì phải biết vun đắp tổ ấm xây dựng gia đình hạnh
phúc một cách bền vững, lâu dài.
Ngày nay với xu thế toàn cầu thì xã hội ngày càng phát triển và các mối quan hệ
trong xã hội luôn vận động và biến đổi không ngừng. Để có một xã hội luôn tươi đẹp và
phồn thịnh thì xã hội ấy phải phát triển theo định hướng của pháp luật.
Như chúng ta cũng đã biết để có một xã hội tốt thì pháp luật cần phải hoàn chỉnh
và phù hợp để toàn xã hội hướng tới. Mà ngành Luật Hôn nhân và gia đình là một ngành
luật gắn liền với quyền nhân thân của mỗi công dân, điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia
đình - một nhóm quan hệ phổ biến, kèm theo đó là nhiều vấn đề phức tạp như: Tài sản
chung vợ chồng, quyền thừa kế, nghĩa vụ đối với con cái, Với tính chất thiết thực và
phức tạp của quan hệ hôn nhân và gia đình thì Luật Hôn nhân và gia đình ra đời và luôn
được nhà nước quan tâm và sửa đổi, hoàn thiện sao cho ngày một tiến bộ và phù hợp hơn
với thời đại.
Năm 1959, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành Luật Hôn nhân và gia đình với
những quy định dựa trên nguyên tắc tiến bộ, tự do, bình đẳng, một vợ một chồng. Đây là
một mốc son lịch sử, một phát súng đầu tiên tiến công vào những quan niệm lạc hậu của
chế độ trọng nam khinh nữ, hôn nhân lạc hậu và đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng
một chế độ hôn nhân mới tự nguyện bình đẳng.
Tiếp theo đó là sự ra đời của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 và 2000 giúp
cho Luật Hôn nhân và gia đình hoàn thiện hơn phù hợp với sự phát triển của đất nước,
của con người, của thời đại. Nhìn chung Luật Hôn nhân và gia đình đã khá hoàn
chỉnh quy định một cách hệ thống đầy đủ, rất gần gũi thiết thực cho cuộc sống xã hội.
Tuy nhiên để pháp luật đi vào đời sống xã hội có hiệu quả đòi hỏi những nhà thực hiện
chính sách xã hội, pháp luật phải có kinh nghiệm thực tế, có kiến thức pháp luật vững
vàng.
Từ đấy chúng tôi đưa ra đề tài nghiên cứu : “ Thực trạng , nguyên nhân và giải
pháp với hiện tượng ly hôn trong các gia đình Việt Nam hiện nay “ nhằm để hiểu rõ và
tìm ra một biện pháp tình trạng gia tăng của vấn đề này trong xã hội hiện nay
tìm hiểu. Đã có công trình nghiên cứu được tiến hành như nghiên cứu “Như gia đình phụ
nữ thiếu vắng chồng” do viện nghiên cứu gia đình và giới được thực hiện -1989, nghiên
cứu này đã phân tích thực trạng đời sống kinh tế và tình cảm của người phụ nữ ly hôn, ly
thân ở nông thôn miền núi phía bắc. Điều lý thú là những bằng chứng thực nghiệm mới
này đã chỉ ra khó khăn kinh tế như là nguyên nhân cơ bản dẫn đến ly hôn.
Nghiên cứu tiếp theo là “Nghiên cứu về quyền của phụ nữ trong luật hôn nhân và
gia đình - 1986 và việc thực hiện quyền đó” do TW hội liên hiệp phụ nữ việt nam thực
hiện - 1994. Nghiên cứu này thống kê tình hình ly hôn ở việt nam qua các số liệu của toà
án Nhân dân tối cao; đồng thời phân tích các nguyên nhân ly hôn dựa trên 517 bộ hồ sơ ly
hôn lưu trữ tại toà án thuộc 4 tỉnh thành phố (Hà Nội, Vĩnh Phú, Quảng nam - Đà nẵng và
thành phố HCM) thời gian 2 năm 1993-1994. Dựa trên các hồ sơ này, các nhà nghiên cứu
đã chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến ly hôn do tính tình không hợp chiếm tỷ lệ cao nhất
(20.51%) tiếp đến là do khác biệt về nghề nghiệp của vợ và chồng làm việc ở môi
trườngluận văn - báo cáo - tiểu luận - tài liệu chuyên ngành Môi Trường khác nhau và
phải sống xa nhau và lý do ngoại tình chiếm tỷ lệ rất thấp.
Ở mỗi quốc gia thì ly hôn cũng rất khác nhau như ở 1 số quốc gia theo đạo Hồi, phụ
nữ không có quyền xin ly hôn trong khi đó chồng họ lại có quyền đuổi vợ ra khỏi nhà và
chỉ cần nói ba lần câu đuổi vợ trước 1 nhân chứng và thế là “thủ tục bỏ vợ đã hoàn tất”.
Tại một số quốc gia như Aixơlen, philippin, ly hôn hoàn toàn bị cấm biệt. ở một số nước
khác, việc giải quyết ly hôn không quy vào lỗi. Trong khi đó, một số quốc gia khác, việc
giải quyết ly hôn lại quy về lỗi những người có lỗi thường bị phạt nặng và phải đền bù
cho phía không có lỗi .
Một số nghiên cứu cũng do TWHLHPN tiến hành năm 1997 “Tổng kết về tình hình
ly hôn ở Việt Nam” dựa trên nguồn số liệu từ Viện kiểm soát và Toà án Nhân dân tối cao
báo cáo và phân tích tình trạng ly hôn qua 375 hồ sơ ly hôn lưu trữ tại 3 toà án địa
phương là Hà Nội, Thanh Hoá và Vũng Tàu, kết quả có 57,1% cặp vợ chồng ly hôn vì lý
do tính tình không phù hợp. Có 6,1% hồ sơ ghi người chồng không có trách nhiệm với gia
đình, 3,2%do mâu thuẫn mẹ chồng nàng dâu 0,8%do vợ hắt hủi chồng, 12,8% do chồng
ngoại tình và cũng tỷ lệ tương tự như vậy do chồng đánh vợ .
Đáng chú ý là công trình nghiên cứu ly hôn - nghiên cứu trường hợp Hà nội do Viện gia
trong quá trình phát trển xã hội, hình thành nhân cách con người. Từ đó giúp ta tìm ra
nguyên nhân, đưa ra giải pháp, khuyến nghị trong các gia đình Việt Nam nói chung khắc
phục, hạn chế, giải quyết thực trạng trên…
1.5. ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.5.1. Đối tượng nghiên cứu:
- Thực trạng , nguyên nhân , giải pháp của hiện tượng ly hôn trong các gia đình.
1.5.2. Khách thể nghiên cứu:
Vợ, chồng trong mối quan hệ ly hôn
1.5.3. Phạm vi nghiên cứu:
Một số tỉnh huyện :
1.5.4. Thời gian nghiên cứu : T8/2009 – T12/ 2010
1.6. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU XXH:
1.6.1. Phương pháp luận
Ở đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa
duy vật biện chứng làm phương pháp luận. Vấn đề ly hôn trong gia đình nó có liên quan
mật thiết đến các yếu tố khác . Chính vì vậy, khi nghiên cứu nghiên cứu vấn đề này phải
xem xét từng trường hợp, từng điều kiện kinh tế,văn hóa,chính trị, xã hội của từng gia
đình nông thôn . Đồng thời, chúng ta cũng phải đặt trong mối liên hệ với các nhân tố khác
như nhà trường, các nhóm xã hội, truyền thông đại chúng. Ngoài ra, chúng ta cũng phải
xem xét vấn đề đó trong một quá trình lich sử cụ thể cũng như tác động từ truyền thống
văn hóa làng xã
1.6.2 Phương pháp nghiên cứu xã hội học
1.6.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã đọc và phân tích một số tài liệu liên quan
đến vấn đề bạo hành gia đình Đồng thời chúng tôi quan tâm đến báo cáo trên các tạp chí,
sách, báo để đưa vào những thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài.
1.6.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu :
1.6.2.3.Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
1.7 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG LÝ THUYẾT
1.7.1 Giả thuyết nghiên cứu :
=> hành động => không hành động
Khi nhắc đến lý thuyết trao đổi và lựa chọn hợp lý, có lẽ không ai có thể vượt qua
được tên tuổi của Georg Simmel, ông nêu ra nguyên tắc “cùng có lợi” trong mối tương tác
xã hội giữa các cá nhân và cho rằng mỗi cá nhân luôn phải cân nhắc, toan tính thiệt hơn
để theo đuổi các nhu cầu cá nhân, thỏa mãn các nhu cầu cá nhân. Simmel cho rằng mối
tương tác giữa người với người đều dựa vào cơ chế cho - nhận, tức là trao đổi mọi thứ
ngang giá nhau.
Quan niệm này về sau được phát triển thành học thuyết trong nghiên cứu xã hội
học hiện đại. Thuyết trao đổi coi tương tác xã hội như là một sự trao đổi hàng hóa, dịch
vụ giữa các bên tham gia. Mỗi bên luôn xem xét chi phí bỏ ra và lợi nhuận mang về của
từng món hàng, từng dịch vụ trước khi đưa chúng ra trao đổi với nhau.
Quan điểm này không được mặn mà mấy với các nhà xã hội học nhưng thực tế cho
thấy ở mọi lúc, mọi nơi con người ta đều sử dụng nó. Nhất là trong thời đại kinh tế thị
trường như hiện nay thì quan điểm này tỏ ra có hiệu nghiệm trong việc tham gia vào lí
giải các hiện tượng xã hội.
Trong những biến thể của lý thuyết Trao đổi và lựa chọn hợp lí của xã hội học hiện
đại thì đáng chú ý nhất phải kể đến là lý thuyết Trao đổi xã hội của George humans xây
dựng trên cơ sở nghiên cứu hành vi xã hội ở cấp vi mô là các cá nhân và các nhóm nhỏ và
lý thuyết Trao đổi xã hội do Peter Blau đưa ra trên cơ sở tiếp cận cấu trúc xã hội ở cấp độ
vĩ mô- nhóm lớn.
Homans đưa ra chủ trương “trả lại con người cho xã hội học”, ông cho rằng mọi lý
thuyết xã hội học khổng lồ thực chất đều là xã hội học về nhóm và các hiện tượng xã hội
cần được giải thích bằng các đặc điểm của cá nhân chứ không phải bằng đặc điểm của cấu
trúc xã hội. Vì vậy, cách lý giải hợp lý nhất đối với hiện tượng xã hội là cách giải thích
tâm lí học.
“Hành vi sơ đẳng” của con người là cơ sở của sự trao đổi xã hội giữa hai hoặc
nhiều ngừơi. Ông định nghĩa hành vi sơ đẳng là hành vi mà con người lặp đi lặp lại,
người vợ người chồng vào quan hệ của họ phải được tính đến”.
Lý thuyết này tỏ ra có sức thuyết phục khi dược áp dụng để giải thích cho những
xu hướng đang nổi lên như một hiện tượng xã hội như sự gia tăng tỉ lệ ly hôn hay xu
hướng sống độc thân của những thanh niên trẻ (đặc biệt là trong các nước có nền kinh tế
phát triển)…
Như vậy, cùng với cách tiếp cận nhóm trong nhiên cứu gia đình cho phép chúng ta xác
định dược động cơ cũng như các nguyên nhân của sự tan vỡ của gia đình, những biến
động trong quan hệ vợ chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con cái…
2.1.2 Lý thuyết hành vi lựa chọn của George Homans
George Homans (1910 – 1989), là nhà xã hội học người Mỹ, một trong những tác giả của
lý thuyết trao đổi xã hội. Ông có ý thức rõ về vai trò của mỗi tương tác trực tiếp giữa các
cá nhân và quan tâm tìm hiểu các đặc điểm của mối tương tác xã hội ở cấp độ vi mô hơn
là đặc điểm của hệ thống xã hội cấp vĩ mô.
Theo thuyết lựa chọn duy lý đòi hỏi phải phân tích hành động lựa chọn của cá nhân
trong mối liên hệ với cả hệ thống xã hội của nó bao gồm các cá nhân khác với những nhu
cầu và sự mong đợi của họ, các khả năng lựa chọn và các sản phẩm đầu ra của từng lựa
chọn cùng các đặc điểm khác. Do đó, sự tác động của nhiều yếu tố như vậy mà các hành
vi lựa chọn duy lý của các cá nhân có thể tạo ra những sản phẩm phi lý không mong đợi
của cả nhóm, tập thể. Theo đó, ông nhấn mạnh đến sự trao đổi của các cá nhân trong các
nhóm nhỏ mà thông qua đó các cá nhân học tập và hình thành nhân cách của mình. Hành
vi sơ đẳng được Homans định nghĩa là hành vi mà con người lặp đi lặp lại không phụ
thuộc vào việc nó có được hoạch định hay không. Hành vi xã hội sơ đẳng dưới nhiều hình
thức từ phản xạ có điều kiện đến kỹ năng, kỹ xảo đến thói quen. Cá nhân sẽ quyết định
lựa chọn một hành động nào đấy ngay cả khi giá trị của nó thấp nhưng bù lại, họ chọn
hành động vì tính khả thi rất cao. Ở đây, những giá trị của kết quả, giá trị của phần thưởng
và cả sự mong đợi của mỗi cá nhân bắt nguồn từ hệ chuẩn mực xã hội như phong tục tập
quán, truyền thống.
1.1.3. Lý thuyết phân tích xung đột trong các khía cạnh về giới của Chanet Chafetz.
Chanet thăm dò các cấu trúc và điều kiện xã hội ảnh hưởng đến cường độ của sự
phân tầng giới tính – hay các bất lợi của phụ nữ - trong mọi xã hội và mọi nền văn hóa.
một số nước khác, việc đấu tranh hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới đang diễn ra. Tuy
nhiên hiện nay ở Việt Nam, luật hôn nhân và gia đình cấm hôn nhân giữa những người
cùng giới tính.
2.2.2 Kết hôn
Luật hôn nhân và gia đình có viết :
Điều 7
Cấm kết hôn trong những trường hợp sau đây :
a) Đang có vợ hoặc có chồng ;
b) Đang mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức hành vi của mình ; đang mắc
bệnh hoa liễu ;
c) Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ ; giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha
khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha ; giữa những người khác có họ trong phạm vi ba đời ;
d) Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi.
Điều 8
Việc kết hôn do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của một trong hai
người kết hôn công nhận và ghi vào sổ kết hôn theo nghi thức do Nhà nước quy định.
Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở ngoài nước do cơ quan đại diện ngoại
giao của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận.
Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý.
Điều 9
Việc kết hôn vi phạm một trong các Điều 5, 6, 7 của Luật này là trái pháp luật.
Một hoặc hai bên để kết hôn trái pháp luật, vợ, chồng hoặc con của người đang có vợ, có
chồng mà kết hôn với người khác, Viện kiểm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữa Việt
Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu
Toà án nhân dân huỷ việc kết hôn trái pháp luật.
Tài sản của những người mà hôn nhân bị huỷ được giải quyết theo nguyên tắc : tài sản
riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người ấy ; tài sản chung được chia căn cứ vào
công sức đóng góp của mỗi bên ; quyền lợi chính đáng của bên bị lừa dối hoặc bị cưỡng
ép kết hôn được bảo vệ.
Quyền lợi của con được giải quyết như trong trường hợp cha mẹ ly hôn.
hoặc mẹ.
PGS-TS Nguyễn Hữu Minh, Viện trưởng Gia đình và giới (Thuộc Viện Khoa
học xã hội Việt Nam) cho biết, tỷ lệ phụ nữ đứng đơn ly hôn cũng cao gấp đôi so với nam
giới. Lý do chính là giá trị cá nhân được đề cao hơn, người phụ nữ chủ động hơn trong
hạnh phúc của mình và cũng chứng tỏ nhận thức của nữ giới về quyền và địa vị của họ đã
thay đổi.
Tuy nhiên, kết quả điều tra cũng cho thấy mô hình gia đình hạt nhân khá phổ biến
ở thành thị và các khu vực đang phát triển. Tuổi kết hôn lần đầu thường cao hơn với
những người ở thành phố (khoảng ba năm với cả hai giới) và những ngường có trình độ
chuyên môn cao (khoảng 4,5 tuổi)
Một số liệu đáng lưu tâm trong khảo sát cho thấy, 20% các ông bố và 7% các bà
mẹ hoàn toàn không dành một thời gian nào cho việc chăm sóc con cái do phải lo kiếm
sống. Hơn 80% trẻ vị thành niên (15-17 tuổi) cho biết bố mẹ cho phép các em tự quyết
định về mọi vấn đề liên quan đến cuộc sống của mình. Do vậy, báo cáo đánh giá, nếu bố
mẹ không quan tâm, chăm sóc con cái sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển thể chất,
trí tuệ và tính tình của của trẻ em.
Trẻ em ở Việt Nam thường xuyên tham gia các công việc gia đình, đặc biệt là ở
khu vực nông thôn. Trung bình, các em bắt đầu tham gia lao động được trả công là 14,3
tuổi.
Với lứa tuổi này, thiếu tiền (21,7%), học lực kém (10,7%) và không có điều kiện
học tiếp (10,5%) là những lo lắng hàng đầu của các em trong cuộc sống.
Cuộc điều tra cho thấy hành vi bạo lực gia đình vẫn tồn tại ở 1/5 các cặp vợ chồng,
nạn nhân chủ yếu là người phụ nữ và con cái trong gia đình, tuy nhiên vấn đề này vẫn
được coi là vấn đề nội bộ của gia đình và chưa có sự can thiệp thích đáng của pháp luật
hay các đoàn thể xã hội.
Thứ trưởng Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch Huỳnh Vĩnh Ái nhận định, các điều
tra cung cấp một bức tranh toàn diện về những thay đổi trong các mối quan hệ gia đình
cũng như vai trò và trách nhiệm của mỗi thành viên. Đồng thời làm sáng tỏ những thay
đổi các giá trị và chuẩn mực của gia đình dưới tác động của công nghiệp hoá và hiện đại
hoá.
Theo Tòa án nhân dân TP. Đà Nẵng, số án ly hôn đang chiếm trên 50% các án về
dân sự tại các tòa. Nếu năm 2009, các cấp tòa án thụ lý 1.402 vụ ly hôn, thì sáu tháng đầu
năm 2010 đã thụ lý 819 vụ; số vụ hòa giải thành công chỉ chiếm khoảng 3-4%. Đáng nói,
số vụ ly hôn trong các gia đình trẻ tăng nhanh nhất với trên 70% tập trung ở độ tuổi từ 22-
30, trong đó, có trên 60% ly hôn khi mới kết hôn từ 1-5 năm và hầu hết đã có con.
Ước tính, mỗi năm trên địa bàn TP. Đà Nẵng có khoảng 1.000 - 1.500 trẻ sống thiếu cha
hoặc mẹ do gia đình ly tán. Tình trạng trên không chỉ gia tăng ở các quận nội thành mà
đang có dấu hiệu tăng nhanh tại những vùng nông thôn.
Kết quả điều tra ở cấp quốc gia, cũng là lần đầu tiên về thực trạng gia đình của cả
nước đưa ra những thông tin và con số đáng báo động: Tình trạng ly hôn trên cả nước đã
tăng theo cấp số nhân trong vòng 10 năm qua.
Theo kết quả nghiên cứu về xã hội học đã được công bố của Tiến sỹ Nguyễn
Minh Hòa (Trường Đại học KHXH và Nhân văn TP Hồ Chí Minh) thì tỷ lệ ly hôn trên
cả nước chiếm từ 31 - 40% trên số kết hôn.
Điều đó có nghĩa cứ 3 cặp kết hôn thì sẽ có 1 cặp chia tay và chiếm 60% trong số
này là lớp người trẻ thuộc thế hệ 8X (từ 23 - 30 tuổi). Tại TP Hồ Chí Minh, số liệu điều
tra xã hội học còn cho biết mỗi năm có trên 50 ngàn trẻ em rơi vào hoàn cảnh cha mẹ bỏ
nhau và 30% trẻ em lang thang đường phố xuất thân từ hoàn cảnh này.
Cuộc sống của gia đình trẻ ngày nay đã khá giả hơn khi nguyên nhân chia tay về
kinh tế chỉ chiếm một con số nhỏ, ở vị trí thứ 3 trong tổng số vụ ly hôn được khảo sát trên
cả nước. Mâu thuẫn về lối sống, nguyên nhân hàng đầu dẫn đến việc vợ chồng ly hôn hiện
nay theo nhận định của một chuyên gia về tâm lý "Nhiều cặp vợ chồng ly hôn vì những lý
do hết sức đơn giản, mà chỉ cần mỗi người biết thông cảm, sẻ chia với nhau hoặc điều
chỉnh mình một chút họ vẫn có thể hàn gắn, giữ được một mái ấm hạnh phúc.
Nhiều người trong số những cặp vợ chồng đang đứng sát bên bờ vực chia ly khi đến với
các chuyên gia tư vấn hoặc lúc đưa nhau ra trước tòa đã nhận được sự khuyên giải khá kỹ.
Nhưng cả vợ hoặc chồng đều khăng khăng đòi được giải quyết ly hôn một cách quyết liệt
dù họ không thể giải thích một cách thuyết phục thế nào là không hợp nhau, thế nào là bất
đồng quan điểm sau nhiều năm chung sống…
Hơn nữa, đa số cả chồng và vợ khi quyết định ly hôn đều giành quyền nuôi con.
động viên nhau: trg đến rằm sẽ tròn.
Tuy nhiên, nhân cách con người khác với hiện tượng tự nhiên của trời đất. “Quyền
lực” của Thảo bị “vướng” ngay khi cô về nhà chồng. “Mọi mong muốn của nó không
được thực hiện ngay mà phải thông qua ý kiến của các thành viên khác. Thậm chí, nhiều
lần hội đồng gia đình còn mạnh tay phủ quyết những điều nó tưởng không ai dám cãi”.
Thế là Thảo đã cương quyết ly hôn.
Kỳ lạ là chuyện ly hôn với cô gái 25 tuổi này chẳng phải là điều bận tâm, đau khổ
hay dằn vặt Thậm chí cô còn vui hơn khi thoát được cái gia đình “chằng chịt” phía nhà
chồng. Gặp cô trong chuyến dã ngoại với nhóm bạn tại huyện Cần Giờ, mọi người tiếc rẻ
cho quyết định “nông nổi” khi cô chia tay với Đức, một kỹ sư công nghệ thông tin giỏi
giang.
Nhưng Thảo tỉnh bơ: “Mình nghĩ kỹ lắm rồi, bố còn nghe mình, sao mình lại phải nghe
người dưng ?”. Người dưng mà Thảo muốn nói chính là bố và anh chị chồng.
Xu hướng gia đình hai trụ cột đang được xã hội ủng hộ. Trụ cột thứ hai được đặt
lên vai người vợ, vốn chỉ được xem là người đóng vai trò theo. Có thể thấy đó là biểu
hiện rõ nhất cho định kiến xã hội đã được thay đổi nhằm duy trì một cuộc hôn nhân bền
vững.
Nhưng muốn được xem là trụ cột, đương nhiên người phụ nữ phải biết làm ra tiền.
Thực tế, với phụ nữ thế hệ 8X, không ít người thu nhập cao hơn nam giới. Điều đáng
buồn, là khi họ làm ra tiền nhiều hơn trụ cột chính, họ lại cảm thấy mình bị thiệt thòi nếu
phải duy trì cuộc sống chung với một người không ngang cơ.
Nguyệt Lan, sau đợt trúng chứng khoán hồi cuối năm 2007, đã nhẹ nhàng chia tay
với người chồng Việt kiều đang thua lỗ trong nhiều dự án đầu tư tại Việt Nam. Khi còn là
sinh viên, Nguyệt Lan tranh thủ học tiếng Anh bằng cách xin bán bưu ảnh và đĩa CD ở
khu phố Tây Phạm Ngũ Lão, TP.HCM. Ở đây, cô quen Jimmy Trần, Việt kiều Mỹ và hai
người cưới nhau trước khi cô tốt nghiệp vài tháng.
Lấy Trần, cô cử nhân 22 tuổi chắc mẩm mình được sở hữu một tài sản trị giá ít nhất
một triệu đô la từ hợp đồng chuyển nhượng dự án đầu tư khu đất vàng ở Khánh Hòa. Dự
án bất thành, tiền không rút lại được Cô bán luôn c nhà mà Trần mua cho cô trên
đường Thạch Thị Thanh, Q.1.
xác mình à?”. (Thảo Chi, Nữ,nhân viên một công ty khai thác dịch vụ công nghệ thông
tin)
Các thống kê cho thấy, Việt Nam hiện có khoảng 60.000 vụ/năm, tương đương
0,75vụ/1000 dân (trong khi ở Nga là 3,36, Trung Quốc là 0,79, ở Thái Lan là 0,58). Theo
số liệu thống kê ở thành phố Hồ Chí Minh, có khoảng 40% các cuộc hôn nhân kết thúc
bằng ly dị (tăng gấp đôi so với năm 1998). Nếu so sánh với Mỹ là 49% (cao nhất thế giới)
và phần lớn các nước phát triển là khoảng 40%, thì tình trạng “tan đàn xẻ nghé” ở nước ta
cũng chả chịu thua bạn kém bè.
Điều đáng nói là trong khi tỷ lệ ly hôn cao không kém gì các nước khác thì văn hóa
ly hôn của chúng ta lại quá thấp so với họ. Ở các nước khác, sau ly hôn, hầu hết những
người đã từng là vợ chồng vẫn cư xử với nhau bằng phép lịch sự tối thiểu và rất hiếm khi
đẩy nhau vào thế hận thù.
Câu chuyện 3:
Tôi có người bạn mới đi Thụy Điển về, anh kể chuyện đến dự sinh nhật một cháu
bé có cha mẹ ly hôn. Điều khiến anh ngạc nhiên là bữa tiệc đó đông vui hơn sinh nhật
những đứa trẻ có gia cảnh bình thường khác bởi đứa trẻ ấy có tới bốn bố mẹ (thêm bố
dượng và mẹ kế) và hẳn tám ông bà. Tất cả đều nâng cốc chúc mừng vui vẻ, tan tiệc còn
tiễn nhau ra xe rất thân tình. Có lẽ ở các quốc gia phát triển với khung nền văn minh cao,
những cuộc chia tay trở nên nhẹ nhàng, thoải mái hơn vì truyền thống ly hôn đã có từ
nhiều đời. Không ở được với nhau thì chia tay; không là vợ chồng nữa thì có thể là bạn
bè, và cả hai cùng phải có trách nhiệm với con cái. Đời ông bà, cha mẹ như thế nào, con
cháu cứ thế mà theo nên nó trở thành một nếp sống.
Còn chúng ta suốt mấy nghìn năm, khi ván đã đóng thuyền, dù không có tình yêu,
không hạnh phúc, dù gia đình có tên gọi khác là địa ngục trần gian, năm ngày ba trận
choảng nhau, thì vẫn cứ cố mà chịu đựng nhau cho đến hết đời bởi lời răn đe “đừng bôi
gio trát trấu vào mặt bố mẹ”, bởi nỗi xấu hổ, ê chề khi phải đối mặt với sự ác cảm, định
kiến của cộng đồng. Thế nên lớp trẻ ngày nay không tiếp thu được chút gì về văn hóa ly
hôn của các thế hệ trước, khi “hữu sự”, họ hành xử phần nhiều theo bản năng, và không
ít điều đáng tiếc đã xảy ra.
Một đám cưới ở Hà Nội, người vợ cũ xông vào giữa lúc hôn lễ đang tiến hành làm
náo loạn, cô dâu, chú rể chạy tan tác. Thậm chí có anh ly hôn đã hai năm rồi nhưng thỉnh
thoảng vẫn đến cửa hàng của vợ cũ đập phá, chửi bới om sòm, chính quyền đã nhiều lần
can thiệp mà cũng chẳng ăn thua. Còn những chuyện đổ lỗi cho nhau, nói xấu nhau
không ra gì trong và sau ly hôn cho hả giận hay cho đối phương không dễ làm lại cuộc
đời, là chuyện thường ngày ở huyện
Trong xã hội hiện đại, khi người ta nhận ra cuộc hôn nhân của họ là sai lầm không thể
cứu vãn thì ly hôn chính là phương cách giúp họ giải quyết sai lầm ấy. Về bản chất, ly
hôn chẳng phải là một vấn đề xấu, người ly hôn cũng chưa chắc đã phải người xấu, như
một triết gia người Đức từng nói: “Một thánh nam lấy một thánh nữ chưa chắc đã thành
đôi vợ chồng thánh”.
Cái xấu ở đây chỉ là thái độ hận thù, hậm hực, những cư xử thiếu tôn trọng nhau của
những người trong cuộc. Mà suy cho cùng, khi bạn tát người khác, chính tay bạn cũng bị
đau cơ mà. Bởi thế, dù vẫn biết cuộc đời chẳng giống như ciné hay tiểu thuyết tâm lý, tôi
vẫn mong muốn tất cả các cặp vợ chồng khi hết yêu nhau, hãy độ lượng và bao dung để
chia tay nhau thật nhẹ nhàng, vui vẻ
Ông Ngô Văn Anh, Chánh tòa dân sự TAND TP Hải Phòng nhận định: Nguyên
nhân chính dẫn đến tình trạng ly hôn của giới trẻ là sự tìm hiểu nhau quá vội vã dẫn đến
cha mẹ hai bên khó định hướng về việc tổ chức cưới hỏi. Bên cạnh đó, không ít cặp vợ
chồng trẻ chưa có cái nhìn nghiêm túc về quan niệm hôn nhân, khi lấy nhau sẽ phát sinh
mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Cũng chính vì xây dựng gia đình sớm khi vợ hoặc chồng
chưa có công ăn việc làm, nên khi có con nhỏ, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn dẫn
đến vợ chồng khó chia sẻ, gây ra sự hằn học, đánh chửi nhau.
Câu chuyện 5:
Gặp em N.V.A, 25 tuổi, ở Quán Trữ, Kiến An, tại phòng xử án của TAND quận
Kiến A, V.A ngậm ngùi kể lại: Anh T. (chồng) hơn em 2 tuổi. Bọn em yêu nhau khi học
năm cuối của trường cao đẳng. Do nóng vội và dễ dãi trong chuyện tình cảm nên em đã
có thai và buộc gia đình T. phải làm đám cưới khi cả 2 vợ chồng đều chưa có công ăn
việc làm. Rồi em sinh con, không may cháu bị mắc bệnh tim bẩm sinh. Vì chưa thể tự lập
về kinh tế nên vợ chồng sống phụ thuộc vào đồng tiền do mẹ chồng cung cấp.
“dạy” bằng những trận đòn vô cớ. Không thể chịu đựng được hơn nữa, L đã bế con về
nhà ngoại và gửi đơn ra TAND huyện An Lão xin ly hôn để giải thoát cho mình.
Theo thống kê của TAND TP Hải Phòng , tỷ lệ ly hôn của những cặp vợ chồng
thời hiện đại không chỉ gia tăng ở các quận nội thành mà đang có dấu hiệu tăng nhanh tại
những vùng nông thôn. Án ly hôn đang chiếm trên 50% các án về dân sự nói chung tại
các tòa án. Chỉ tính riêng năm 2009, tòa án các cấp của TP Hải Phòng đã thụ lý 2.212 vụ
ly hôn, tăng từ 50-200% so với những năm trước đó. Trong 6 tháng đầu năm 2010, tòa án
các cấp đã thụ lý 1.206 vụ ly hôn. Số lượng án ly hôn hòa giải chỉ chiếm khoảng 3-4 %.
Một số tòa án quận, huyện có án ly hôn tăng đến mức chóng mặt như: Ngô Quyền,
Lê Chân, Hồng Bàng. Có những tháng, TAND quận Lê Chân phải giải quyết 50-60 vụ về
hôn nhân gia đình. Điều đáng buồn là trên 70% số vụ ly hôn thuộc về các gia đình 8X,
tuổi vợ chồng tập trung từ 22-30. Trong đó, có trên 60% ly hôn khi mới kết hôn từ 1-5
năm và hầu hết đã có con. Từ con số thống kê trên, có thể ước tính mỗi năm trên địa bàn
TP Hải Phòng có khoảng 1.500- 2.000 trẻ sống thiếu cha hoặc mẹ do gia đình ly tán.
Nhiều gia đình trẻ chỉ sống với nhau được 1-2 năm đã vội ra tòa đề nghị được ly
hôn. Không phải ai cũng hiểu rằng tình yêu và hôn nhân là 2 chuyện hoàn toàn khác nhau,
bởi khi bước vào cuộc sống gia đình thì mọi người phải đối mặt với muôn vàn khó khăn.
Chính sự hiếu thắng, sỹ diện, cái “tôi” quá lớn là kẻ thù số một của các gia đình trẻ hiện
nay.
ở Huế, vẫn phổ biến quan niệm cho rằng chuyện gia đình "đổ vỡ" trong hôn nhân (ly dị)
là bất thường, bị dư luận xôn xao, xét nét, đàm tiếu Trước những năm 1970 - 1980, vấn
đề phân rã gia đình chủ yếu do ly hôn không phải là không có, nhưng có thể nói là rất ít,
rất hiếm hoi.
Một gia đình xảy ra cảnh "chia đàn sẻ nghé", dễ thường bị làng họ lấy làm lạ, lập tức bị
dư luận lên án, chê bai. Và trong bối cảnh đó, uy tín, cái "thanh danh" vun đắp tự bao đời
của gia tộc đã bị ảnh hưởng - một thực tế không dễ gì chấp nhận được, đặc biệt nguy hiểm
hơn, là hậu quả tác động một cách tiêu cực nhất, rõ nét nhất đến tâm s inh lý, tính cách
của con cái. Từ đây, có thể lưu ý đến một hiện tượng dễ gặp là những cặp vợ chồng không
bao giờ ly dị, dù rằng họ thực sự sống ly thân. Cả hai đều cố làm ra vẻ bề ngoài tưởng
chừng như hạnh phúc, cố tạo ra một hiện tượng giả, mang vỏ bọc để che đậy cái rạn nứt
Năm 1990 1995 2000
Cả nước 35.658 50.171
Tp. HCM 5357 5954 9690
Hà Nội 320 1122 2095
Huế 98 278 324
(Nguồn: Tòa án Nhân dân tối cao, 2002;
Nguyễn Minh Hoà, 1998: 205; Lê Xuân Hoàn, 2004: 4; Tòa án nhân dân Tp. Huế)
So với Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, số vụ việc ở Huế tuy không nhiều, nhưng
nhìn nhận theo chiều lịch đại nội tại của Huế, thì đó là con số đáng kinh ngạc:
Bảng 2
Số liệu tình hình ly hôn ở thành phố Huế
Năm Số vụ
thụ lý
Giải
quyết
Vợ
nguyên
đơn
Chồng
nguyên
đơn
Vợ chồng
cùng
đứng đơn Ðộ tuổi ly
hôn 18 -
30
1985 45 37 19 12 14 9
1995 136 126 66 37 33 37
1997 183 186 106 42 35 41
1999 310 233 112 47 52 55
được những cơ hội nhất định để vượt ra khỏi những s ự trói buộc, tham gia vào các hoạt
động lao động s áng tạo. Không ít những phụ nữ đã khẳng định được chỗ đứng vững chắc
trong hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa 2. Sự tham gia của phụ nữ vào lực
lượng lao động xã hội đã thay đổi mô hình phân công lao động giới truyền thống, nhiều
vấn đề trong quan hệ vợ chồng nảy s inh mâu thuẫn bắt nguồn từ đây. Họ dám nghĩ dám
làm, chủ động hơn trong mọi công việc, đặc biệt, s ẵn s àng chủ động ly hôn khi mà hạnh
phúc không thể cứu vãn. Ðiều đó quả thật khó khăn đối với phụ nữ Huế. Thế nhưng, thực
tế cho thấy, tỷ lệ phụ nữ đứng đơn ly hôn chiếm s ố lượng áp đảo (hiện tượng phổ biến
hầu khắp cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh là 63% - Nguyễn Minh Hoà, 1998: 210), với
48,5% năm 1995, trong khi chồng đứng đơn chỉ chiếm 27,2% , s ố còn lại do vợ chồng
cùng đứng đơn. Tỷ lệ đó tăng dần qua các năm, và năm 2005 là 53,5% (xem bảng 2).
Riêng Đồng Nai, được xem là một trong những nền kinh tế phát triển lớn nhất
miền Nam, có số dân xếp thứ 5/63 cả nước nhưng cũng là địa phương có số lượng án
hàng năm thụ lý và giải quyết xếp thứ 3 cả nước. Trong đó, số vụ án hôn nhân gia đình
chiếm tỷ lệ khoảng trên 40% tổng số các loại án. Số lượng vụ án hôn nhân gia đình ngành
Tòa án phải giải quyết trong 5 năm qua đã tăng từ 10 – 23%.
Đồng Nai: Bạo lực gia đình có xu hướng gia tăng Số liệu từ Tòa án nhân dân tỉnh
cho thấy, số vụ án hàng năm tòa thụ án và giải quyết đứng thứ 3 trong cả nước, trong đó
các vụ ly hôn chiếm trên 40%. Riêng năm 2009, trên địa bàn tỉnh đã có gần 4.200 vụ án ly
hôn được thụ lý, trong đó trên 3.900 vụ đã xử, tăng 23,8% so với năm 2008. Tình trạng ly
hôn do nhiều nguyên nhân trong đó xuất phát từ bạo lực gia đình đang xảy ra mọi khu vực
nông thôn, miền núi, và đô thị với trung bình 1000 vụ/năm.
3.2 NGUYÊN NHÂN
Theo kết quả điều tra quốc gia lần đầu tiên về gia đình được Bộ Văn hóa - thể
thao & du lịch và Unicef công bố tháng 6/2008:
Nguyên nhân ly hôn:
1. Lối sống: 27,7%
2. Ngoại tình: 25,9%
3. Nguyên nhân kinh tế: 13%:
4. bạo lực gia đình: 6,7%
người tất cả những điểm xấu trong mắt người khác đều trở nên đẹp trong mắt người đang
yêu. Nhưng tình yêu không phải là một cái gì bất biến, nó sẽ giảm dần và mất đi sau một
thời gian chung sống. Khi ấy, tình cảm của con người sẽ trở về trạng thái bình thường. Họ
lại dễ dàng nhận ra vợ/chồng với những nét không hoàn hảo như vẫn thường nghĩ. Cuộc
sống chung với những lo toan về cơm áo gạo tiền đã vô tình làm cho họ nhìn rõ hơn
những khuyết điểm của nhau.
Khi không hiểu được điều này, nhiều cặp vợ chồng “đổ lỗi” cho nửa còn lại rằng
“họ đã thay đổi”, rằng khi yêu thì không thể hiện đúng “bản chất” khiến cho họ… chọn
lầm. Và cứ thế xích mích sẽ ngày càng “nới rộng biên độ”.
Fisher lập luận: “Nếu bạn kết hôn với một người chỉ vì yêu thì điều đó là không
cần thiết. Vì hôn nhân không phải là mảnh đất nuôi dưỡng tình yêu, nó là nơi để
chúng ta thực hiện các nghĩa vụ làm người, làm theo những chuẩn mực đạo đức của con
người”.
Thực tế cũng chứng minh rằng đôi lứa có thời gian tìm hiểu kỹ về nhau trước khi bước
vào đời sống hôn nhân thì những xung đột, mâu thuẫn sẽ được hóa giải dễ dàng.
Chỉ tình yêu thôi chưa đủ!
Những lý do được đưa ra không phải nhằm cho bạn… sợ hôn nhân hoặc đi kết hôn
với một người không hề yêu. Các chuyên gia tâm lý khuyên rằng: Trước khi quyết định
kết hôn, bạn nên biết những gì mình sẽ phái đối mặt trong cuộc sống vợ chồng để duy trì
cuộc hôn nhân bền lâu. Chỉ tình yêu thôi chưa đủ để làm nên một gia đình hạnh phúc.
Có rất nhiều thứ vợ chồng trẻ phải đối mặt khi bắt đầu một cuộc sống mới. Khi đó, kỹ
năng chung sống với người khác là điều rất quan trọng. Không chỉ chuẩn bị về mặt tâm
lý, bạn trẻ cần chuẩn bị cả về những kỹ năng để trở thành vợ, chồng, thành cha, mẹ với rất
nhiều những mối quan tâm, quan hệ chung, riêng.
Thực tế cũng chứng minh rằng, các cặp vợ chồng phải mất 3-5 năm mới dung hòa
được cái tôi của nhau. Vì vậy, nếu các bạn trẻ bước vào cuộc sống lứa đôi mà cảm thấy
“không như mình nghĩ” thì cũng đừng vội nản lòng mà hãy tìm cách vượt qua thử thách
để tình yêu hôn nhân thêm bền vững.
Một tín hiệu đáng mừng vì nghiên cứu Fisher cũng chỉ ra rằng, cùng với việc tình
yêu giảm đi sự mãnh liệt, “hormone tình yêu” dopamine được thay thế bởi “hormone tình
Trường hợp của Nguyễn Phương Nhung, ở quận Hoàn Kiếm là một ví dụ. Cưới
nhau mới được hơn một năm và vừa sinh con được 5 tháng, thấy chồng bê trễ chuyện “vợ
chồng”, về đến nhà là nằm dài, chơi với con, ăn cơm, xem ti vi và lăn quay ra ngủ. Ấm
ức, Nhung đoán già đoán non là chồng có bồ. Thêm những xung đột nảy sinh với gia đình
chồng khiến cô ấm ức. Cuối cùng quyết định đơn giản là ly hôn.
Nguyễn Ngọc Huyền cũng là người phải hứng chịu bi kịch từ việc yêu do không tìm hiểu
kỹ. Trải qua 2 cuộc tình thất bại khiến Huyền không còn tin tưởng vào tình yêu. Chính vì