97
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
TRẦN XUÂN HỒNG
NGHIấN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIấN TRƯỜNG
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
THỰC TRẠNG - NGUYÊN NHÂN - GIẢI PHÁP
LUận văn thạc sỹ khoa học xã hội học Hà nội - 2007
96
1. Lý do chọn đề tài :
Về mặt thực tiễn, những người làm công tác quản lý đào tạo và nghiên cứu
khoa học của nhà trường, quan tâm tới mâu thuẫn giữa phương hướng phát
triển chiến lược của nhà trường trong nghị quyết đại hội đảng bộ lần thứ
XXVI năm 2006: xây dựng Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà
Nội theo hướng một trường “Đại học nghiên cứu chất lượng cao” với thực tế
hiện tại nhà trường là “Trường Đại học ít chất nghiên cứu”. Với những đánh
giá như, chúng ta đang đào tạo những gì có, chưa thực sự đào tạo những gì xã
hội cần. Phương pháp giảng dạy cổ điển, nặng về lý thuyết, chậm đổi mới.
Sinh viên học một cách thụ động, thiếu sáng tạo. Hoạt động nghiên cứu khoa
học chỉ có tính chất phong trào chưa có tính bắt buộc bằng cơ chế. Sản phẩm
đào tạo là những cử nhân tốt nghiệp, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị
trường Hiện nay nhà trường đang thực hiện bước đột phá trong công tác đào
tạo đó là chuyển dần từ hình thức đào tạo niên chế sang hình thức đào tạo theo
tín chỉ nhằm mục đích nâng cao hơn hàm lượng nghiên cứu trong quá trình
đạo tạo và bám sát yêu cầu của thị trường lao động…Muốn vậy, một trong
những bước đi cần thiết cho sự chuyển đổi đó là nhà trường phải xác định và
đánh giá chính xác các điều kiện hiện tại về mọi mặt của mình. Đặc biệt là nhà
trường phải đánh giá được việc thực hiện nhiệm vụ cơ bản là giảng dạy và
nghiên cứu khoa học của tập thể đông đảo giảng viên và sinh viên của trong
trường. Câu hỏi đặt ra là hịên nay hoạt động nghiờn cứu khoa học của sinh
viờn trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà
Nội đang được thực hiện như thế nào ?
Về mặt lý luận khoa học, nghiên cứu khoa học sinh viên là một trong những
chủ đề cơ bản của xã hội học giáo dục và xã hội học. Đã có nhiều nghiên cứu
2
khoa học về phương pháp học, lối sống, nhận thức về tình yêu, tình bạn sinh
viên Cũng đã có một số nghiên cứu về hoạt động NCKH của sinh viên nhưng
+ Thảo luận chuyên đề (Seminar)
+ Tham gia các câu lạc bộ khoa học
+ Viết bài tham dự hội thảo khoa học
+ Viết bài báo khoa học công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành
+ Thực hiện báo cáo khoa học tại hội nghị khoa học sinh viên hàng năm
+ Tham gia các dự án nghiên cứu thực tế.
- Nhiệm vụ lý luận là nghiên cứu, phân tích, hệ thống hoá những quan niệm,
khái niệm về nghiên cứu khoa học của sinh viên.
- Đánh giá thực chất nghiên cứu khoa học của sinh viên trong quá trình đào
tạo của nhà trường, phân tích những nguyên nhân, đề ra những giải pháp cho
hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên nhà trường.
4. Nhiêm vụ nghiên cứu :
- Mô tả (định lượng), mức độ tham gia thực hiện các hình thức hoạt động
nghiên cứu khoa học của sinh viên trong trường.
- Mô tả và đánh giá mức độ chủ động, sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu.
- Xác định và phân tích các nguyên nhân cơ bản tác động tới các hình thức
hoạt động nghiên cứu khoa học đó.
- Đề ra một số giải pháp nâng cao tính chất nghiên cứu trong học tập và đào
tạo của sinh viờn và nhà trường.
5. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
5.1. Khách thể nghiên cứu:
4
Sinh viên hệ chính quy văn bằng 1, 2, chất lượng thường và chất lương cao từ
năm thứ 1 đến năm thứ 4 hiện đang học tại trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn - ĐHQGHN.
5.2. Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viờn Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn. Thực trạng - nguyên nhân - giải pháp.
5.3. Phạm vi nghiên cứu:
Triết học : 71 phiếu (20.2%)
Sử học: 72 phiếu (20,5%)
Văn học: 69 phiếu (19.6%)
Khoa học Quản lý: 70 phiếu (19.9%)
Xã hội học : 70 phiếu (19.9%)
Phân bố mẫu theo khóa
Năm thứ 1: 86 phiếu (24.4%)
Năm thứ 2 : 87 phiếu (24.7%)
Năm thứ 3 : 90 phiếu (25.6%)
Năm thứ 4 : 89 phiếu.(25.3%)
Cơ cấu giới tính
Nam : 54 (15.3%)
6
Nữ : 298 (84.7%)
Nơi sinh
Nông thôn : 233(66.2%)
Đô thị : 119(33.8%)
Tuổi
1983: 1(0.3%)
1984: 6(1.7%)
1985 : 82(23.3%)
1986 : 85(24.1%)
1987 : 97(27.6%)
1988 : 81(23.0%)
Lực học
Giỏi : 37 (10.5%)
Khá : 296 (84.1%)
Trung bình khá : 19 (5.4%)
Trung bình : 0 phiếu (0%)
8
7.2. Khung lý thuyết :
Điều kiện
kinh tế – Xã hội
Đặc điểm
của sinh viên
Phương thức
đào tạo
Quy chế
của nhà
trường
Thị trường lao
động
Khoa
và
Khoá
học Lực
học
Chươ
xh Thực trạng nghiên cứu khoa
học của sinh viên
Số
lượng
tỷ lệ
sinhviê
n tham
Cơ
cấu
sinh
viên
tham
Thỏi
độ
tham
gia
Chất
lượn
g
sáng
tạo
10
Nội dung chính
Chương i : Cơ sở lý luận
1. Cơ sở lý thuyết :
1.1. Quan điểm Mác-Xít về nhận thức khoa học:
- Nhận thức là một quá trình, từ trực quan sinh động mang tính cảm tính (cảm
giác, tri giác, biểu tượng) đến tư duy trừu tượng mang tính lý tính (khái niệm,
phán đoán, suy luận) và đến thực tiễn kiểm nghiệm là vòng khâu của nhận
thức bản chất của các sự vật và hiện tượng. Nghiên cứu khoa học là loại hoạt
động nhận thức đặc biệt của chủ thể là con người nhằm khám phá ngày càng
đầy đủ hơn về bản chất các sự vật, hiện tượng và sáng tạo các giải pháp tác
động trở lại sự vật, mãn nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới. Như vậy trước
hết đây phải là hoạt động tư duy trừu tượng ở cấp độ lý tính, nó không thể
thực hiện được khi không có các hoạt động ở giai đoạn nhận thức cảm tính
trước đó. Bởi vì giai đoạn nhận thức cảm tính là giai đoạn thu nhận tài liệu
của thế giới khách quan thông qua các giác quan như nghe, nhìn, ghi chép,
ghi nhớ, tái hiện bằng hệ thống biểu tượng như hình ảnh , ngôn ngữ. Giai
- Nếu một dạng hành vi được thưởng hay có lợi thì hành vi đó có xu hướng
lặp lại.
- Hành vi được thưởng, được lợi trong hoàn cảnh nào thì cá nhân sẽ có xu
hướng lặp lại hành vi đó trong hoàn cảnh tương tự.
- Nếu như phần thưởng, mối lợi đủ lớn thì cá nhân sẽ sẵn sàng bỏ ra nhiều
“chi phí” vật chất và tinh thần để đạt được nó.
- Mức độ hài lòng, thoả mãn với những phần thưởng, mối lợi cá nhân giành
được cao nhất ở lần đầu và có xu hướng giảm dần.
Tiêu điểm của thuyết lựa chọn hợp lý là chủ thể – người hành động. Các chủ
thể được xem là có mục đích hay mục tiêu về cái hành động của họ hướng
12
tới. Các chủ thể cũng được xem là có sở thích như các giá trị, các tiện ích.
Thuyết lựa chọn hợp lý không quan tâm đến tính chất các sở thích này cũng
như các nguồn của chúng. Cái quan trọng là hành động được thực hiện để đạt
được các đối tượng phù hợp với hệ thống sở thích của chủ thể. Về nguyên tắc,
lý thuyết này cho rằng mỗi cá nhân đều xuất phát từ động cơ duy lý - tức là
được tính toán kỹ lưỡng, và lựa chọn hành động nào đem lại lợi ích lớn nhất
với nguy cơ chi phí và thiệt hại nhỏ nhất.
Theo Friedman và Hechter thì các chủ thể hành động được xem là những
nhân vật hành động có mục đích, có mục tiêu và có sở thích riêng. Hành động
của chủ thể được thực hiện để đạt được mục đích, mục tiêu phù hợp với hệ
thống sở thích của chủ thể hành động. Tuy nhiên, trong quá trình hành động,
chủ thể chịu tác động của hai nhóm yếu tố:
+ Sự hiếm hoi của tiềm năng :
Mỗi chủ thể hành động có các tiềm năng khác nhau. Tiềm năng được hiểu là
điều kiện như mức sống, điều kiện kinh tế, thời gian… Đối với những người
có tiềm năng, mục đích có thể đạt được dễ dàng hơn so với những người ít
tiềm năng. Liên quan tới tiềm năng những chi phí, giá phải trả. Trong việc
theo đuổi mục đích, các chủ thể phải quan tâm tới cái giá của hành động lôi
nhận các vai trò xã hội). Mặt khác tái sản xuất một cách chủ động hệ thống
các mối quan hệ thông qua chính việc họ tham gia vào các hoạt động thâm
nhập vào các mối quan hệ xã hội đó (đóng góp các giá trị sáng tạo về vật
chất & tinh thần của mính cho xã hội).
- Đối với sinh viên, họ đang trong lứa tuổi trưởng thành, các hoạt động xã
hội hoá chủ yếu trong giai đoạn này là học tập lĩnh hội tri thức, kỹ năng kỹ
xảo của các chuyên ngành, phạm vi hẹp, sâu sắc để sau này trở thành các
14
chuyên gia trong các lĩnh vực đó. Để trở thành các chuyên gia trong tương lai,
rõ ràng sinh viờn chỉ nạp kiến thức thì chưa đủ, mà phải thực hiện nghiên
cứu khoa học nghĩa là phải nắm vững lý thuyết và thực hành có thể tìm hiểu
sâu bản chất của sự vật, để vận dụng giải quyết các vấn đề thực tiễn, đồng
thời sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần mới đóng góp cho xã hội. Như
vậy nghiên cứu khoa học sinh viên phải là một trong các hình thức hoạt động
chủ đạo, bắt buộc trong quá trình đào tạo đại học mới có thể giúp cho sinh
viên hình thành khả năng tìm tòi, nghiên cứu tri thức và như vậy mới đóng góp
cho xã hội những sáng tạo của mình ngay từ khi còn ở trong trường đại học.
1.4. Lý thuyết hành động xã hội của M.Weber:
Theo quan điểm của Max Weber thì một hành động được gọi là hành động
xã hội khi nó tương quan và định hướng hành động của người khác theo ý
muốn chủ quan của chủ thể hành động.
Max Weber chia hành động xã hội thành bốn loại cơ bản:
- Hành động duy lý- công cụ: là hành động được thực hiện với sự cân
nhắc, tính toán, lựa chọn công cụ, phương tiện, mục đích sao có hiệu quả cao
nhất.
- Hành động duy lý- giá trị: là hành động được thực hiện vì bản thân hành
động (mục đích tự thân).
- Hành động duy lý cảm xúc: là hành động do các trạng thái xúc cảm, tình
cảm bột phát gây ra mà không có sự cân nhắc, xem xét, phân tích mối quan hệ
cơ
Chủ
thể
Công cụ,
Phương tiÖn
Mục
đích
16
- Công cụ của NCKHSV là hệ thống các khái niệm, các nguyên lý, mô hình,
quy luật.
- Chủ thể của NCKH là cá nhân hoặc nhóm sinh viên.
- Động cơ của NCKH là nâng cao nhận thức và hướng tới những giá trị, lợi
ích mà chủ thể nhận thấy rằng mình có thể đạt được khi đi tham gia.
- Hoàn cảnh NCKH SV trong môi trường học đại học, có mức độ và yêu cầu
chuyên môn cao hơn hẳn môi trường PTTH.
Hành động xã hội nói chung chịu ảnh hưởng bởi sự quy định của nhiều yếu tố
như:
- Các yếu tố tự nhiên: gen di truyền
- Quá trình xã hội hóa và cơ cấu xã hội: quá trình xã hội hóa cũng có ảnh
hưởng nhất định đến hành động NCKH của sinh viên. Ví dụ: những sinh viên
ở thành phố thường tham gia nhiều hơn, do được xã hội hóa ở môi trường xã
hội năng động hơn.
- Hành động xã hội là sự trao đổi xã hội: nhu cầu NCKH được hình thành khi
chủ thể thấy được những lợi ích mà mình sẽ có được khi thực hiện được hành
động đó. Bởi theo cách giải thích này chính những mối lợi và phần thưởng,
những hình phạt quy định hành động xã hội.
- Ngoài ra hành động xã hội cũng là sự tuân theo và là sự phản ứng đối với
xung quanh. Có những hành động được hình thành do chịu tác động của các
chủ thể khác hay sự học đòi theo trào lưu. Như vậy, để hình thành nên hành
18
kết quả thu được ngẫu nhiên dù phù hợp với giả thuyết đặt ra trước đó cũng
chưa thể xem là đủ tin cậy để kết luận về bản chất của sự vật hoặc hiện tượng.
Điều này dẫn đến một nguyên tắc mang tính phương pháp luận nghiên cứu
khoa học, là khi trình bày một kết quả nghiên cứu cần chỉ rõ những điều kiện,
các nhân tố và phương tiện thực hiện (nếu có)
2.2.3. Tính thông tin
Sản phẩm của nghiên cứu khoa học được thể hiện dưới nhiều dạng, có thể đó
là một báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, song cũng có thể là một mẫu vật
liệu mới, mẫu sản phẩm mới, mô hình thí điểm về một phương thức tổ chức
sản xuất mới… Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp này, sản phẩm khoa
học luôn mang những đặc trưng thông tin. Đó là những thông tin về những
quy luật vận động của sự vật, thông tin về quy trình công nghệ và các tham số
đi kèm quy trình đó.
2.2.4. Tính khách quan
Tính khách quan vừa là một đặc điểm của nghiên cứu khoa học, vừa là một
tiêu chuẩn về phẩm chất của người nghiên cứu khoa học. Trong xã hội khoa
học người ta xem đó là một chuẩn mực giá trị. Một nhận định vội vã theo cảm
tính, một kết luận vội vã thiếu chính xác nhận bằng kiểm chứng chưa thể được
xem là một phản ánh khách quan về bản chất của sự vật.
Để đảm bảo tính khách quan, người nghiên cứu cần phải luôn đặt các loại câu
hỏi ngược lại với những kết luận được xác nhận:
* Kết quả có thể khác không ?
* Nếu kết quả đúng, thì đúng trong những điều kiện nào?
* Còn phương pháp nào cho kết quả tốt hơn?
2.2.5. Tình rủi ro
Quá trình khám phá bản chất sự vật và sáng tạo sự vật mới hoàn toàn có thể
gặp phải thất bại. Đó là tính rủi ro (risque) của nghiên cứu. Sự thất bại trong
Dù là một công trình nghiên cứu khoa học do một tập thể thực hiện thì vai trò
cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính quyết định. Tính cá nhân được thể hiện
trong tư duy cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân.
2.3. Nghiên cứu khoa học sinh viên:
2.3.1. Khái niệm NCKH sinh viên:
Là hoạt động quan trọng, cần thiết trong quá trình đào tạo, góp phần nâng cao
chất lượng đào tạo. Nghiên cứu khoa học sinh viên cú cỏc đặc trưng sau đây:
- NCKH sinh viên là quá trình tiếp nhận một cách có hệ thống các tri thức
khoa học đã được khái quát hoá, trừu tượng hoá.
- NCKH sinh viên là quá trình học phương pháp vận dụng các tri thức khoa
học vào thực tiễn.
- NCKH sinh viên là quá trình tìm tòi, phát hiện các tri thức khoa học mới,
đóng góp (tuy chưa nhiều) cho hệ thống tri thức khoa học nói chung.
2.3.2.Các hình thức cơ bản của NCKH sinh viên :
- Tham gia các câu lạc bộ khoa học sinh viên:
Sinh viên tham gia sinh hoạt chuyên môn tại các câu lạc bộ khoa học do sinh
viên thành lập để nghiên cứu khoa học, với tư cách là thành viên chính thức
hoặc dự thính, nhằm trao đổi tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng nghiên
cứu khoa học cần thiết.
- Thảo luận (Seminar) các chuyên đề khoa học:
Là hoạt động nhóm tập trung nhằm tìm tòi trao đổi tri thức, được thực hiện
thường xuyên trong các giờ học, giờ thực tập, các hội nghị khoa học.
- Báo cáo khoa học tại hội nghị khoa học sinh viên:
Là hoạt động được tổ chức mỗi năm học một lần tại các khoa. Sinh viên tự
nguyện tham gia các đề tài nghiên cứu theo nhóm hoặc các nhân. Sản phẩm
21
của hoạt động NCKHSV là những báo cáo khoa học hoàn chỉnh về các lĩnh
vực cuộc sống và được trình bày tại Hội nghị khoa học sinh viên, được hội
đồng khoa học các khoa đánh giá, thẩm định, chấm điểm.
nhiều quan điểm khác nhau, phụ thuộc vào các nhóm người có lợi ích khác
nhau sẽ có những ưu tiên, những tiêu chí khác nhau. Chẳng hạn, trong trường
đại học giảng viên và sinh viên quan tâm nhiều đến quá trình giáo dục, trong
khi những người sử dụng nguồn nhân lực lại chỉ quan tâm tới chất lượng đầu
ra của giáo dục đại học mà thôi. Nhưng một điều được nhiều người đồng ý là:
Muốn được gọi là có chất lượng thì phải đảm bảo 3 khía cạnh một là mục tiêu,
hai là quá trình triển khai để đạt mục tiêu, ba là kết quả đạt được. Và điều tốt
nhất để xác định được khái niệm chất lượng là xác định được một cách rõ ràng
tiêu chí mà mỗi loại người có quyền lợi liên quan sử dụng khi đánh giá chất
lượng. Tại hội nghị Paris về Giáo dục Đại học 1998 có đề ra yêu cầu đối với
Sinh viên tốt nghiệp trong xã hội mới của thế kỷ XXI. theo đó, Sinh viên khi
tốt nghiệp phải đạt được:
+ Những tri thức tiên tiến – dù là kiến thức đại cương hay chuyên nghiệp
+ Khả năng áp dụng những tri thức đó vào các tình huống cụ thể.
+ Hàng loạt kỹ năng xã hội hoặc giao tiếp cho phép họ ứng xử trong một bối
cảnh ngày càng toàn cầu hoá, chúng bao gồm các kỹ năng:
– Thiết lập các mối quan hệ
– Thuyết phục
– Tự quản
– Chỉ đạo và điều phối
– Nhạy bén trong kinh doanh
– Ngoại ngữ
23
Ngoài ra, Sinh viên tốt nghiệp phải chứng tỏ sự quan tâm và cam kết của
mình trong lĩnh vực đã chọn cũng như tính mềm dẻo và kiên nhẫn để đáp ứng
các thách thức phát sinh. Như vậy có thể hiểu chất lượng là: Sự trùng khớp với
mục đích đề ra. Theo nghĩa đó, một khoá đào tạo của trường đại học được coi
là có chất lượng nếu nó tuân thủ các tiêu chuẩn xác định hoặc đạt được mức
độ nào đó của mục đích thiết kế.