tạp chí kinh tế đối ngoại đề tài NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUY TRÌNH THỰC TẬP GIỮA KHÓA CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG THEO HƯỚNG GẮN VỚI THỰC TIỄN - Pdf 28

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUY TRÌNH THỰC TẬP GIỮA
KHÓA CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG THEO HƯỚNG
GẮN VỚI THỰC TIỄN
ThS Nguyễn Thị Thu Trang
TẠP CHÍ KTĐN SỐ 56
Tóm tắt:
“Thực tập” là một học phần không thể thiếu đối với mỗi sinh viên dù ở bất kỳ
ngành học nào bởi những lợi ích mà quá trình thực tập này mang lại cho sinh
viên. Để thu hẹp khoảng cách giữa chương trình đào tạo và thực tiễn làm
việc, đồng thời giúp sinh viên vận dụng các lý thuyết đã học vào thực tập,
những năm qua, trường đại học Ngoại thương đã yêu cầu sinh viên năm thứ
3 phải đi kiến tập thực tế tại doanh nghiệp và viết báo cáo thực tập giữa
khóa, coi đây là điều kiện bắt buộc trong việc hoàn thành chương trình đào
tạo.
Tuy nhiên không phải bất cứ sinh viên nào sau khi hoàn thành quá trình thực
tập tại đơn vị, mang về một báo cáo tốt, đạt được điểm số cao cũng đồng
nghĩa với việc sinh viên đó đã thực sự trải qua môi trường thực tế doanh
nghiệp, có cơ hội áp dụng các kiến thức đã học và sẽ không bỡ ngỡ khi cầm
tấm bằng tốt nghiệp để đi tìm việc làm. Trên thực tế, tỷ lệ sinh viên tìm được
nơi thực tập thật sự hiệu quả là rất thấp.
Xuất phát từ thực trạng này, cùng với mong muốn được giúp nhà trường
nâng cao chất lượng đào tạo cũng như giúp sinh viên gắn kết nhiều hơn nữa
giữa lý thuyết và thực tế, bài báo này có mục tiêu tìm ra những giải pháp
nhằm đổi mới quy trình thực tập giữa khóa của sinh viên đại học Ngoại
thương theo hướng gắn với thực tiễn.
Từ khóa: chất lượng đào tạo, quy trình thực tập giữa khóa
1 . Thực trạng quy trình thực tập giữa khóa tại Trường đại học Ngoại
thương
1.1. Khái quát chung về hoạt động thực tập giữa khóa
“Thực tập” theo Từ điển tiếng Việt có nghĩa là: tập làm trong thực tế để vận
dụng và củng cố kiến thức lý thuyết, trau dồi thêm về nghiệp vụ. Thực tập

tài đã thiết kế phiếu điều tra gồm 15 câu hỏi phát cho 300 sinh viên. Do nhiều
lý do khách quan và chủ quan, số phiếu thu về là 214 phiếu. 15 câu hỏi này
đánh giá nhiều khía cạnh của quá trình thực tập giữa kỳ tại Trường đại học
Ngoại thương hiện nay như đánh giá tổng quan về sự cần thiết của quá trình
thực tập giữa kỳ, đánh giá về thái độ, tinh thần làm việc của giáo viên hướng
dẫn, đánh giá về sự hỗ trợ của doanh nghiệp thực tập, những thuận lợi và
khó khăn gặp phải khi thực tập tại doanh nghiệp, đánh giá về sự hỗ trợ của
Khoa chủ quản trong việc tìm nơi thực tập cho sinh viên, đánh giá về tính hợp
lý của quy trình thực tập hiện nay… Cụ thể 15 câu hỏi như sau:
1. Các bạn có cho rằng thực tập giữa khóa là một học phần thiết thực đối
với sinh viên năm thứ 3 hay không?
2. Khoảng thời gian 5 tuần thực tập theo bạn đã hợp lý chưa?
3. Theo bạn, có cần một buổi định hướng cho sinh viên về vai trò, mục
tiêu và quy trình thực tập giữa khóa không?
Nguồn: Tổng hợp của Nhóm nghiên cứu đề tài
1. Việc nhận thư giới thiệu từ Khoa của các bạn có kịp thời và dễ dàng
không?
2. Các bạn cho ý kiến về việc phân công giáo viên hướng dẫn sinh viên
thực tập giữa khóa?
3. Trong quá trình thực tập, bạn được gặp giáo viên hướng dẫn mấy lần?
4. Thái độ của giáo viên hướng dẫn của các bạn thế nào?
5. Các bạn có gặp trở ngại gì trong việc tìm đơn vị thực tập không?
6. Nếu có thì trở ngại thường là do…
10.Các bạn đi thực tập tại doanh nghiệp nào?
11.Khi đến thực tập tại doanh nghiệp, các bạn có được hướng dẫn cụ thể về
công việc được giao tại đơn vị thực tập không?
12.Theo các bạn, có cần thêm một người tại đơn vị thực tập tham gia hướng
dẫn viết báo cáo thực tập giữa khóa không?
13.Các bạn gặp trở ngại gì tại đơn vị thực tập?
14.Các bạn có thấy sự thống nhất về kết cấu bài báo thực tập giữa sinh viên

phải làm vào năm sau khi hướng dẫn sinh viên viết báo cáo thực tập cuối kỳ
hay khóa luận tốt nghiệp khi đề cập đến những nội dung như hình thức, cách
trình bày, cách trích dẫn tài liệu tham khảo… Quy trình thực tập hiện nay
cũng tương đối thuận tiện với giáo viên, cho phép giáo viên được linh hoạt
trong cách quản lý, hướng dẫn và chấm điểm sinh viên.
Về phía đơn vị tiếp nhận thực tập: Quy trình hiện nay cho phép sinh viên có
thể tự đến liên hệ với doanh nghiệp. Với thời gian thực tập 5 tuần tại doanh
nghiệp, đây sẽ là cơ hội để doanh nghiệp tìm kiếm nguồn nhân lực tiềm năng,
có thể tuyển dụng vào làm bán thời gian trước khi các em tốt nghiệp để làm
chính thức. Quy trình như hiện nay chưa yêu cầu phải có một cán bộ cùng
tham gia hướng dẫn với các em nên việc có sinh viên đến thực tập cũng
không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của doanh nghiệp hay đơn vị tiếp
nhận thực tập.
2.3.2. Nhược điểm
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, quy trình thực tập hiện nay còn tồn tại
khá nhiều nhược điểm, thể hiện qua phần khảo sát của nhóm nghiên cứu với
3 nhóm đối tượng có liên quan trực tiếp là sinh viên, giáo viên hướng dẫn và
đơn vị tiếp nhận thực tập. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, việc không có một buổi định hướng tổng quan về ý nghĩa, mục đích,
nhiệm vụ của đợt thực tập giữa khóa làm nhiều sinh viên không hiểu hết
được tầm quan trọng của chương trình này.
Thứ hai, thời gian thực tập quá ngắn nên hầu như sinh viên chưa thấy được
hiệu quả tích cực của việc đi thực tập giữa khóa. Thời gian chủ yếu của sinh
viên ở nơi thực tập chỉ là làm các việc dọn dẹp và photo tài liệu.
Thứ ba, việc phân công giáo viên hướng dẫn trước rồi mới chọn nơi thực tập
dẫn đến việc giáo viên hướng dẫn có thể không có chuyên môn sâu về nơi sinh
viên thực tập, do đó không thể hướng dẫn kỹ sinh viên phần nội dung bài báo
cáo được.
Thứ tư, một giáo viên được phân công hướng dẫn quá nhiều sinh viên, đặc
biệt là các giáo viên kiêm nhiệm dẫn đến tình trạng có những sinh viên không

Nhà
trườn
g
Kho
a
GV
HD
SV DN
Bước 1: Phòng Đào tạo tổng hợp danh
sách sinh viên
x
Bước 2:Phòng Đào tạo gửi danh sách
sinh viên về các Khoa chuyên ngành
x
Bước 3: Tổ chức buổi ĐỊNH HƯỚNG x
Bước 4: Sinh viên đăng kí lĩnh vực đề tài x x
Bước 5: BCN Khoa phân công GV hướng
dẫn
x
Bước 6: Sinh viên xem thông tin và lấy
giấy giới thiệu trên Khoa
x
Bước 7:Sinh viên gặp giáo viên hướng
dẫn và đi thực tập (6 tuần)
x x x
Bước 8:Kiểm soát quá trình thực tập x x
Bước 9:Kết thúc thời gian thực tập, sinh
viên nộp bài hoàn chỉnh cho giáo viên
hướng dẫn
x x

sinh viên cũng có chủ động đi tìm đơn vị thực tập nhưng nhiều khi không
thành công. Đây cũng là nguyện vọng của phần lớn sinh viên khi nhóm tác giả
đi khảo sát. Để làm được nhà trường cần chủ động liên hệ với các cơ quan,
doanh nghiệp phù hợp với các chuyên ngành trường đào tạo để làm cầu nối
cho sinh viên đi thực tập.
Bước 4, sinh viên đăng ký lĩnh vực muốn viết báo cáo về một doanh nghiệp cụ
thể. Sau buổi định hướng có thể có những sinh viên đã định hình được về nội
dung cần viết và đã chắc chắn được nơi thực tập. Khoa sẽ cho những sinh
viên này đăng kí lĩnh vực sinh viên muốn viết để phục vụ cho bước phân công
giáo viên phù hợp.
Ví dụ sinh viên muốn viết về nghiệp vụ trong ngân hàng thì sẽ được thầy cô
đúng chuyên môn hướng dẫn, còn những em viết về mảng kế toán cũng sẽ
được thầy cô bộ môn kế toán-kiểm toán hướng dẫn.
Bước 5, BCN Khoa phân công giáo viên hướng dẫn dựa trên đăng kí của sinh
viên về lĩnh vực đề tài báo cáo thực tập giữa khóa.
Việc phân công hướng dẫn cũng cần có sự thay đổi, không nên phân công một
giáo viên hướng dẫn quá nhiều sinh viên. Ở đây, nhóm tác giả đề xuất số
lượng tối đa mỗi giáo viên hướng dẫn chỉ là 10 sinh viên thực tập hoặc ít
hơn.
Bước 6, sinh viên xem thông tin và lấy giấy giới thiệu từ Khoa. Khoa có thể để
cho lớp trưởng từng lớp lấy hoặc từng sinh viên lên văn phòng Khoa lấy giấy
giới thiệu để tránh thất lạc hoặc chậm thông tin tới sinh viên.
Bước 7, sinh viên gặp giáo viên hướng dẫn và đi thực tập. Thời gian thực tập
được kéo dài hơn so với quy trình cũ. Trong 6 tuần này sinh viên sẽ đến doanh
nghiệp, thực hiện các công việc theo yêu cầu của đơn vị thực tập, đồng thời
viết đề cương và hoàn thành bài báo cáo thực tập giữa khóa.
Sau khi sinh viên nhận chỗ thực tập, các khoa chuyên môn không nên “khoán
trắng” cho đơn vị tiếp nhận sinh viên mà cần có sự quản lí, liên hệ thường
xuyên với nơi tiếp nhận để tìm hiểu về tình hình thực tập của sinh viên. Như
vậy mới theo dõi được thực chất chất lượng kỳ thực tập của sinh viên ra sao,

hiện đề tài đề xuất giải pháp cần phải có sự trao đổi nhiều hơn đối với sinh
viên. Mặc dù làm như vậy có những người cho rằng như vậy là “ mình tự
chấm mình” hay “thực tập giữa khóa thì không cần như vậy” nhưng việc chia
sẻ kinh nghiệm cũng như trao đổi với sinh viên nhiều hơn sẽ giúp các em tích
lũy được kinh nghiệm cho những sản phẩm khoa học về sau.
Bước 10, giáo viên chấm điểm và nộp điểm cho Khoa. Ở bước này, khuyến
khích giáo viên trả bài cho sinh viên, phân tích cho các em biết vì sao lại đạt
được mức điểm như vậy
Bước 11, Thư ký Khoa tổng hợp và tải điểm lên trang tín chỉ.
3.2 Một số đề xuất khác nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thực tập
giữa khóa tại trường đại học Ngoại Thương
3.2.1 Về phía Nhà trường
Thứ nhất, để sinh viên thực tập thành công, điều căn bản nhất là chương
trình đào tạo trong nhà trường cần được xây dựng có chất lượng, gắn liền
với thực tiễn nghề nghiệp. Có một thực tế là hiện nay, các đơn vị sử dụng lao
động phần lớn đều phải tái đào tạo nhân viên là sinh viên mới ra trường.
Kiến thức sinh viên được học trên giảng đường đa phần nặng tính lý thuyết, ít
được thực hành, ít được rèn luyện kỹ năng, ít được cập nhật các tri thức mới
đi liền với sự phát triển của các ngành nghề. Điều này khiến sinh viên gặp
không ít khó khăn, lúng túng khi tiếp cận với công việc, nhất là trong thời
gian thực tập. Để biết được những hạn chế của chương trình đào tạo, Nhà
trường nên tổ chức lấy ý kiến phản hồi của các cơ quan, doanh nghiệp.
Những ý kiến này thường rất thiết thực, giúp Nhà trường hiểu được nhu cầu
của thị trường lao động, nhằm trang bị kiến thức cho sinh viên. Có thể lấy
phản hồi bằng nhiều cách như tổ chức hội thảo, tổng hợp thông tin thông qua
bảng hỏi, phỏng vấn trực tiếp…
Thứ ba, Nhà trường có thể thành lập một Trung tâm hỗ trợ nơi thực tập tại
các Doanh nghiệp cho sinh viên. Trung tâm trước hết là nơi có thể cung cấp
các nguồn thông tin cho những em sinh viên khó khăn trong việc tiếp cận đơn
vị thực tập. Ngoài ra, Trung tâm còn là cầu nối để doanh nghiệp phản hồi

Thứ nhất, các giảng viên tự học tập và bồi dưỡng để không ngừng nâng cao
năng lực của bản thân. Bên cạnh việc hoàn thiện năng lực chuyên môn, các
giảng viên cũng cần bồi dưỡng thêm về năng lực nghiên cứu, mỗi bài cáo cáo
là một sản phẩm khoa học, mỗi giáo viên là một người hướng dẫn khoa học
nên để giúp các em hoàn thành tốt bài báo cáo thì người hướng dẫn cần phải
tự trau dồi các phương pháp nghiên cứu.
Thứ hai, giáo viên hướng dẫn cần có sự cải tiến trong nội dung bài báo cáo
hướng tới nâng cao tính thực tiễn, ứng dụng đối với sinh viên.
Thứ ba, vì mỗi giáo viên sẽ hướng dẫn nhiều sinh viên nên việc sử dụng ứng
dụng công nghệ thông tin như công cụ Dropbox để cải tiến cách thức liên hệ,
quản lý sinh viên trong suốt quá trình hướng dẫn, việc gửi tài liệu, bài báo
cáo, thông báo thông tin….là việc làm cần thiết mà mỗi giáo viên nên nghiên
cứu và triển khai.
Thứ tư, để gắn kết thực tiễn với chuyên ngành giảng dạy, mỗi giáo viên
hướng dẫn cần tiếp cận nhiều hơn với doanh nghiệp. Khi giáo viên đi thực tế
sẽ thu thập được nhiều thông tin, nhiều nội dung để có thể truyền đạt lại cho
sinh viên qua giờ lên lớp, chia sẻ với sinh viên trong quá trình hướng dẫn.
Qua việc đi thực tế tại doanh nghiệp, giáo viên sẽ có thể tổng hợp thông tin và
viết thành các case study dung cho giảng dạy và nghiên cứu.
Thứ năm, bên cạnh việc hoàn thiện về chuyên môn, bổ sung kiến thức thực tế
thì mỗi giảng viên cần nhiệt tình hơn nữa với sinh viên. Qua khảo sát, sinh
viên rất mong muốn được gặp giáo viên nhiều hơn, nghe Thầy/Cô hướng dẫn,
chia sẻ kinh nghiệm nhiều hơn không chỉ giúp các em có bài báo cáo tốt mà
còn giúp các em có những lời khuyên trong học tập, cuộc sống.
Cuối cùng, trong việc chấm điểm bài báo cáo thực tập giữa khóa, giáo viên
hướng dẫn cần công khai các yêu cầu khi chấm điểm (về kết cấu, về tính thực
tiễn, về ý thức, thái độ…) để sinh viên không thắc mắc hay phản ánh về sự bất
công bằng, phân biệt đối xử.
3.2.4 Đối với các doanh nghiệp
Thứ nhất, khi doanh nghiệp đã đồng ý tiếp nhận sinh viên đến thực tập thì

2011.
3. Nguyễn Thúy Phương, “Đề xuất một số biện pháp khắc phục khó kahwn
trong hướng dẫn sinh viên tham gia kiến tập và thực tập tốt nghiệp”,
Kỷ yếu hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học, 2011.
4. Nguyễn Thị Mơ (2010), Nâng cao chất lượng dạy và học trên cơ sở đổi
mới phương pháp giảng dạy lấy người học làm trung tâm, Dự án FTU
TRIP.
5. Roberts, C, Những ý tưởng đối với hoạt động thực tập, Tạp chí Fleet
Equipment, tháng 9/2009, ABI/INFORM Global, trang 7.
6. Talbott, J,Bukovinsky, D, Sprohge, D.H, Khuyến khích sinh viên thực tập _
nâng cao lợi ích của doanh nghiệp, tạp chí Quản lý CMA, 8,9/2006,
ABI/INFORM Global, trang 15.
7. Lập kế hoạch để đạt được hiệu quả đối với việc tuyển thực tập sinh, Tạp
chí HR Focus, Tháng 9/2005, ABI/INFORM Global, trang 7.
8. Castillo, D.E, Khuyến khích sinh viên thực tập tích cực làm việc, Tạp chí
Business Mexico, tháng 3/2004, ABI/INFORM Global, trang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status