Nhập siêu việt nam thực trạng – nguyên nhân – giải pháp - Pdf 13

1

LỜI MỞ ĐẦU
Đối với các nước đang phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa và mở cửa hội nhập
kinh tế, thâm hụt cán cân thương mại là một hiện tượng khá phổ biến vì yêu cầu nhập
khẩu rất lớn trong khi khả năng cạnh tranh của nền kinh tế còn hạn chế, do đó mức tăng
trưởng xuất khẩu trong ngắn hạn không thể bù đắp thâm hụt thương mại. Tuy nhiên, nếu
tình trạ
ng này diễn ra thường xuyên và dai dẳng cho thấy, sự yếu kém trong điều tiết kinh
tế vĩ mô và hậu quả đối với nền kinh tế rất trầm trọng.
Ở Việt Nam, nhập siêu đã kéo dài liên tục từ những năm 1990 trở lại đây.Trong suốt
quá trình phát triển kinh tế kéo dài hơn 20 năm, Việt Nam chỉ xuất siêu duy nhất một lần
năm 1992.Việc nhập siêu liên tục trong một khoảng thờ
i gian dài như vậy đã để lại nhiều
hệ lụy cho nền kinh tế, cũng như mang đến nhũng rủi ro có thể gặp phải trong tương lai.
Có thể nói nhập siêu đã trở thành nút thắt của nhiều vấn đề kinh tế vĩ mô hiện nay và đã
thu hút sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu kinh tế và
giới doanh nhân cả nước. Tuy vậy, tình hình vẫn chưa được cải thiện đáng k
ể.
Thông qua đề tài, nhóm nghiên cứu hy vọng đưa ra một bức tranh bao quát về tình
hình nhập siêu của nước ta, các nguyên nhân chính dẫn đến nhập siêu, phân tích đánh giá
các giải pháp kiềm chế nhập siêu của chính phủ và các chuyên gia, từ đó đưa ra kết luận
và các giải pháp của nhóm.
Phương pháp chủ yếu nhóm sử dụng là phương pháp phân tích, thống kê.Nghiên cứu
sử dụng rất nhiều thông tin và số liệu từ các nguồn khác nhau kể cả trong nước và ngoài
n
ước. Các số liệu dùng để phân tích tình hình nhập siêu được tổng hợp chủ yếu từ nguồn
đã được Tổng cục thống kê, Bộ Công thương, Bộ Ngoại giao công bố.
Bài nghiên cứu được chia làm 3 chương. Chương đầu tiên tập hợp những lý luận cơ
bản về nhập siêu. Trong chương này, nhóm đưa ra định nghĩa nhập siêu, các yếu tố tác
động đến nhập siêu, những hiệu quả tích cực cũ

2.1. Tác động của tỷ giá hối đoái 5
2.2. Tác động của việc thay đổi thu nhập ở nước xuất khẩu và nước nhập khẩu 7
2.3. Cơ cấu và chu kỳ kinh tế 7
2.4. Sự mất cân đối giữa tổng đầu tư và tiết kiệm 8
2.5. Các biện pháp bảo hộ mậu dịch 9
3. Tác động của nhập siêu đến nề
n kinh tế 9
3.1. Các tác động tích cực 9
3.2. Những rủi ro do nhập siêu 10
4. Bài học giải quyết tình trạng nhập siêu từ các nước ASEAN 11
CHƯƠNG 2: TÌNH TRẠNG NHẬP SIÊU CỦA VIỆT NAM QUA
CÁC NĂM

1. TÌNH TRẠNG NHẬP SIÊU 13
1.1. Thực trạng nhập siêu Việt Nam giai đoạn 1990- nay 13
1.2. Mặt hàng nhập siêu 14
1.3. Thị trường nhập siêu 17
1.4. Các nhận định về nhập siêu 19
1.4.1. Tình hình nhập siêu 19
1.4.2. Mặt hàng nhập siêu 20
1.4.3. Vấn nạn nhập siêu từ Trung Quốc 21
1.5. Nguyên nhân nhập siêu 24
1.5.1. Nhà nước 24
1.5.2. Doanh nghiệp 26
4

1.5.3. Người dân 28
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP GIẢM NHẬP SIÊU VIỆT NAM
1. Giải pháp Nhà nước, Bộ, Ngành năm 2011 30
2. Giải pháp, nhận định của các chuyên gia 35

mua từ các nước khác được định nghĩa là nhập
khẩu. Cán cân thương mại là sự chênh lệch giữa giá trị thể hiện bằng tiền của xuất
khẩu (kim ngạch xuất khẩu) và giá trị thể hiện bằng tiền của nhập khẩu (kim ngạch
nhập khẩu). Sự hiểu biết về cán cân thương mại đã bắt đầu manh nha từ giữa thế kỷ
16 ở châu Âu trong số những người theo trường phái trọng thương. Ví dụ như, trong
cuốn “A Discourse of the Common Weal of this Realm of England”, tác giả
Elizabeth Lamon và William Cunningham đã trích dẫn một câu nói của giới trọng
thương như sau “Chúng ta phải luôn luôn lưu ý rằng ta không bao giờ mua hàng của
những kẻ lạ mặt nhiều hơn ta bán cho họ, bởi vì nếu thế thì ta đã tự làm nghèo mình
đi và làm cho họ giàu lên”.
2. Các yếu tố tác động đến nhập siêu
2.1. Tác động của tỷ giá h
ối đoái
Theo các quan niệm truyền thống, tỷ giá ảnh hưởng rất nhiều đến nhập siêu vì nó
ảnh hưởng đến giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước với hàng hóa trên
thị trường quốc tế. Khi giá của đồng tiền của một quốc gia tăng lên thì giá cả của
hàng hóa nhập khẩu sẽ trở nên rẻ hơn trong khi giá hàng xuất khẩu lại trở nên đắt đỏ
hơn đố
i với người nước ngoài. Vì thế việc tỷ giá giảm sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu
và thuận lợi cho nhập khẩu dẫn đến kết quả là xuất khẩu ròng giảm.Ngược lại, khi
6

tỷ giá tăng lên, xuất khẩu sẽ có lợi thế trong khi nhập khẩu gặp bất lợi và xuất khẩu
ròng tăng lên.
Có thể nói theo quan điểm truyền thống, tỷ giá là nguyên nhân chính của tình
trạng nhập siêu. Tuy nhiên, gần đây, rất nhiều các bài nghiên cứu của các học giả
trên thế giới đã chứng minh, thực chất, tỷ giá không có hoặc có rất ít mối liên hệ với
thâm hụt thương mại hay nhậ
p siêu trong thực tế.
Trong một nghiên cứu so sánh ASEAN-5 (Malaysia, Singapore, Thailand,

có ảnh hưởng quan trọng đến cán cân thương mại và nhập siêu của nước đó. Nếu
tổngthu nhập quốc dân ở một nước tăng, nhu cầu nhập khẩu hàng hóa vào nước đó
sẽ cao hơn. Một số những nhu cầu đó có thể được đáp ứng bởi một nước khác và
làm tăng kim ngạch xuất khẩu ở nước xuất khẩu, từ đó làm giảm nhập siêu của nước
xuất khẩu (trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi). Ngượ
c lại, nếu thu
nhập quốc dân ở nước ngoài giảm, xuất khẩu sang các nước này cũng sẽ giảm, từ đó
làm tăng nhập siêu ở nước xuất khẩu.
Tương tự, tổng thu nhập quốc dân trong nước tăng sẽ khiến nhu cầu hàng hóa và
dịch vụ tăng, từ đó làm tăng nhập khẩuvà tăng nhập siêu.Mặt khác, nếu thu nhập
quốc dân giảm, nhập khẩ
u sẽ giảm và làm giảm nhập siêu.
2.3. Cơ cấu và chu kỳ kinh tế
Trong bài viết “Nhập siêu kéo dài: Tỷ giá hay cơ cấu kinh tế?” đăng trên Thời
báo Kinh tế Sài gòn, tác giả có đưa ra một nguyên nhân chính nữa của nhập siêu là
do cơ cấu kinh tế không hợp lý.Theo đó ông cho rằng thông thường khi chọn ngành
trọng điểm thường phải xem xét đến hai yếu tố là chỉ số lan tỏa nội địa và chỉ số
kích thích nh
ập khẩu. Tuy nhiên thực tế cho thấy một số ngành có tỷ trọng vốn đầu
tư khá lớn nhưng chỉ số lan tỏa nội địa thấp và chỉ số kích thích nhập khẩu cao bất
thường. Những nhóm ngành này hầu hết nằm ở khu vực công nghiệp và xây dựng.
Khi một quốc gia lựa chọn các nhóm ngành này làm ngành trọng điểm thì sẽ góp
phần làm tăng nhập siêu.
8

Chu kỳ kinh tế cũng có ảnh hưởng đến nhập siêu. Ở những quốc gia phát triển
thiên về xuất khẩu, cán cân thương mại sẽ tăng trong quá trình mở rộng kinh tế. Lý
do là do quốc gia này xuất khẩu nhiều sản phẩm hơn là nhập khẩu hàng hóa.Ngược
lại, với những quốc gia phát triển dựa vào nhu cầu nội địa, cán cân thương mại sẽ có
xu hướng giảm trong quá trình phát triển do những quốc gia này cần phải nhập khẩu

Một nghiên cứu của IMF đã chứng minh các biện pháp bảo hộ mậu dịch của một
quốc gia có ảnh hưởng rất lớn đến nhập khẩu của quốc gia đó, mà khi nhập khẩu
thay đổi thì nhập siêu cũng thay đổi theo. Tác giả của nghiên cứu đã sử dụng mô
hình ước đoán kinh tế lượng để đo lường ảnh hưởng của các rào cản mậu dịch lên
nhập khẩu của các nước trên thế giới. Kết quả cho thấy sự hiện diện của thuế quan
đã làm giảm đáng kể lượng nhập khẩu. Cụ thể hơn, thuật toán ước lượng của họ cho
thấy khi nhu cầu nội địa không thay đổi, nếu thuế quan tăng 1% thìnhập khẩu của
một quốc gia sẽ giảm 2%. Ngoài thuế quan, các rào cản phi thuế quan phổ biến nhấ
t
cũng được nghiên cứu.Các tác giả chứng minh rằng ảnh hưởng của rào cản phi thuế
quan như các biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu, các biện pháp bảo hộ độc
quyền cũng như các biện pháp bảo hộ về kỹ thuật đềulàm giảm sút sản lượng nhập
khẩu.
3. Tác động của nhập siêu đến nền kinh tế
3.1. Các tác động tích c
ực
Khi nói về nhập siêu, thông thường người ta chỉ cho rằng đây là hiện tượng
không tốt cho nền kinh tế.Tuy nhiên, một số nhà kinh tế nhận định rằng nhập siêu
cũng mang lại một số lợi ích.
Các nhà kinh tế này khẳng định nhập siêu dịch chuyển sản xuất của thế giới đến
những nơi có năng suất cao nhất, và nó cho phép quốc gia giữ mức tiêu dùng như cũ
trong khi vẫ
n gia tăng đầu tư trong suốt chu kỳ kinh tế. Theo quan điểm này, cán
cân thương mại bị thâm hụt dẫn đến nhập siêu khi những doanh nghiệp hay chính
10

phủ của một nước đầu tư nhiều vào nguồn vốn vật chất. Việc đầu tư này sẽ mở rộng
cơ sở hạ tầng, tăng thêm công suất khai thác nguồn lực tự nhiên và ứng dụng các
công nghệ mới.Lượng tiền cần cho đầu tư bị thiếu hụt được bù đắp bằng cách vay
mượn trên thị trường tài chính quốc tế.Như thế, việ

Tình hình còn có thể tệ hơn khi tăng trưởng kinh tế gặp vấn đề hay khi lượng dự trữ
ngoại hối quốc gia cạn kiệt.
Ở các nước đang phát triển, có những nghiên cứu cho thấy nhập siêu cao dẫn đến
lạm phát cao.Do nhập khẩu máy móc và thiết bị nguyên nhiên liệu là chủ yếu, nên
có thể lạm phát tăng cao là do hiệu quả s
ản xuất thấp, chi phí sản xuất và giá thành
không giảm nhiều nhờ những máy móc thiết bị đã nhập khẩu.
Bên cạnh đó, nhập siêu kéo dài khiến cho các khoản nợ của một quốc gia trở nên
trầm trọng vì ngoài tiền vốn, quốc gia đó còn phải chịu thêm phần lãi suất.
4. Bài học giải quyết tình trạng nhập siêu từ các nước ASEAN
Ba quốc gia ASEAN gồm Malaysia, Thái Lan và Philippines đã nỗ lực vươn lên
để thay thế các quốc gia ngoài châu Á trong nhóm 10 thị trường xuất khẩu hàng hóa
lớn nhất vào Trung Quốc những năm gần đây.
Trong đó, Malaysia sớm thâm nhập thị trường Trung Quốc từ đầu thập kỷ 1990
với kim ngạch xuất khẩu 852 triệu Đô la Mỹ và liên tục đẩy mạnh xuất khẩu sang
thị trường này (thập kỷ 1990 tăng bình quân 20,46%/năm, trong khi xuất khẩu ra thị
trường thế giới nói chung ch
ỉ tăng 12,80%/năm), cho nên quy mô xuất khẩu sang thị
trường Trung Quốc năm 2008 đã đạt 34,644 tỉ Đô la Mỹ, chiếm 17,36% tổng kim
ngạch xuất khẩu ra thị trường thế giới của Malaysia.
Tương tự, Thái Lan tuy cũng thâm nhập thị trường Trung Quốc sớm và liên tục
đẩy mạnh xuất khẩu nhưng với xuất phát điểm chỉ là 386 triệu Đô la Mỹ, cho nên
12

quy mô xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc của Thái Lan chỉ đứng thứ ba với
23,245 tỉ Đô la Mỹ, chiếm 13,07% trong tổng kim ngạch xuất khẩu ra thị trường thế
giới của quốc gia này.
Khác với hai quốc gia nói trên, từ xuất phát điểm chỉ là 90 triệu Đô la Mỹ năm
1990, gần hai thập kỷ vừa qua Philippines đã dồn mọi sức lực để đẩy mạnh xuất
khẩu sang Trung Quốc. Nếu như nhịp độ tăng xuất khẩu sang thị trường Trung

y
tri

gi
a
nh

20
0
la
M
H
ƯƠ
N
CỦ
A
TÌNH T
R
1.1. Thự
c
BIỂU
Đ
Việt Nam
l
y
, hầu hết
V

u đô la M
ĩ

đ
ĩ
, một con s
9
0- 2006, l
ư
n
g đột biến
m
2007 t
r

đ
TÌN
H
T
NA
M

P SIÊU

p siêu Việ
t
ình nhậ
p
si
c
có truyề
n
đ

r
á
ng kể so v

siêu dao đ

năm 2007

p siêu Việ
t

NG
N
U
A C
Á
i
đoạn 199
0
m
giai đoạ
n
p
siêu. Tro
n
tr
ừ duy nh


i lượng n

g
nhậ
p
siêu
n
g vượt mố
c
P
SIÊ
U
Ă
M
nay

n 1990 ch
o
2
xuất siêu
c
bấy giờ.
T
đ
ô la Mĩ. L
ư
gần gấ
p
b
a
c
10000 tri

n
Bảng trên

t siêu hàn
g

có cái nhì
n
g sau: h
àng nhập

giá Xuất-
N
n
g cục thố
n
cho thấy h
a
g
thô hay
m
n rõ hơn v

siêu
N
hập khẩu
c

u hàng ch
ế
v
à nhậ
p
si
ê
n
h mục tiê
u
ẩu.Việt N
a
ế
biến hoặ
c
ê
u của Việt
u
chuẩn ng
o
a
m có xu h
ư
c
đã qua tin
h
Nam ta x
é
o
ại

N
guồn: Tổ
n
Bảng trên
c
s
uất siêu
m
ô
n chiếm h
ơ

n 2000- 2
0
0
7 mức đó
n
n
100%.
N
a
n.Tuy nhi
ê
a
các năm.

ng xuất si
ê
Tuy rằng
H

Nếu năm
2
ê
u thì đến
n
H
àng thô h
a
n
g mại, nh
ư

ng. Các l
o
hướng tăn
g
BẢNG:
H
n
g kê
g
uyên nhân

n Lương t
h

ng xuất si
ê
đ
óng góp c

xuất siêu c

h
ực, thực p
h
ê
u của mụ
c

a loại hàn
g
n
ày vào lượ
n
siêu nhiê
n
a
loại hàn
g
g
xuất siêu
c
ã
giảm xuố
n
c
hế có lượ
n
o
ta xuất s

c
ủa loại hà
n
n
g còn 8%.
n
g xuất siê
u
i
êu lượng l


c Hàng th
ô

có thể kể
h
ế
ô
hay mới
s
n
g vật sốn
g
hay mới s
ơ
d
ần qua cá
c
u

c
năm, như
0
%, năm 20
v
à vật liê
u
kể và giả
m
ế
m khoảng

n làm cân
t
hực, thực
p
s
ơ chế đều
N
guyên liệ
u
là do
g
này
g
giai
năm
08 là
u
liên

k
hông tính
n
o
, sáp độn
g
N
guồn: Tổ
n
Như đã p
h
ê
u, Hàng th
ô
p
luận nhậ
p

Ta xem x
é
a
m nhậ
p
si
ê
ư
ợng hóa c
h
qua tinh
c

si
ê
c
hế.Máy
m
i
êu. Nguy
ê
, lên đến 7
5
Ngoài ra,
c
h
ập siêu.
ẢNG: Hàn
n
g kê
n
, Hàng ch
ế
s
ơ chế có
x
n
hành Cô
n
g
: Hàng c
h
t

c

u và máy
m
h
oảng 40%
g
tiện vận
p
siêu kho

ống và thu

h
oặc đã tin
h
c
đã tinh c
h
u
ất siêu.X
u
ó
a.
c đã tinh c
m
óc, phươ
n
lượng nhậ
p

s
o
ại dầu mỡ
,
xu hướng
y
đã ủng h

a
thấy rằng
t
ải và phụ
t
g chế biến
m
khoảng
s
iêu; trong
,
chất
nhập

cho
Việt
t
ùng.
hoặc
60%
năm


ò
1.3. Thị t
N
guồn: Tổ
n
Bảng trên
0
0 đến 20
0

t Nam nh

m
như 20
0
ư
ờng nhậ
p

s
ê
u qua EU t
r
y
móc, ph
ư
a

v
ế
biến hoặc
lại tăng n
h

p siêu
K
hối nước
x
n
g kê
y
các khối
n
h
ể thấy dễ
ợng nhậ
p

s
5, 2007 đ
ế
trong tươ
n
o
ạn 2000-
2
17
v

ê
k
ể.Điều nà
y
i
êu giai đo

hay nhậ
p

s
ASEAN
v

t Nam từ
t
o thấy dấ
u
à
i ra, có th

ổn định, c
ê
n, lượng l
ư
y
chứng t


n 2000-20

PEC tron
g
E
C có thể
l
t
Nam luôn
ư
ợng
thực
công
năm
n
ước
g
vài
l
à thị
xuất


Q
u
Tr
u
M
y
Vi

Tr

ng Quốc
x

t Nam nh

u
ốc là máy
u
yên liệu
d

u chủ lực
c
, Canada.
Đ
Ồ: 6 quốc
g
T
ổng cục
t
h
o ta thấy
6
o
an, Hàn Q
Ngoài cá
c

n Độ. Cá
c

nước trê
n
c
nước này
yếu là từ k
h
V
iệt Nam t

a
ng nước ta

u thứ 2.
C
t
bị, sắt th
é
a
giầy, hóa
a
m. Trong
k
cho thấy
V
18
a
m nhậ
p
siê
V

V
iệt Nam k
h
u nhiều nh

n
hậ
p
siêu
n
n
gapore. N

h
ể kể đến
M
k
hu vực C
h
.

u
ốc tăng v

ô
i lượng n
h
n
g Việt Na
m

h
ập siêu từ
m
chủ yếu
r
ừ sâu, ph
â

u vào cho
n
g cácc thị
siêu
t
ừ cá
c
n
2000-200
9
Gồm có:
T
g
6 nước n
I
ndonesia,
c
ó thể thấy
0
07. Năm
2
Đài Loan,

EU,
công

ng
h

n

về
qu
a
nh

N
a
th
à
N
nh

đư

trư
TP
kh
o
ki
m
h
ệ tiên tiế

Các số liệ
u
Trong nă
m

t trong kh
u

c coi là

ờng xuất,
n
.HCM). T
h
o
ảng 9% k
h
m
ngạch xu

n
.Điều này
m
t
triển.
n
hận định
n
h hình nh


2010, Vi

u
vực Đôn
g

“mức bá
o
n
hập khẩu
(
h
eo GS-TS
h
ối lượng
n

t khẩu là
1
m
ột lần n

về nhập si
ê

p siêu

p
siêu tru
y

C
động đỏ”
,
(
theo GS.T
Võ Thanh
n
hập siêu c

1
7,5%, thấ
p
19

a chứng m
i
ê
u
y
ền thống.
t
a chấp nh

ù
ng. Tuy n
h
h
ính phủ v
à
n

a cả thế gi
p
hơn
t
ỉ lệ
2
inh nền cô
n
Để trở thà

n nhậ
p
siê
u
h
iên, lượn
g
à
giới qua
n
kinh
t
ế. T
h
ư
ơng mại c
g
vấn báo
Đ
khẩu giai

p

h
à
nh nước c
ô
u
, nhất là k
h
g
nhậ
p
siêu
n
tâm ngà
y
h
eo PGS.
T
c
ho
r
ằng N
h
Đ
ại đoàn kế
t
đ
oạn 2001-
2

oảng nhậ
p
ngày càng
y
càng lo n
g
T
S Nguyễn
h
ập siêu đ
t
, 2010).
2
010
r
ầm trọng.
thế giới v
à
a
Việt Na
m
m
ặt hàng
v
Đ
ại học Ki
n
c
tính VN c
h

trên
hình

20

nhập siêu cứ tiếp diễn, thâm hụt vãng lai của nước ta sẽ tiếp tục trên mức báo động
thời điểm năm 2010 là trên 8% GDP, trong khi mức báo động trung bình là
5%)(theo PGS-TS Trần Hoàng Ngân, Phó Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế
TP.HCM). Theo đó, giảm nhập siêu là giải pháp bảo đảm ổn định cung cầu hàng
hóa, giá cả, tiến tới giảm lạm phát và tạo nền tảng cho sự phát triển cao hơn sau thời
hậu lạ
m phát.
1.4.2. Mặt hàng nhập siêu
Có nhiều bất cập thể hiện qua cơ cấu mặt hàng xuất khẩu và nhập khẩu của Việt
Nam.
Trong các mặt hàng xuất khẩu, nước ta có xu hướng xuất các sản phẩm thô hay
hàm lượng tinh chế thấp. Trong năm 2009, trong số 12 mặt hàng có giá trị xuất khẩu
trên 1 tỷ USD, có tới 5 mặt hàng nông nghiệp là thủy sản, gạo, gỗ, cà phê, cao su.
Trong khi đó, ta lại nhập siêu các mặt hàng có giá trị
cao như máy móc, thiết bị hay
hàng tiêu dùng cao cấp. Theo GS.TS Hoàng Thị Chỉnh (Đại học Kinh tế TP. HCM)
cơ cấu hàng hóa không cân xứng này đã gây ra nhập siêu ở nước ta. Ngoài ra, việc
nhập khẩu máy móc, nguyên vật liệu từ nước ngoài khiến cho chúng ta suy nghĩ.
Chẳng hạn như ngành dệt may, hàng năm sử dụng không dưới 500 triệu m² vải để
làm hàng xuất khẩu nhưng có đến 80% số vải trên phải nhập! Chỉ riêng năm 2009
nước ta nh
ập số vải trị giá gần 4,3 tỷ USD, chưa kể đến những nguyên phụ liệu khác.
Rõ ràng, trong các ngành xuất khẩu thế mạnh, ta lại phụ thuộc quá nhiều vào máy
móc, nguyên vật liệu nhập khẩu từ nước ngoài. Trong khi đó, các doanh nghiệp
trong nước không đủ khả năng cung cấp cho các ngành hàng xuất khẩu.Điều này đã

lâu dài từ Trung Qu
ốc sẽ gây ảnh hưởng đến nền sản xuất trong nước và cân bằng
kinh tế vĩ mô.
Về phía Trung Quốc, tại hội thảo “Thị trường Trung Quốc - cơ hội cho doanh
nghiệp Việt Nam” diễn ra tại Hà Nội chiều 9/5/2011 vừa qua, Ông Đào Ngọc
Chương, Vụ phó Vụ thị trường châu Á - Thái Bình Dương cho biết, mới đây, Thứ
22

trưởng Thương mại Trung Quốc Khương Tăng Vĩ thể hiện mong muốn Việt Nam
có thể áp dụng các biện pháp nhằm cải thiện tình hình mất cân bằng thương mại
song phương.
Bộ Thương mại Trung Quốc cũng sẽ hỗ trợ cho các doanh nghiệp có thực lực ở
nước này sang đầu tư tại Việt Nam nhằm thu hẹp khoảng cách thương mại.
Theo trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) - thuộc Đạ
i học Kinh
tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) - trong một báo cáo mới công bố cho rằng, các ngành
sản xuất Trung Quốc thâm nhập nhiều nhất vào thị trường Việt Nam hiện nay đều
tập trung vào một số lĩnh vực như điện lực, dầu khí, cơ khí, luyện kim, khai khoáng,
hóa chất - những ngành công nghiệp "thượng nguồn" hiện đang có nhiều dự án EPC
với quy mô lớn do nhà thầu Trung Quốc thắng thầ
u đảm nhận, với chủ đầu tư đều là
các tập đoàn kinh tế trụ cột của nền kinh tế Việt Nam. VEPR nêu quan điểm: “Dù
có những quan điểm cho rằng, nhập khẩu công nghệ, thiết bị là nhằm tới kỳ vọng
nâng cao giá trị gia tăng trong tương lai, thực tế cho thấy, nhập siêu từ nước láng
giềng đang ngày càng chiếm tỷ trọng quá lớn trong tổng nhập siêu của Việt Nam,
mà giá trị lan tỏa về công nghệ cũng như về xã hội không cao như kỳ vọng”.
Hiện nay, có nhiều ý kiến về vấn đề nhập siêu từ Trung Quốc.
Theo GS-TS Võ Thanh Thu, nếu giải được nhập siêu từ Trung Quốc, VN có thể
giải quyết được bài toán nhập siêu, cũng là giải quyết được nhiệm vụ quan trọng
trong công tác điều hành XNK hàng hoá. Theo TS. Võ Trí Thành, Phó viện trưởng

chung của nền kinh t
ế mới cho đầu tư, không nên vì những lợi ích trước mắt mà dẫn
đến những tổn thất trong tương lai.
Câu chuyện nhập siêu từ Trung Quốc còn nhiều vấn đề cần bàn luận. Qua đó có
thể thấy giải quyết vấn đề nhập siêu của Việt Nam không đơn giản và không thể
giải quyết trong ngắn hạn.

24

1.5. Nguyên nhân nhập siêu
1.5.1. Nhà nước
 Nhập siêu để phát triển đất nước
Việt Nam định hướng sẽ trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại
hóa vào năm 2020. Trong khi nền sản xuất trong nước còn lạc hậu, không đáp ứng
đủ cho nhu cầu phát triển, việc nhập khẩu sẽ mang lại nhiều lợi ích cho quốc gia.
Thông qua con đường nhập khẩu, nước ta có cơ hội tiế
p xúc nhiều máy móc, thiết bị
hiện đại và công nghệ tiên tiến. Nhờ đó, sản xuất trong nước sẽ phát triển và xuất
khẩu cũng được nhiều sự hỗ trợ từ nhập khẩu.
 Công tác điều hành quản lí còn lỏng lẻo
Theo ý kiến của GS.TS Võ Thanh Thu và GS.TS Hoàng Thị Chỉnh, công tác điều
hành xuất nhập khẫu của ta còn kém nên dẫn đến nhập siêu. Ta chưa xây dựng được
các rào c
ản thương mại hiệu quả và phù hợp với thông lệ quốc tế. Điều này dẫn đến
thế bị động trong công tác quản lí nhập khẩu khiến việc nhập khẩu tràn lan tại nước
ta. Hệ quả là sản phẩm nhập khẩu chất lượng thấp xuất hiện, nhiều sản phẩm sản
xuất được trong nước nhưng vẫn nhập, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong n
ước.
Đơn cử như hàng năm doanh nghiệp nước ta nhập khẩu hàng tỷ USD nông sản
nhưng ta chưa xác định được tiêu chuẩn về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm

Việt Nam tim kiếm nhà cung cấp ốc vít, nhưng đã khảo sát tới 64 doanh nghiệp
nhưng vẫn không lựa được doanh nghiệp nào đủ yêu cầu. Canon cũng phải mất một
thời gian dài mới tìm được nhà cung cấp tại Việt Nam, song 90% trong số đó là
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Đến năm 2011, sau hơn 10 năm hoạt động,
tỷ lệ nội địa hóa của ngành ô tô cao nhất cũng chỉ đạt 10% (Honda Việt Nam), kế
tiếp là Toyota Việt Nam (7%). Các công ty ô tô còn lại chỉ đạt 2-4%. Hai ngành
xuất khẩu chủ lực là dệt may và da giày cũng không khá gì hơn, vẫn phụ thuộc lớn
vào nguyên phụ liệu nhập khẩu.

Trích đoạn Doanh nghiệp Phát triển du lịch – ngành “xuất khẩu tại chỗ” Đẩy mạnh “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status