Hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại ngân hàng xuất nhập khẩu việt nam thực trạng và các giải pháp hoàn thiện - Pdf 13



TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
***

Hà Nội - 11/2007
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thu Trang Lớp: Nhật 2 – K42

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH
NGÂN HÀNG 3
I. BẢO LÃNH VÀ CHỨC NĂNG CỦA HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 3
1. KHÁI NIỆM VỀ BẢO LÃNH VÀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 3
1.1 KHÁI NIỆM BẢO LÃNH 4
1.2 KHÁI NIỆM BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 5
2. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 8
3. CHỨC NĂNG CỦA BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 11
3.1 CHỨC NĂNG PHÒNG NGỪA RỦI RO 11
3.2 CHỨC NĂNG ĐẢM BẢO PHÁP LÝ 12
3.3 CHỨC NĂNG THÚC ĐẨY 12
3.4 CHỨC NĂNG TÀI TRỢ 13
II. PHÂN LOẠI BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 14
1. THEO MỐI QUAN HỆ GIAO DỊCH 14
2. THEO TÍNH CHẤT BẢO ĐẢM 18
3. THEO TÍNH HIỆU LỰC CỦA BẢO LÃNH 19
4. THEO TÍNH CHẤT CHUYỂN NHƢỢNG 20
5. THEO ĐỐI TƢỢNG BẢO LÃNH 20
6. CÁC LOẠI BẢO LÃNH KHÁC 25
III. NỘI DUNG BẢO LÃNH NGÂN HÀNG 28
1. CÁC NGUỒN LUẬT ĐIỀU CHỈNH 28

1.7 ĐỒNG TIỀN SỬ DỤNG TRONG BẢO LÃNH 53
1.8 PHẠM VI BẢO LÃNH 53
1.9 THẨM QUYỀN KÝ BẢO LÃNH 54
1.10 QUỸ BẢO LÃNH 54
1.11 TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC BÊN THAM GIA BẢO LÃNH 55
1.12 QUY TRÌNH NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH CHO DOANH NGHIỆP 57
2. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG XUẤT
NHẬP KHẨU TRONG NHỮNG NĂM VỪA QUA 67
2.1 QUY MÔ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH 67
2.2 CƠ CẤU HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH 70
3. ĐÁNH GIÁ CHUNG 72
3.1 NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC 72
3.2 NHỮNG HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN 74
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thu Trang Lớp: Nhật 2 – K42

CHƢƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN
HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI NGÂN HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT
NAM 81
I. ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI EXIMBANK
TRONG THỜI GIAN TỚI 81
1. SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN PHẢI HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN
HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI EXIMBANK 81
2. ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI
EXIMBANK TRONG THỜI GIAN TỚI 83
II. NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG BẢO
LÃNH TẠI NGÂN HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM 84
1. HOÀN THIỆN VỀ LUẬT VÀ QUY TẮC ÁP DỤNG 85
2. ỨNG DỤNG CHÍNH SÁCH MARKETING VÀO NGHIỆP VỤ BẢO
LÃNH HỢP LÝ VÀ HIỆU QUẢ 85

các kênh phân phối và cơ sở khách hàng đã có sẵn. Ngoài ra, mở cửa thị trƣờng tài
chính ngân hàng không chỉ buộc các ngân hàng trong nƣớc cạnh tranh thị trƣờng
với các ngân hàng nƣớc ngoài mà còn phải cạnh tranh thị trƣờng với các định chế
tài chính phi ngân hàng. Nhiều quỹ đầu tƣ, công ty bảo hiểm, công ty tài chính nƣớc
ngoài đang nghiên cứu thị trƣờng Việt Nam, một thị trƣờng đƣợc đánh giá là rất
nhiều tiềm năng, với tốc độ tăng trƣởng nhanh trong khi mức độ và trình độ cung
cấp dịch vụ tài chính còn ở giai đoạn phát triển ban đầu. Các tổ chức này sẽ cạnh
tranh thị trƣờng mạnh với ngân hàng về các hoạt động huy động vốn cũng nhƣ đầu
tƣ. Những thách thức trên đòi hỏi hệ thống ngân hàng thƣơng mại phải không
ngừng phát triển và đổi mới theo hƣớng hoàn thiện các nghiệp vụ sẵn có và tiếp cận,
ứng dụng các dịch vụ mới.
Nghiệp vụ bảo lãnh ra đời là một đòi hỏi khách quan của tiến trình phát triển
nền kinh tế hàng hoá gắn liền sự đa dạng và phức tạp của các quan hệ kinh tế. Bảo
lãnh ngân hàng là một nghiệp vụ đƣợc các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam thực
hiện trong hơn chục năm gần đây, nó đã góp phần đa dạng hoá các dịch vụ ngân
hàng, thoả mãn nhu cầu của các doanh nghiệp muốn phòng ngừa rủi ro trong giao
dịch và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quan hệ thƣơng mại. Trong
điều kiện toàn cầu hoá và sự phát triển nhanh chóng của thƣơng mại quốc tế, nhu
cầu bảo lãnh của nền kinh tế là rất lớn trong khi khả năng đáp ứng của hệ thống
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thu Trang Lớp: Nhật 2 – K42

2
ngân hàng còn nhỏ bé, quá trình thực hiện gặp nhiều vƣớng mắc, gây ra nhiều tổn
thất cho ngân hàng. Những lý do trên đã dẫn đến việc vận dụng các nghiệp vụ bảo
lãnh còn ở mức hạn chế so với những đòi hỏi bức bách của nền kinh tế Việt Nam.
Ngân hàng Xuất nhập khẩu (Eximbank) đã thực hiện hoạt động bảo lãnh
đƣợc nhiều năm nhƣng so với các nghiệp vụ khác nhƣ nghiệp vụ tín dụng và kinh tế
đối ngoại thì bảo lãnh vẫn còn khá mới mẻ với quy mô hạn chế, chỉ chiếm một tỷ
trọng rất nhỏ trong tổng doanh thu hoạt động kinh doanh của ngân hàng, điều đó

thƣơng mại phát triển. Các hàng rào thƣơng mại đƣợc dỡ bỏ và dự đoán thƣơng mại
quốc tế sẽ còn phát triển nhanh và mạnh hơn nữa. Tuy nhiên, điều này cũng ẩn chứa
rất nhiều rủi ro cho cac doanh nghiệp khi tham gia vào thƣơng mại quốc tế do
những biến động bất thƣờng về chính trị-kinh tế-xã hội trên toàn cầu. Khi thƣơng
mại mở rộng không biên giới thì cũng kéo theo những rủi ro về thông tin không đầy
đủ, làm xuất hiện sự thiếu tín nhiệm, thiếu tin cậy giữa các doanh nghiệp. Đây là
một cản trở rất lớn cho hoạt động thƣơng mại, làm giảm hiệu quả sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp. Vì vậy rất cần có một sự đảm bảo để các giao dịch
thƣơng mại đƣợc diễn ra an toàn, tăng độ tin cậy giữa các đối tác kinh doanh.
Bên cạnh đó, khi kinh tế phát triển, cạnh tranh diễn ra quyết liệt thì nhu cầu
vốn tín dụng cũng tăng lên không ngừng. Hoạt động tín dụng là một công cụ cung
cấp phần lớn nhu cầu về vốn cho các quốc gia và các doanh nghiệp. Tuy nhiên, bên
cạnh những thuận lợi đó thì hoạt động này cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro do thông tin
không cân xứng, rủi ro về đạo đức, kinh tế-chính trị-xã hội. Để hạn chế những rủi ro
trên và giành thắng lợi trên thƣơng trƣờng sẽ đòi hỏi các doanh nghiệp phải mất rất
nhiều thời gian và công sức để tìm hiểu đối tác, mà đôi khi điều này vƣợt ra ngoài
khả năng của một doanh nghiệp.
Do nhu cầu cần có đảm bảo trong giao dịch đã làm xuất hiện một loại giao
dịch mới, đó là giao dịch đảm bảo, dựa vào sự đảm bảo của một bên thứ ba có uy
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thu Trang Lớp: Nhật 2 – K42

4
tín, tín nhiệm , có khả năng và tƣ cách để đảm bảo cho các quan hệ. Đó chính là
hoạt động bảo lãnh.
Hoạt động bảo lãnh sơ khai đã có từ rất sớm vào thời kỳ Trung cổ Hy lạp
trong những giao dịch thƣơng mại nhỏ lẻ. Nhƣng phải đến những năm 60 của thế kỷ
XX, bảo lãnh thƣ mới đƣợc áp dụng ở thị trƣờng Hoa Kỳ. Sau đó, vào đầu những
năm 70 của thế kỷ XX, bảo lãnh bắt đầu đƣợc sử dụng trong các thƣơng mại quốc tế.
Vào thời gian này, các quốc gia mau chóng thịnh vƣợng nhờ sản xuất dầu lửa ở

1.2 Khái niệm bảo lãnh ngân hàng
Bảo lãnh ngân hàng chính là cam kết bằng văn bản của ngân hàng (bên bảo
lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính
thay cho khách hàng (bên đƣợc bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận
nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã đƣợc trả thay.
Cam kết bảo lãnh: Là văn bản bảo lãnh của tổ chức tín dụng, bao gồm:
- Thư bảo lãnh: là cam kết đơn phƣơng bằng văn bản của tổ chức tín dụng
về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi
khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với
bên nhận bảo lãnh.
- Hợp đồng bảo lãnh: Là thoả thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng và
bên nhận bảo lãnh hoặc giữa tổ chức tín dụng, bên nhận bảo lãnh, khách hàng và
các bên liên quan (nếu có) về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính
thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Trong kinh doanh ngày nay, bảo lãnh ngân hàng luôn đƣợc xem nhƣ tấm
Giấy thông hành cho doanh nghiệp trong các hoạt động mua bán trả chậm. Việc này
không những tạo thuận lợi cho kế hoạch của doanh nghiệp mà các đối tác kinh
doanh cũng sẽ có cơ sở để tin tƣởng doanh nghiệp hơn.
Vì là một nghiệp vụ mới nên hiện có rất nhiều tranh cãi về đặc điểm của loại
hình dịch vụ này. Xét về bản chất, bảo lãnh ngân hàng là hình thức bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ (giao dịch bảo đảm) mang tính phái sinh. Vấn đề đƣợc đặt ra là quan hệ bảo
lãnh có phải là quan hệ hợp đồng hay chỉ là cam kết đơn phƣơng? Hợp đồng bảo lãnh
ngân hàng đƣợc ký kết giữa những chủ thể nào? Trong trƣờng hợp phát sinh tranh chấp
về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ bảo lãnh thì cơ quan tài phán có thể xem xét một cách
độc lập với quan hệ phát sinh nghĩa vụ đƣợc bảo lãnh hay không?
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thu Trang Lớp: Nhật 2 – K42


bằng biện pháp bảo lãnh.
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thu Trang Lớp: Nhật 2 – K42

7
Khi ngân hàng thực hiện bảo lãnh thì các quan hệ sau đây phát sinh:
- Thứ nhất, quan hệ giữa ngân hàng với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh).
- Thứ hai, quan hệ dịch vụ bảo lãnh giữa tổ chức tín dụng với khách hàng
(bên có nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh) phát sinh do thoả thuận giữa các bên trong
việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ thay khách hàng và nghĩa vụ hoàn trả
của khách hàng với tổ chức tín dụng.

Nhƣ vậy, căn cứ vào cấu trúc chủ thể ký kết và thực hiện hợp đồng trong
hoạt động bảo lãnh ngân hàng theo quy định của pháp luật, sẽ tồn tại 2 loại quan hệ
hợp đồng, là quan hệ hợp đồng bảo lãnh ngân hàng và quan hệ hợp đồng dịch vụ
bảo lãnh ngân hàng. Việc phân định rõ hai loại quan hệ tồn tại song song này có ý
nghĩa quan trọng trong việc hiểu rõ về bản chất cũng nhƣ đặc điểm của hoạt động
bảo lãnh ngân hàng.
Nếu căn cứ vào loại chủ thể và mục đích tham gia ký kết hợp đồng bảo lãnh
và hợp đồng dịch vụ bảo lãnh, căn cứ vào các quy định của Pháp lệnh hợp đồng
kinh tế, các quy định của Bộ luật dân sự thì hợp đồng bảo lãnh ngân hàng và hợp
đồng dịch vụ bảo lãnh ngân hàng có thể là hợp đồng kinh tế hoặc hợp đồng dân sự.
Tuy các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ đƣợc quy định trong Bộ luật dân sự,
nhƣng pháp luật có các quy định mang tính phân biệt giữa hợp đồng kinh tế và hợp
đồng dân sự. Bởi vậy, nếu xác định tất cả các hợp đồng bảo đảm nghĩa vụ (trong đó
có hợp đồng bảo lãnh ngân hàng) là hợp đồng dân sự sẽ không phù hợp với pháp
luật về hợp đồng kinh tế và pháp luật về hợp đồng dân sự. Ví dụ, nếu xem là hợp
đồng dân sự thì sẽ không phù hợp với pháp luật hợp đồng kinh tế đối với trƣờng
hợp tổ chức tín dụng ký hợp đồng bảo lãnh với doanh nghiệp (bên nhận bảo lãnh)
để công ty cổ phần (bên đƣợc bảo lãnh) dự thầu. Căn cứ vào Pháp lệnh hợp đồng

2.1 Tính chất độc lập
Mặc dù nội dung của bảo lãnh đƣợc xây dựng trên cơ sở nội dung của hợp
đồng thƣơng mại, hợp đồng vay vốn hay hợp đồng đấu thầu nhƣng đặc trƣng nổi bật
của bảo lãnh đó là nó độc lập và tách biệt với các quan hệ thƣơng mại và vay nợ.
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thu Trang Lớp: Nhật 2 – K42

9
Điều này có nghĩa là thƣ bảo lãnh độc lập và tách rời khỏi cơ sở hình thành ra nó.
Trong bất kỳ một bảo lãnh nào cũng tồn tại ít nhất ba mối quan hệ của ba hợp đồng,
và tính chất độc lập của của nó đƣợc thể hiện rõ nét trong từng mối quan hệ giữa
các bên liên quan.
Thứ nhất là quan hệ giữa ngƣời đƣợc bảo lãnh và ngƣời nhận bảo lãnh
(ngƣời thụ hƣởng) trong hợp đồng thƣơng mại, hợp đồng vay nợ hay đấu thầu. Đây
là hợp đồng đóng vai trò cốt yếu và là cơ sở cho việc xây dựng hai hợp đồng còn lại.
Thứ hai là quan hệ giữa ngƣời đƣợc bảo lãnh và ngân hàng phát hành bảo
lãnh trong hợp đồng cung cấp dịch vụ hay tài trợ giữa khách hàng và ngân hàng.
Thứ ba là quan hệ giữa ngƣời thụ hƣởng và ngân hàng phát hành bảo lãnh
thể hiện qua cam kết bảo lãnh của ngân hàng đối với khách hàng của mình (ngƣời
đƣợc bảo lãnh).
Nhƣ vậy các hợp đồng đƣợc hình thành xuất phát từ những mối quan hệ giữa
các đối tƣợng riêng biệt, đồng thời do đƣợc chi phối bởi các mục đích khác nhau
nên tính pháp lý cũng nhƣ quyền lợi của các bên liên quan hoàn toàn mang tính độc
lập. Mặc dù giữa các hợp đồng đều có sự ràng buộc theo quan hệ liên đới, mỗi hợp
đồng vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của nhau, song ngân hàng với vai trò là
ngƣời cung cấp dịch vụ và cam kết thanh toán sẽ phải thự hiện nghiệp vụ bảo lãnh
của mình trên cơ sở độc lập về quyền và nghĩa vụ riêng biệt trong hai hợp đồng.
Tuy nhiên tính độc lập của bảo lãnh không chỉ giới hạn ở quan hệ giữa các
bên liên quan mà còn thể hiện trong trách nhiệm thanh toán của ngân hàng phát
hành. Trách nhiệm này hoàn toàn độc lập với quan hệ giữa ngân hàng phát hành và

Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngoại bảng nhưng lại được quản lý
như một nghiệp vụ tín dụng
Bản chất của bảo lãnh là một hình thức tài trợ thông qua uy tín. Khi phát hành
một cam kết bảo lãnh, bảng cân đối tài sản của ngân hàng không hề bị thay đổi. Do
vậy, nghiệp vụ bảo lãnh đƣợc coi là một hoạt động ngoại bảng. Tuy nhiên, trong
trƣờng hợp bên đƣợc bảo lãnh vi phạm hợp đồng theo các điều khoản đƣợc nghi
trong cam kết bảo lãnh, ngân hàng buộc phải sử dụng nguồn vốn của mình để thực
hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh. Nếu bên đƣợc bảo lãnh chƣa
hoàn trả ngay cho ngân hàng, ngân hàng sẽ cấp một khoản tín dụng bắt buộc cho
bên đƣợc bảo lãnh. Khi đó, nghiệp vụ bảo lãnh sẽ tác động đến bảng cân đối tài sản
của ngân hàng, ảnh hƣởng đến khả năng thanh khoản và các chỉ tiêu tài chính của
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thu Trang Lớp: Nhật 2 – K42

11
ngân hàng. Bởi vây, tuy là một hoạt động ngoại bảng, bảo lãnh vẫn phải đƣợc giám
sát và quản lý một cách chặt chẽ nhƣ các hình thức cấp tín dụng khác.
2.3 Tính chất nội địa và quốc tế
So với nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ trong thập niên 30, hoạt động
bảo lãnh chỉ mới đƣợc áp dụng từ giữa những năm 60 bắt đầu từ thị trƣờng nội địa
của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, từ năm 1970, bảo lãnh đã đƣợc sử dụng rộng rãi trong giao
dịch quốc tế nhƣ là một công cụ đảm bảo hữu hiệu góp phần thúc đẩy mậu dịch
giữa các nƣớc. Các đối tác làm ăn ở các quốc gia khác nhau thƣờng sử dụng nghiệp
vụ bảo lãnh của ngân hàng nhƣ là một hình thức đảm bảo, hạn chế các ruỉu ro
thƣờng gặp do sự thiếu thông tin, sự khác biệt về không gian, văn hoá, tôn giáo hay
do những biến động về môi trƣờng chính trị và xã hội khác nhau. Hàng loạt các quy
chế quốc tế về bảo lãnh nhƣ URCG 325 (1978), URDG 458 (1992) lần lƣợt xuất
hiện, góp phần đảm bảo việc áp dụng thống nhất các tập quán trên trên cơ sở bình
đẳng của các bên liên quan.
Cùng với sự phát triển của bảo lãnh quốc tế thì bảo lãnh cũng ngày càng phổ

hậu quả phát sinh. Bảo lãnh tạo lập sự đảm bảo về nghĩa vụ tài chính và phi tài
chính., trong đó nghĩa vụ tài chính đó là ngƣời đi vay phải trả nợ cho ngân hàng
theo hợp đồng tín dụng, ngƣời mua phải trả tiền hàng cho ngƣời bán, chủ công trình
phải trả tiền thi công cho nhà thầu… còn nghĩa vụ phi tài chính đó là ngƣời bán phải
giao hàng theo hợp đồng thƣơng mại cho ngƣời mua hay nghĩa vụ nhà thầu phải
thực hiện đúng tiến độ xây dựng.
Nhƣ vậy có thể nói bảo lãnh ngân hàng thực chất là hình thức đảm bảo pháp
lý trong giao dịch chứ không hoàn toàn chỉ mang chức năng thanh toán. Đặc biệt
các thƣ bảo lãnh dùng trong hợp đồng thi công, hợp đồng bảo hành sản phẩm, dự
thầu công trình… là những thoả thuận không mang tính chất mua bán hay thanh
toán. Với chức năng đảm bảo pháp lý này, bảo lãnh có tác dụng đem lại sự tín
nhiệm cũng nhƣ an tâm cho các nhà cung cấp vốn, nhà tài trợ trong giao dịch với
đối tác.
3.3 Chức năng thúc đẩy
Trong nghiệp vụ bảo lãnh, ngân hàng chỉ đứng ra đảm bảo cho việc thực hiện
nghĩa vụ của các doanh nghiệp, tức là chức năng đảm bảo pháp lý. Và nhƣ vậy, bản
thân các doanh nghiệp sẽ tự mình quyết định cách thức thực hiện các nghĩa vụ đó,
tính toán sao cho có hiệu quả cũng nhƣ phải chịu trách nhiệm trƣớc những hành vi
vi phạm của mình. Điều này đã ảnh hƣởng trực tiếp đến quyền lợi của n gƣời xin
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thu Trang Lớp: Nhật 2 – K42

13
bảo lãnh, buộc họ và các bên có liên quan phải nỗ lực trong việc thực hiện đúng các
nghĩa vụ theo yêu cầu của hợp đồng. Mặt khác, ngay cả đối với ngƣời đƣợc thụ
hƣởng bảo lãnh, họ sử dụng bảo lãnh chỉ nhƣ là một công cụ để đảm bảo việc thực
hiện hợp đồng của Ngƣời đƣợc bảo lãnh, hạn chế rủi ro nên cho dù họ có quyền
yêu cầu ngân hàng phát hành bảo lãnh thanh toán khi ngƣời đƣợc bảo lãnh vi phạm
hợp đồng, nhƣng về thực chất trƣớc và sau khi ký kết, ngƣời thụ hƣởng vẫn luôn
mong muốn ngƣời đƣợc bảo lãnh thực hiện đúng theo hợp đồng chứ không trông

Sự tài trợ này cũng có thể đƣợc cung cấp trực tiếp do uy tín và quan hệ lâu
dài của khách hàng với ngân hàng, hoặc do sự chỉ định của chính phủ để doanh
nghiệp có thể thực hiện đƣợc các dự án lớn, phát triển các ngành mũi nhọn trong
toàn bộ cơ cấu nền kinh tế.

II. PHÂN LOẠI BẢO LÃNH NGÂN HÀNG
1. Theo mối quan hệ giao dịch
1.1 Bảo lãnh trực tiếp
Bảo lãnh trực tiếp là loại bảo lãnh trong đó ngân hàng phát hành cam kết
không huỷ ngang, trực tiếp trả tiền cho ngƣời thụ hƣởng hay nói cách khác chịu mọi
trách nhiệm và nghĩa vụ trực tiếp đối với ngƣời nhận bảo lãnh. Bảo lãnh trực tiếp
thƣờng đƣợc ngân hàng ngƣời xin bảo lãnh phát hành. Trong trƣờng hợp ngƣời
nhận bảo lãnh ở một nƣớc khác, bảo lãnh sẽ đƣợc thông báo qua ngân hàng đại lý
tại nƣớc sở tại của ngân hàng phát hành. Ngân hàng này chỉ đóng vai trò là ngân
hàng thông báo và chuyển nội dung thƣ bảo lãnh chứ không đƣợc coi là ngân hàng
thanh toán, không chịu trách nhiệm về nội dung thƣ bảo lãnh và các tranh chấp phát
sinh nếu có sau này.
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thu Trang Lớp: Nhật 2 – K42

15

Thông báo
(Advising bank)
Thông
báo
(1) Hợp đồng
thƣơng mại
(2) Yêu
cầu phát
hành bảo
lãnh
Bảo lãnh
(3) cam kết
bảo lãnh
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thu Trang Lớp: Nhật 2 – K42

16
đồng thời chỉ thị cho ngân hàng thứ hai (ngân hàng phát hành bảo lãnh trực tiếp)
phát hành thƣ bảo lãnh cho ngƣời thụ hƣởng. Quan hệ giữa ngân hàng thứ nhất và
ngân hàng thứ hai cũng tƣơng tự nhƣ quan hệ giữa ngân hàng thứ nhất và ngƣời
đƣợc bảo lãnh. Trong hình thức bảo lãnh này, ngân hàng thứ hai là ngân hàng cam
kết đảm bảo trực tiếp và chịu nghĩa vụ tài chính với ngƣời nhận bảo lãnh. Ngƣời
hƣởng không đƣợc quyền và không phải đòi tiền tại ngân hàng chỉ thị mà là tại ngân
hàng phát hành.
Khi nhận đƣợc đòi tiền, ngân hàng phát hành thanh toán cho ngƣời thụ
hƣởng và thu lại số tiền này từ tài khoản của ngân hàng chỉ thị theo cam kết trong
bảo lãnh đối ứng.
Sơ đồ Bảo lãnh đối ứng
Bảo lãnh
(4)Cam kết
bảo lãnh
Ngân hàng chỉ thị
(Instructing bank)
(2) Yêu cầu phát hành
(3) Bảo lãnh đối ứng
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thu Trang Lớp: Nhật 2 – K42

17
hàng xác nhận sẽ thay mặt Bên thụ hƣởng tiến hành truy đòi đối với Ngân hàng phát
hành và Ngân hàng phát hành sẽ bồi thƣờng cho Bên thụ hƣởng thông qua Ngân
hàng xác nhận. Nếu Ngân hàng phát hành không thực hiện đƣợc nghĩa vụ bảo lãnh
thì Ngân hàng xác nhận phải thực hiện thay và coi đây là một khoản cho vay bắt
buộc đối với Ngân hàng phát hành.
Sơ đồ Xác nhận bảo lãnh

Với xác nhận bảo lãnh, Bên thụ hƣởng sẽ đƣợc đảm bảo chắc chắn hơn bằng
uy tín và khả năng tài chính của hai ngân hàng: Ngân hàng phát hành và Ngân hàng
xác nhận. Xác nhận bảo lãnh chủ yếu áp dụng trong trƣờng hợp Bên thụ hƣởng
thiếu thông tin về Ngân hàng phát hành hoặc khó khăn trong việc trực tiếp thực hiện
quyền truy đòi.
1.4 Đồng bảo lãnh
Đối với một số nghĩa vụ bảo lãnh có giá trị lớn vƣợt quá quy định an toàn vốn
tối thiểu của ngân hàng (15% vốn tự có), các ngân hàng buộc phải hợp tác với nhau
và thực hiện bảo lãnh dƣới hình thức đồng bảo lãnh.
Đồng bảo lãnh là việc nhiều ngân hàng cùng bảo lãnh cho một nghĩa vụ của
khách hàng thông qua một ngân hàng làm đầu mối
Trong nghiệp vụ đồng bảo lãnh, ngân hàng đầu mối - thƣờng là ngân hàng có

ngân hàng đồng minh theo tỷ lệ. Nếu phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, ngân hàng
đầu mối sẽ đòi bồi hoàn từ các ngân hàng đồng minh theo tỷ lệ tham gia của họ trên
cơ sở các bảo lãnh đối ứng do các ngân hàng này phát hành cho ngân hàng đầu mối.
Sơ đồ Đồng bảo lãnh

2 Theo tính chất bảo đảm
2.1 Bảo lãnh vô điều kiện
Bảo lãnh vô điều kiện hay còn gọi là bảo lãnh theo yêu cầu là dạng bảo lãnh
có tính chất độc lập với các giao dịch khác, kể cả hợp đồng là cơ sở để bảo lãnh
đƣợc phát hành. Do vậy, nó đƣợc goi theo thuật ngữ chung là Independent
Guarantee. Ngƣời phát hành bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ của mình ghi trong
bảo lãnh ngay khi nhận đƣợc yêu cầu (first demand, on demand) thông qua việc
xuất trình một số chứng từ do ngƣời nhận bảo lãnh hay còn gọi là ngƣời thụ hƣởng
bảo lãnh phát hành, mà không đƣợc viện dẫn bất kỳ một lý do chủ quan hay khách
quan nào. Loại bảo lãnh này thƣờng đƣợc sử dụng rất phổ biến vì sự thuận tiện và
lợi thế cho ngƣời thụ hƣởng và phù hợp với tập quán và thông lệ giao dịch của ngân
hàng thƣơng mại trên thế giới. Tuy nhiên, cũng vì vậy mà nó có một nhƣợc điểm là
có thể xảy ra gian lận, thậm chí lừa đảo nếu ngƣời thụ hƣởng là đối tác không trung
thực gian dối do việc đòi bồi thƣờng mang tính chủ quan.
2.2 Bảo lãnh có điều kiện
Ngân hàng đầu
mối
(Leading bank)

Bên thụ hƣởng
(Beneficiary)
Bên đƣợc bảo
lãnh
(Principal)
Thông

chứng từ nhƣ vậy nên bảo lãnh có điều kiện về bản chất rất tƣơng đồng với nghiệp vụ
bảo hiểm, theo đó ngƣời đƣợc bảo hiểm phải xuất trình các chứng từ chứng minh sự tổn
thất thì mới đƣợc bồi thƣờng. Mặc dù các điều kiện này gây khó khăn cho ngƣời thụ
hƣởng do việc bồi thƣờng không đƣợc thực hiện ngay, mà phải qua các thủ tục pháp lý
khác nhƣng phía ngƣời đƣợc bảo lãnh và ngân hàng phát hành lại hài lòng vì nó đảm
bảo tính khách quan. Tuy nhiên, quan trọng và có ý nghĩa hơn là nó có tác dụng ngăn
ngừa tối đa sự gian lận hoặc lừa đảo của phía ngƣời nhận bảo lãnh, điều có thể xảy ra và
đã xảy ra trên thế giới và ngay cả ở Việt Nam.
Do tính chất kém linh hoạt và không phù hợp với thông lệ giao dịch của ngân
hàng nên bảo lãnh có điều kiện ít đƣợc sử dụng trong nghiệp vụ ngân hàng. Ngƣời
ta cho rằng dạng bảo lãnh này không đúng với bản chất của bảo lãnh theo đúng
nghĩa của nó mà thuộc kiểu bảo đảm trong lĩnh vực bảo hiểm. Bảo lãnh có điều kiện
hiện nay chỉ đƣợc sử dụng nhiều ở khu vực Trung Đông, Bắc Phi và rất ít đƣợc ƣa
chuộng tại Châu Âu. Một số nƣớc khác thì chấp nhận dạng bảo lãnh đƣợc pha trộn
tính chất của hai loại bảo lãnh vô điều kiện và bảo lãnh có điều kiện, miễn rằng các
bên chấp nhận và ngân hàng đồng ý phát hành. 3. Theo tính hiệu lực của bảo lãnh
Theo tính hiệu lực của bảo lãnh, bão lãnh đƣợc chia thành bảo lãnh theo
món, bảo lãnh theo hạn mức và bảo lãnh tuần hoàn:
- Bảo lãnh theo món là bảo lãnh do ngân hàng phát hàng theo hợp đồng bảo
lãnh ký kết từng lần. Theo đó hợp đồng bảo lãnh chỉ có hiệu lực một lần duy nhất.
Bảo lãnh theo món thƣờng đƣợc áp dụng đối với khách hàng không có nhu cầu
đƣợc bảo lãnh thƣờng xuyên.
- Bảo lãnh theo hạn mức là bảo lãnh do ngân hàng phát hành theo hợp đồng
bảo lãnh hạn mức đã đƣợc ký kết áp dụng trong một thời gian nhất định. Khi có nhu
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thu Trang Lớp: Nhật 2 – K42


xây dựng công trình lớn, các công trình công cộng. Qua đấu thầu chủ công trình sẽ
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thu Trang Lớp: Nhật 2 – K42

21
chọn đƣợc đối tác có đủ điều kiện tối ƣu nhất để ký hợp đồng nhằm tránh các rủi ro
trong quá trình đấu thầu nhƣ ngƣời dự thấu không có đủ khả năng thực hiện hợp
đồng, hoặc trúng thầu nhƣng tự bỏ cuộc do đặt giá quá thấp để trúng thầu. Do đó,
điều kiện của quy chế dự thầu là ngƣời dự thầu phải cung cấp một bảo lãnh dự thầu
(Tender Guarantee) do ngân hàng có uy tín phát hành để đảm bảo rằng ngƣời dự
thầu sẽ không bỏ dở đấu thầu, không thay đổi hồ sơ dự thầu trong thời gian đấu thầu
và đặc biệt là phải ký hợp đồng sau khi trúng thầu.
Bảo lãnh dự thầu thƣờng có giá trị 1%-5% giá trị hợp đồng với điều kiện
thanh toán là theo yêu cầu (on demand). Nếu ngƣời dự thầu hoạt động ở nƣớc ngoài,
chủ công trình sẽ yêu cầu bảo lãnh dự thầu gián tiếp. Ngƣời thụ hƣởng bảo lãnh
(chủ công trình) sẽ có quyền đòi tiền khi ngƣời dự thầu vi phạm cam kết dự thầu,
ngay cả trƣờng hợp ngƣời dự thầu không cung cấp bảo lãnh thực hiện hợp đồng sau
khi ký hợp đồng.
Thời hạn của bảo lãnh kết thúc tƣơng đƣơng với thời gian trúng thầu. Tuy
nhiên bảo lãnh cũng có thể đƣợc kéo dài trên nguyên tắc “rút hồ sơ hoặc gia hạn”
(withdraw or extend) nhằm đảm bảo các thủ tục ký kết hợp đồng và quan trọng hơn
là chủ thầu cung cấp kịp bảo lãnh thực hiện hợp đồng để tiếp tục hoàn chỉnh đấu
thầu đến thực hiện. Trƣờng hợp không trúng thầu thì bảo lãnh dự thầu tự động hết
hiệu lực và đƣợc trả lại ngân hàng phát hành.
5.2 Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
Đây là cam kết của ngân hàng với bên nhận bảo lãnh, bảo đảm việc thực hiện
đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của khách hàng theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận
bảo lãnh. Trƣờng hợp khách hàng vi phạm hợp đồng và phải bồi thƣờng cho bên
nhận bảo lãnh mà không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì bên nhận bảo
lãnh có quyền yêu cầu thanh toán bảo lãnh : không thực hiện đúng tiến độ giao hàng,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status