BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
CHU VĂN THUẬN NGHIÊN CỨU MỘT SỐ THÔNG SỐ CHÍNH LÀM CƠ SỞ
THIẾT KẾ, CHẾ TẠO MÁY NGHIỀN RƠM RẠ TRONG DÂY
CHUYỀN CHẾ BIẾN THỨC ĂN VIÊN CHO ðẠI GIA SÚC,
NĂNG SUẤT 800 – 1000 KG/H.
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT HÀ NỘI – 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa hề ñược sử dụng và bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam ñoan rằng mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận này
ñều ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ
rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày…….tháng…….năm 2014
Tác giả luận văn:
Chu Văn Thuận
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Kỹ thuật
Page iii
MỤC LỤC
Lời cam ñoan
……………………………………………… …….… ….…… i
Lời cảm ơn ………………………………………………………………… ii
Mục lục …………………………………………………………………… iii
Danh mục viết tắt …………………………………………………………… v
Danh mục bảng ……………………………………………………….… vi
Danh mục hình ……………………………………………………….…… ix
ðẶT VẤN ðỀ:……………………………………………………………… 1
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VẤN ðỀ NGHIÊN CỨU…………………… 3
1.1. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG RƠM RẠ TRONG NƯỚC VÀ
TRÊN THẾ GIỚI 3
1.1.1. Khái quát tình hình sử dụng rơm rạ trong nước 3
1.1.2. Khái quát tình hình sử dụng rơm rạ trên thế giới 6
1.2. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI ðẠI GIA SÚC VÀ CHẾ
BIẾN THỨC ĂN CHO ðẠI GIA SÚC Ở VIỆT NĂM VÀ THẾ GIỚI 6
1.2.1. Khái quát tình hình chăn nuôi và chế biến thức ăn chăn nuôi cho
ñại gia súc ở Việt nam 6
1.2.2. Tình hình nghiên cứu, sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp làm
thức ăn chăn nuôi và nhu cầu khác trên thế giới . 18
1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG MÁY NGHIỀN RƠM,
RẠ TRONG CHĂN NUÔI ðẠI GIA SÚC 20
1.3.1. Các nguyên lý băm, nghiền rơm, rạ. 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………… 85 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Kỹ thuật
Page v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
Chữ viết tắt Nghĩa ñầy ñủ
CBTACN Chế biến thức ăn chăn nuôi
TACN Thức ăn chăn nuôi
TA Thức ăn
STH Sau thu hoạch
Các ký hiệu:
% Phần trăm
T/h Tấn /giờ
m
3
/h Mét khối/giờ
kg/h Kilogam/giờ
m/s Mét/giây
kg/m
3
Kilogam/mét khối
năng lượng riêng 55
Bảng 4.4b. Ảnh hưởng của lưu lượng gió V = 3.516,5 m3/h, lượng cấp
liệu và ñường kính lỗ sàng
Φ
8 ñến công suất tiêu thụ và chi phí
năng lượng riêng 56
Bảng 4.4c. Ảnh hưởng của lưu lượng gió V = 2.993,7 m3/h, lượng cấp
liệu và ñường kính lỗ sàng
Φ
8 ñến công suất tiêu thụ và chi phí
năng lượng riêng 56
Bảng 4.4d. Ảnh hưởng của lưu lượng gió V = 2.043,4 m3/h, lượng cấp
liệu và ñường kính lỗ sàng
Φ
8 ñến công suất tiêu thụ và chi phí
năng lượng riêng 57
Bảng 4.5. Phương trình biểu thị mối quan hệ giữa lượng cấp liệu và
công suất tiêu thụ N và chi phí năng lượng riêng N
e
58
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Kỹ thuật
Page vii
Bảng 4.6a. Ảnh hưởng của lưu lượng gió V = 4.134,2 m3/h, lượng cấp
liệu và ñường kính lỗ sàng
Φ
10 ñến công suất tiêu thụ và chi phí
năng lượng riêng 61
Bảng 4.6b. Ảnh hưởng của lưu lượng gió V = 3.516,5 m3/h, lượng cấp
/h, lượng cấp
liệu và ñường kính lỗ sàng
Φ
12 ñến công suất tiêu thụ và chi phí
năng lượng riêng 68
Bảng 4.8d. Ảnh hưởng của lưu lượng gió V = 2.043,4 m
3
/h, lượng cấp
liệu và ñường kính lỗ sàng
Φ
12 ñến công suất tiêu thụ và chi phí
năng lượng riêng 68
Bảng 4.9. Phương trình biểu thị mối quan hệ giữa lượng cấp liệu và
công suất tiêu thụ N và chi phí năng lượng riêng N
e
69
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Kỹ thuật
Page viii
Bảng 4.10a. Ảnh hưởng của lưu lượng gió V = 4.134,2 m3/h, lượng cấp
liệu và ñường kính lỗ sàng
Φ
16 ñến công suất tiêu thụ và chi phí
năng lượng riêng 72
Bảng 4.10c. Ảnh hưởng của lưu lượng gió V = 2.993,7 m
3
/h, lượng cấp
liệu và ñường kính lỗ sàng
Φ
Scotland 19
Hình 1.7. Các bộ phận băm, nghiền nguyên liệu thức ăn chăn nuôi
dạng thô với các cách nạp liệu khác nhau 20
Hình 1.8. Máy băm rơm - cỏ khô dạng trống 22
Hình 1.9. Sơ ñồ nguyên lý máy dạng trống 23
Hình 1.10. Máy băm rơm - cỏ khô dạng ñĩa (Renn-Canada) 24
Hình 1.11. Máy băm rơm - cỏ khô dạng lô (băm rơm kiện tròn) 24
Hình 1.12. Máy băm rơm - cỏ khô dạng lô (băm rơm kiện vuông) 25
Hình 1.13. Máy băm rơm - cỏ khô dạng thùng quay kết hợp ñĩa lệch
tâm. 26
Hình 1.14. Máy băm rơm - cỏ khô dạng liên hoàn 27
Hình 1.15. Máy nghiền rơm rạ dạng kiện vuông – Anh 28
Hình 1.16. Máy nghiền rơm rạ tự hút nguyên liệu – Anh 28
Hình 1.17. Họ máy nghiền thức ăn chăn nuôi dạng thô model РГФ –
Bungari 29
Hình 1.18. Họ máy nghiền thức ăn chăn nuôi dạng thô model ФY –
Bungari 29
Hình 1.19. Máy nghiền Model SG-65*27 – Trung Quốc 30
Hình 2.1. Sơ ñồ nguyên lý, cấu tạo máy nghiền rơm nghiên cứu. 33
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Kỹ thuật
Page x
Hình 2.2. Cửa máy nghiền Hình 2.3. Le gió 36
Hình 3.1. ðồ thị biểu thị quy luật ảnh hưởng của vận tốc ñầu búa ñến
năng suất,công suất tiêu thụ và chi phí năng lượng riềng của
máy nghiền 41
Hình 3.2. Sơ ñồ làm việc của búa trong buồng nghiền 44
Hình 3.3. Kích thước cơ bản của xyclon. 48
Hình 4.1. Bản vẽ lắp cụm buồng nghiền của máy nghiền rơm rạ 50
Là một nước nông nghiệp, Việt Nam có diện tích trồng lúa cả nước khoảng
7,4 triệu ha và diện tích trồng ngô khoảng 1,12 triệu ha, với sản lượng gần
43,7 triệu tấn thóc và 4,8 triệu tấn ngô và thải ra trên 48 triệu tần rơm, rạ và
trên 11 tấn thân, lõi cây ngô. Một lượng rất lớn thân cây lạc, khoai lang v.v
cũng ñược thải ra. Trước ñây, nông dân tận dụng hết nguồn phế thải này ñể làm
nhà, dùng ñể ñun nấu,… nay những nhu cầu ấy không còn nhiều. Do ñó, khi thu
hoạch lúa vào mùa mưa lượng rơm rạ không ñược thu gom dẫn ñến ô nhiễm
môi trường, làm tắc kênh mương và sông ngòi. Khi thu hoạch vào mùa khô ña
số nông dân ñốt rơm rạ tại ñồng ruộng gây lãng phí nguồn nguyên liệu rất lớn
có thể sử dụng thức ăn chăn nuôi và tạo ra một lượng khói lớn không những
gây nhiễm môi trường, ảnh hưởng ñến sức khỏe người dân, mà còn là nguyên
nhân gây tai nạn giao thông do bị hạn chế tầm nhìn.
Trên thế giới, nhất là ở các nước công nghiệp phát triển, các nước vùng ôn
ñới, nơi có mùa ñông lạnh và kéo dài từ lâu ñã sử dụng rơm, rạ, thân cây ngô
khô, lõi ngô v.v làm thức ăn cho chăn nuôi ñại gia súc có hiệu quả. Họ ñã
nghiên cứu chế tạo ra nhiều dây chuyền chế biến thức ăn chăn nuôi ñồng bộ và
các thiết bị ở các quy mô khác nhau, phục vụ cho nhiều ñối tượng. Các máy và
thiết bị làm việc ổn ñịnh, thức ăn TMR (Total Mix Ration) và dạng viên sản
xuất ra có chất lượng cao, ñáp ứng ñược yêu cầu ña dạng của ngành chăn nuôi
ñại gia súc. Tuy nhiên các máy và thiết bị thường có giá thành rất cao, chưa
phù hợp với khả năng tài chính của nhiều cơ sở ở Việt nam.
Thực tế cho thấy, thức ăn thô và thức ăn xanh có vai trò quan trọng và quyết
ñịnh ñến kết quả chăn nuôi và hiệu quả kinh tế trong vấn ñề phát triển chăn nuôi
gia súc nhai lại. Song số lượng và chất lượng thức ăn thô xanh hiện nay chưa
ñáp ứng ñược nhu cầu phát triển chăn nuôi ñại gia súc ở nước ta trong những
năm trước mắt cũng như lâu dài, nếu chúng ta không có biện pháp cải tiến, phát
triển nguồn thức ăn thô xanh cung như sử dụng các phế phụ phẩm trong sản
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Kỹ thuật
Page 2
÷
1000 kg/h”
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Kỹ thuật
Page 3
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VẤN ðỀ NGHIÊN CỨU
1.1. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG RƠM RẠ TRONG NƯỚC
VÀ TRÊN THẾ GIỚI
1.1.1. Khái quát tình hình sử dụng rơm rạ trong nước
Ở nước ta có khối lượng rơm rạ rất lớn nhưng tỷ lệ sử dụng trong chăn nuôi
trâu bò còn rất khiêm tốn. Phần lớn chúng ñược sử dụng làm chất ñốt hoặc ñốt
trực tiếp ngoài ruộng làm phân bón ruộng, một lượng nhỏ ñược sử dụng làm
nấm rơm. Rơm rạ có thể sử dụng như một nguồn thức ăn chính ñể nuôi trâu bò
cày kéo, sinh sản. Rơm rạ còn là nguồn xơ rất tốt ñể phối hợp với thức ăn
nhuyễn, những thức ăn bổ sung ñắt tiền khác trong chăn nuôi bò sữa và vỗ béo
bò thịt. Thông thường tỷ lệ rơm rạ chiếm khoảng 50 – 55% và thóc chiếm 45 –
50% khối lượng cây lúa khô. Như vậy với sản lượng thóc hàng năm ñạt ñược, sơ
bộ có khối lượng rơm rạ (làm tròn số) hàng năm tạo ra tại các vùng sản xuất lúa
thư sau (bảng 1.1):
Bảng 1.1. Sản lượng lúa và rơm rạ (tạm tính) phân theo ñịa phương
ðơn vị: Triệu tấn
Năm
Vùng miền
Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Thóc
Hồng
6,79 7,45 6,81 7,49 6,97 7,67 6,87 7,56
Trung du và miền
núi phía Bắc
3,05 3,35 3,09 3,40 3,20 3,52 3,26 3,59
Bắc Trung Bộ và
Duyên hải miền
Trung
6,25 6,87 6,15 3,48 6,54 7,19 6,71 7,38
Tây Nguyên 0,99 1,09 1,04 1,14 1,08 1,19 1,13 1,24
ðông Nam Bộ 1,32 1,45 1,32 1,45 1,36 1.49 1,39 1,53
ðồng bằng sông
Cửu Long
20,48
22,53
21,59
23,74
23,27
25,60
24,29
26,72
Hình 1.1. Một số hình ảnh về ñốt rơm rạ gây ô nhiễm môi trường và cản trở
giao thông
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Kỹ thuật
Page 5
* ðặc ñiểm cơ- lý- hóa tính của rơm [14]
- Hệ số ma sát tĩnh của rơm khô
Bảng 1.2. Hệ số ma sát của rơm khô với rơm và thép
TT Loại vật liệu Số lần ño
Góc ma sát
ϕ
ϕϕ
ϕ
(
0
)
Hệ số ma sát f
1 Thép 5 31
0
0,60
2 Rơm khô 5 61
0
30’ 1,83
Qua bảng 1.5 ta thấy hệ số ma sát tĩnh của rơm khô tương ñối lớn. Hệ số ma
sát tự bản thân của rơm với nhau lớn hơn rất nhiều so với vật liệu thép (f = 1,8 -
1,83).
- Hệ số ma sát tĩnh của rơm tươi
Bảng 1.3. Hệ số ma sát của rơm tươi với rơm và thép
TT Loại vật liệu Số lần ño
TND
(%)
ME
(Kcal/kg)
Rơm khô 86
3,9
±
0,37
1,4
±
0,27
33,0
±
1,3
43,3
±
1,8
1598
±
66
Rơm tươi 33,58 3,98 0,46 34,09
Nhận xét:
Ở Việt nam việc sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho chăn
nuôi ñại gia súc còn hạn chế. Nguyên nhân là do:
+ Giá trị dinh dưỡng của rơm thấp, chủ yếu là xơ thô (34%);
1.2.1.1. Khái quát tình hình chăn nuôi ñại gia súc ở Việt Nam
Hiện cả nước có khoảng 5,2 triệu con bò, trong ñó bò sữa khoảng 150.000
con và gần 2,63 triệu con trâu (bảng 1.5; 1.6 và 1.7) phân bố chủ yêu ở trung
du miền núi phía Bắc, duyên hải miền Trung và Tây Nguyên [21]. Ngoài ra
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Kỹ thuật
Page 7
còn một lượng ñáng kể dề, cừu và ngựa. Tuy nhiên hiện ngành chăn nuôi ñại
gia súc chủ yếu mang tính tận dụng thức ăn là chính, còn thức ăn chế biến
công nghiệp hiện chiểm một tỉ lệ rất thấp. trong khi hàng năm một lượng rất
lớn phế phụ phẩm nông nghiệp (rơm, rạ, thân cây ngô, khoai lang v.v ) phải
bỏ ñi, gây lãng phí và ô nhiễm môi trường.
Bảng 1.5. Số lượng gia súc lớn (ñại gia súc) qua các năm
ðơn vị: x 1000 con
Loại gia súc
Năm
Trâu
Bò
Ngựa
Dê, cừu
2008 2.897,7 6.337,7 121,2 1.483,4
2009 2.886,6 6.103,3 102,2 1.375,1
2010 2.877,0 5.808,3 93,1 1.288,4
2011 2.712,0 5.436,6 88,1 1.267,8
2886,6
2877,0
2712,0
2627,8
ðồng bằng sông Hồng 171,6
170,6
168,3
155,3
145,7
Trung du và miền núi phía
Bắc 1624,4
1626,3
1618,2
1506,2
1453,6
Bắc Trung Bộ và Duyên hải
ðồng bằng sông Cửu Long 43,1
43,3
44,4
43,9
40,7
*
Theo Tổng cục thống kê
Như vậy nếu tính trung bình một con trâu hoặc bò dùng hết khoảng 6 - 7 kg
thức ăn thô/ngày thì hàng năm cần khoảng 16 - 19 triệu tấn rơm rạ, thân lõi
ngô v.v…Ngoài ra hàng năm cần một lượng thức ăn thô khác cho chăn nuôi
dê, cừu, ngựa v.v…
1.2.1.2. Tình hình chế biến thức ăn chăn nuôi cho ñại gia súc ở Việt
Nam
Có một số yếu tố hạn chế việc sử dụng phụ phế phẩm làm thức ăn cho bò
ñó là: Sự thu gom khó khăn do việc thu hoạch thủ công rãi rác ở các hộ nông
dân nhỏ; việc cung cấp hầu hết là theo mùa và không ổn ñịnh. Nhiều yếu tố về
hóa học và vật lý cũng hạn chế việc sử dụng phụ phế phẩm cho trâu bò. Hầu
hết các phụ phế phẩm thiếu một hoặc nhiều chất dinh dưỡng cần thiết.
Mặt hạn chế khác của phụ phẩm nông nghiệp là một số loại có hàm lượng
chất xơ rất cao, rơm lúa chứa 34% chất xơ, lá mía chứa 43% (tính theo chất
khô), nên rất khó tiêu hóa. Mặt khác một số loại phụ phẩm lại khó chế biến và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Kỹ thuật
Page 9
Ngọn, lá sắn
25,5 22,7 16,9 67,5 2549
Các số liệu ở bảng 1.8 cho thấy hàm lượng xơ của rơm lúa, cây ngô già và
lá mía khá cao; nên rất cần ñược chế biến bằng các tác nhân hóa học hay sinh
học ñể nâng cao tỷ lệ tiêu hóa chất xơ và các chất hữu cơ khác.
a/. Tình hình nghiên cứu tận dụng phụ phế phẩm nông làm thức ăn cho ñại
gia súc
ðể ñáp ứng ñòi hỏi của thực tiễn, gần ñây ở Việt Nam ñã có một số nghiên
cứu xử lý và bổ sung chất dinh dưỡng nhằm nâng cao khả năng sử dụng rơm
lúa làm thức ăn cho gia súc nhai lại.
Từ những thập kỷ cuối của thế kỷ 20 và thập niên ñầu của thế kỷ 21, ñã có
rất nhiều công trình nghiên cứu chế biến rơm làm thức ăn cho trâu bò
[3;4;15;16;17]. Một số thí nghiệm ñã ñược tiến hành ñể ñánh giá ảnh hưởng
của xử lý tới thành phần hoá học của rơm. Nguyễn Trọng Tiến (1993) ñã theo
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Kỹ thuật
Page 10
dõi sự thay ñổi thành phần hoá học của rơm lúa xử lý urê theo các mức 0, 2,
3, 4,và 5% ở các thời gian ủ 0, 10, 30, 60 và 90 ngày. Nguyễn Xuân Bả
(1997) ñã tiến hành một nghiên cứu tương tự với các mức urê xử lý là 0, 3, 4
và 5% và thời gian ủ là 0, 10, 20, 30 và 60 ngày. Cả hai tác giả trên ñã cho
thấy chất khô, xơ thô, protein thô của rơm ñã giảm khi thời gian xử lý tăng
lên, xử lý urê làm tăng protein thô và làm giảm xơ thô của rơm. Dựa trên kết
quả của những nghiên cứu này, rơm xử lý 3% urê là thích hợp và thời gian ủ
ít nhất là 10 ngày nhưng không nên quá 30 ngày.[15]
Một số nghiên cứu trên bò mổ lỗ dò dạ cỏ ñã ñược tiến hành ñể xác ñịnh
khả năng phân giải rơm trong dạ cỏ và sự phát triển của vi sinh vật do ảnh
ngô xử lý urê, kết quả cho thấy năng suất và chất lượng sữa không bị thay ñổi
so với những bò ăn khẩu phần cơ sở là cỏ xanh. Nguyễn Thị Lương Hồng
(1995) thay thế một phần cỏ xanh trong khẩu phần bò sữa bằng rơm xử lý urê
cho kết quả khả quan.
ðối với trâu ở ñồng bằng sông Cửu Long, Nguyễn Văn Thu và cộng sự,
(1994) cho thấy rằng bổ sung bánh dinh dưỡng urê- rỉ mật cho trâu ñịa
phương nuôi bằng rơm rạ ñã cải thiện ñược tình trạng sức khoẻ và tăng năng
suất cày kéo. Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sung bánh ña chất dinh dưỡng
ñối với bê nghé và trâu bò cày kéo, các tác giả này kết luận rằng bánh dinh
dưỡng chứa urê- rỉ mật, cám, bột dừa, muối, bột xương và các nguyên tố vi
lượng có khả năng giúp duy trì ñược sức khoẻ tốt và năng suất cày kéo cao
ñối với trâu bò ở những vùng thường thiếu thức ăn và nước. Ngoài ra, nhóm
tác giả này còn cho biết, cho ăn rơm xử lý 4% urê hoặc có bổ sung thêm bánh
urê-rỉ mật làm tăng hàm lượng protein thô của rơm, tăng thu nhận thức ăn,
sức khoẻ, năng suất cày kéo và năng suất sữa của trâu bò so với cho ăn rơm
không xử lý.
Tuy nhiên nhưng việc sử dụng rơm làm thức ăn cho trâu bò vẫn gặp nhiều
trở ngại, vấn ñề vướng nhất là chế biến, dự trữ, bảo quản và vận chuyển từ nơi
sẵn có ñến nơi thiếu. Những công trình nghiên cứu trước ñây thành công về
công nghệ chế biến, nâng cao giá trị dinh dưỡng của rơm, nhưng không giải
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Kỹ thuật
Page 12
quyết ñược vấn ñề vận chuyển và tích trữ. Do vậy hướng nghiên cứu nhằm
tạo ra một loại thức ăn mới từ rơm lúa bằng công nghệ nghiền nhỏ và ép viên
trên cơ sở phối hợp với một số loại phụ phẩm khác ñể tạo nguồn thức ăn cho
trâu bò là có ý nghĩa thực tiễn.
b/. Một số phương pháp xử lý rơm, rạ làm thức ăn chăn nuôi cho ñại gia
súc ñã và ñang ñược sử dụng ở Việt Nam
Hà Nội, ðH Nông Lâm Huế với các kết quả chính là:
+ Kết quả xử lý rơm với urê công thức 2,5 kg urê, 0,5 kg vôi, 100 lít nước,
100 kg rơm khô ñể chăn nuôi bò thịt ñạt hiệu quả tăng trọng cao hơn ñối
chứng 23,7%;
+ ðã nghiên cứu ñánh giá các chỉ tiêu thức ăn của rơm xử lý urê (tỷ lệ 3 -
5% cho thấy hàm lượng xơ thô, NDF, ADF và lignin trong rơm giảm ñáng kể,
tỷ lệ tiêu hoá tăng 39,3% so với ñối chứng;
+ Kết quả xử lý rơm bằng urê tỷ lệ 4% ñã làm tăng hàm lượng Protein thô
và giảm hàm lượng NDF, hemicelluloza;
+ Ứng dụng phương pháp xử lý urê ở ñiều kiện nông hộ cho thấy xử lý urê
làm tăng giá trị nuôi dưỡng và tốc ñộ sinh trưởng của bò.
+ Cách làm: Có thể dùng hố ủ nửa chìm như phương pháp ủ chua, hoặc xây
bể nổi hoặc ủ trong bao ni lon dầy hoặc ủ thành cây rơm xung quanh có ni
lông bao phủ kín và dây buộc chặt.
+ Cách dùng: Sau 7 ñến 10 ngày ủ, bắt ñầu lấy cho trâu, bò ăn. Mỗi ngày
cho ăn tối ña từ 7 - 10 kg/con. Tuy nhiên phải tập cho trâu bò ăn với lượng
tăng dần.
- Sử dụng rơm trực tiếp làm thức ăn thô:
Rơm khô ñược cho ăn trực tiếp hoặc băm nhỏ trộn với cỏ tươi băm nhỏ,
cám tổng hợp, rỉ mật, men bia tạo thành thức ăn tổng hợp theo khẩu phần (hay
còn gọi là thức ăn MTR). Với 1 con bò ñang vắt sữa, khẩu phần ăn trong
khoảng 20 - 25kg/ngày trong ñó rơm - cỏ khô thường chiếm 10 - 15%. ðây là