Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm moldtex và bao bì đến chất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp trong quá trình bảo quản tại công ty cổ phần tập đoàn dabaco việt nam - Pdf 27

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

ðỖ TUẤN ANH

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM MOLDTEX
VÀ BAO BÌ ðẾN CHẤT LƯỢNG THỨC ĂN CHĂN NUÔI
CÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH BẢO QUẢN TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ðOÀN DABACO VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH : CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
MÃ SỐ : 60.54.01.04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGÔ XUÂN MẠNH
HÀ NỘI - 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp



ðể hoàn thành ñề tài tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng của bản thân tôi ñã
nhận ñược rất nhiều sự quan tâm giúp ñỡ nhiệt tình của thầy cô, gia ñình, bạn
bè và người thân.
Trước hết tôi xin gửi ñến Ban Giám hiệu Trường ðại học Nông nghiệp Hà
Nội, Khoa Công nghệ thực phẩm sự kính trọng và niềm tự hào khi ñược học tập và
nghiên cứu tại trường trong những năm qua.
Tôi xin ñược bày tỏ sự biết ơn sâu sắc ñến các thầy, cô giáo ñã dạy dỗ tôi
trong suốt thời gian qua. ðặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Ngô
Xuân Mạnh - Khoa Công nghệ thực phẩm - Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội
ñã tận tình hướng dẫn, giúp ñỡ tôi trong quá trình thực hiện ñề tài và hoàn thành
bản luận văn này.
Tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn:
- Công ty Cổ phần Tập ñoàn DABACO Việt Nam.

Hà Nội, ngày tháng năm 2014.
Tác giả

ðỗ Tuấn Anh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN Error! Bookmark not defined.
LỜI CẢM ƠN Error! Bookmark not defined.

3.1.1. Đối tượng – địa điểm và thời gian nghiên cứu 18
3.1.2. Thiết bị, dụng cụ, hóa chất 18
3.2. Nội dung nghiên cứu 20
3.3. Phương pháp nghiên cứu 20
3.3.1. Phương pháp điều tra, thu mẫu 20
3.3.2. Phương pháp xác định thành phần nấm hại trên TACN 21
3.3.3. Phương pháp phân lập nấm 22
3.3.4. Phương pháp phân loại nấm. 23
3.3.5. Phương pháp định tên nấm bằng kỹ thuật sinh học phân tử 23
3.3.6. Phương pháp bố trí thí nghiệm đánh giá hiệu quả sử dụng chế
phẩm Moldtex trong phòng chống nấm trên môi trường PDA và
trên TACN D42 27
3.3.7. Khảo sát hiệu quả của Moldtex đến chất lượng của TACN D42
trong quá trình bảo quản 33
3.3.8. Nghiên cứu ảnh hưởng của độ dày bao bì đến chất lượng TACN
trong thời gian bảo quản 33
3.3.9. Phương pháp lấy mẫu phân tích 34
3.3.10. Phương pháp phân tích 34
3.3.11. Phương pháp xử lý số liệu 37
4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38
4.1. Thành phần và đặc điểm hình thái nấm gây hại trên TACN D42
trong quá trình bảo quản tại Công ty Cổ Phần Tập Đoàn
DABACO Việt Nam 38
4.1.1. Thành phần nấm gây hại trên TACN D42 38
4.1.2. PCR và giải trình tự 41
4.1.3. Tìm kiếm trình tự tương đồng trên GenBank 41
4.1.4. Phân tích phả hệ 42
4.1.5. Đặc điểm hình thái một số loài nấm gây hại TACN D42 bảo
quản trong kho 43
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

vi
DANH MỤC CÁC BẢNG

STT Tên bảng Trang

Bảng 2.1. Nhu cầu thức ăn chăn nuôi của Việt Nam đến 2020 4
Bảng 2.2. Nồng độ ức chế tối thiểu của PA đối với các nhóm vi sinh vật 13
Bảng 2.3. Độ thấm khí O
2
và CO
2
của các bao bì thông dụng 17
Bảng 4.1. Thành phần nấm phân lập từ TACN dựa vào đặc điểm hình thái 38
Bảng 4.2. Thành phần nấm hại TACN D42 bảo quản tại kho Công ty CP
tập đoàn DABACO Việt Nam, năm 2013 40
Bảng 4.3. Giải trình tự và tìm kiếm các chuỗi gần gũi trên Ngân hàng
Gen (GenBank) 41
Bảng 4.4. Ảnh hưởng của thời gian bảo quản TACN D42 đến tỉ lệ nhiễm
một số loài nấm tại kho Công ty cổ phần tập đoàn DABACO
Viêt Nam năm 2013 47
Bảng 4.5. Ảnh hưởng của chế phẩm Moldtex đến sự phát triển của nấm
Aspergillus flavus trên môi trường PDA có bổ sung chế phẩm 49
Bảng 4.6. Hiệu quả của chế phẩm Moldtex đối với TACN D42 khi không
lây nhiễm nấm Aspergillus flavus 51
Bảng 4.7. Hiệu quả của việc xử lý chế phẩm Moldtex đối với TACN D42
sau khi nhiễm nấm Aspergillus flavus (hiệu quả chống nấm) 52
Bảng 4.8. Hiệu quả của việc xử lý chế phẩm Moldtex đối với TACN D42
trước khi nhiễm nấm Aspergillus flavus (hiệu quả phòng nấm) 54


viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TĂT Chữ viết tắt Từ viết tắt
BB
BQ
C
a

CT
D42
ĐC
HQ
ITS
KDTV
PA
PDA
TACN
T
a

TLN

Bao bì
Bảo quản
Tỉ lệ hạt nhiễm ở công thức đối chứng
Công thức
Thức ăn dành cho lợn từ 30kg đến xuất bán

các công ty cũ mở rộng sản xuất để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Mặt khác, trình
độ và kỹ thuật chăn nuôi của nước ta ngày một phát triển. Trước kia chủ yếu là chăn
nuôi nhỏ lẻ tại các hộ gia đình thì ngày nay đã chuyển thành các trang trại, công ty
chăn nuôi với các sản phẩm đa dạng như gia súc, gia cầm và thủy cầm.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì ngành chăn
nuôi cũng phát triển theo xu hướng hàng hóa. Do vậy, năng suất và chất lượng thịt
luôn được quan tâm đặc biệt. Nhờ việc áp dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật
(lai tạo giống, dinh dưỡng, thú y,…) ngành chăn nuôi trong nước ngày càng phát
triển. Để theo kịp được sự phát triển của ngành chăn nuôi thì việc tạo ra các sản
phẩm thức ăn chăn nuôi (TACN) công nghiệp (CN) là rất cần thiết vì nó giúp làm
tăng nhanh năng suất, tạo sản phẩm có chất lượng cao đồng thời giảm chi phí cho
một đơn vị sản phẩm từ đó sẽ đạt được hiệu quả kinh tế cao.
Khó khăn nhất trong quá trình bảo quản TACN CN là vấn đề chất lượng thức
ăn suy giảm trong thời gian bảo quản. Trong các nguyên nhân gây làm giảm chất
lượng thức ăn thì nấm mốc là một trong những nguyên nhân chủ yếu. Nấm mốc
phát triển làm biến đổi chất lượng thức ăn, ngoài ra còn có thể sản sinh độc tố, dẫn
đến những thiệt hại về kinh tế cũng như uy tín của nhà sản xuất. Chế phẩm Moldtex
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

2

là sản phẩm của công ty TNHH Linqtex có trụ sở tại Thái Lan, được sử dụng để ức
chế sự phát triển của nấm mốc trong quá trình bảo quản các nguyên liệu TACN.
Tuy nhiên Moldtex mới chỉ được đưa vào sử dụng tại Tập đoàn Dabaco Việt Nam,
chưa qua nghiên cứu nên chưa có một hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng loại hóa
chất này.
Một trong những yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng và thời gian
bảo quản TACN là bao bì của sản phẩm. Lựa chọn được loại bao bì phù hợp có thể
góp phần duy trì chất lượng và kéo dài thời gian bảo quản TACN.
Đáp ứng nhu cầu của thị trường thì chất lượng thức ăn đóng vai trò tiên

hàng năm 6%, hiện nay đàn lợn đã đạt 26,5 triệu con, đàn gia cầm đạt 350 triệu con
và đàn trâu bò đạt 9,5 triệu con. Cùng với sự gia tăng về số lượng vật nuôi như trên
thì một lượng lớn thức ăn đã được sử dụng, tổng nhu cầu thức ăn sử dụng trong
chăn nuôi gia súc, gia cầm của Việt Nam khoảng 20 triệu tấn năm 2011: trong đó
sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp xấp xỉ 11,5 triệu tấn (chiếm 50% tổng nhu
cầu). Mức tăng trưởng toàn ngành sản xuất TACN công nghiệp đạt 15% giai đoạn
2002-2011. Nhờ sự tăng trưởng đó mà sản lượng thực phẩm tăng lên đáp ứng cho
nhu cầu thiết yếu cho xã hội, khối lượng thịt hơi các loại bình quân cho một nhân
khẩu đã tăng từ 24kg năm 2000 lên 45kg năm 2010. Trong số các nguyên liệu trên
thì có 80% lượng ngô là do nguồn nội địa cung cấp còn lại hạt mì và khô đậu tương
là nhập 100% [10].
Tuy nhiên, bên trong sự phát triển của TACN công nghiệp còn có rất nhiều
những khó khăn, thách thức làm cho các nhà quản lý và doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh phải suy tính và tìm giải pháp để khắc phục. Khó khăn lớn nhất hiện nay của
ngành đó là sự thiếu hụt nguồn nguyên liệu tại chỗ để sản xuất, vì phải phụ thuộc
nhiều vào nhập khẩu. Điều này không những gây khó khăn cho sản xuất trong sự
chủ động nguyên liệu mà còn khó khăn về giá, chất lượng và những phát sinh khác.
Tổng lượng thức ăn tinh sử dụng cho chăn nuôi năm 2011 đã lên tới con số 8,930
ngàn tấn, tăng gần 3 lần so với năm 2006. Trong đó, thức ăn giàu năng lượng (Ngô,
lúa mì, cám mỳ): 3,86 triệu tấn chiếm 43,2%; thức ăn giàu đạm (đỗ tương, khô dầu
các loại, bột cá, bột thịt xương, ngô lên men ) 4,76 triệu tấn chiếm 53,28%; thức ăn
bổ sung (Premix vitamin khoáng, acid amin, ): 0,29 triệu tấn chiếm 3,2%. Để đáp
ứng chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 nhu cầu sử dụng thức ăn của Việt
Nam ước tính là 27,4 triệu tấn tăng 1,3 lần so với năm 2012 bảng 2.1 [10].
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

4

Bảng 2.1. Nhu cầu thức ăn chăn nuôi của Việt Nam ñến 2020
Loại thức ăn ðVT 2012 2013 2014 2015 2020

27.394
Nguồn: Cục chăn nuôi - Bộ NNPTNT (2012)
2.2. Giới thiệu về chế phẩm Moldtex
* Theo thông tin từ Công ty Linqtex có nhà máy sản xuất ở Thái Lan thì
Moldtex gồm có: propionic acid là thành phần chính, benzoic acid, sorbic acid ,
axetic acid…
+ Propionic acid (PA): là một cacboxilic acid có nguồn gốc tự nhiên, công
thức phân tử C
3
H
6
O
2
. Ở trạng thía tinh khiết và trong điều kiện thông thường, nó là
một chất lỏng không màu có tính ăn mòn và mùi hăng.
Tính chất vật lý: Propionic acid có các tính chất vật lý trung gian giữa các
tính chất của các cacboxylic acid nhỏ hơn như formic acid và acetic acid, với các
acid béo lớn hơn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

5

Tính chất hoá học: PA thể hiện các tính chất chung của cacboxylic acid, và
tương tự như phần lớn các cacboxylic acid khác, nó tạo ra các hợp chất amit, este,
alhydride và clorua. Nó cũng có thể tham gia phản ứng halogen hoá.
Công dụng: PA ngăn cản sự phát triển của mốc và một số vi khuẩn. Do vậy,
phần lớn PA được sản xuất để sử dụng làm chất bảo quản cho cả thực phẩm dành
cho người cũng như thức ăn gia súc. Đối với thức ăn gia súc, nó được sử dụng trực
tiếp hoặc dưới dạng muối amoni. Đối với thực phẩm dành cho con người, đặc biệt
là bánh mì và các sản phẩm nướng khác, nó được dùng dưới dạng các muối natri

nấm mốc. Quá trình xử lý nguyên liệu trong sản xuất thức ăn giúp giảm nhiễm vi
khuẩn nhưng không thể tránh khỏi việc tái nhiễm ở các giai đoạn sau. Nấm mốc gây
hư hại thức ăn đặc biệt là trong điều kiện bảo quản không tốt. Tất cả các nấm mốc
đều làm giảm giá trị dinh dưỡng của thức ăn, đồng thời trong quá trình ký sinh trên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

6

thức ăn chúng sinh trưởng phát triển và sản sinh ra độc tố mycotoxin gây hiểm họa
nghiêm trọng cho vật nuôi và sức khỏe con người [32].
Trong nông nghiệp và sản xuất TACN nói chung, năm nhóm độc tố quan
trọng cần được quan tâm nhất là aflatoxin, fumonisin, deoxynivalenol (DON, hoặc
vomitoxin), zearalenone, và ochratoxin A. Những độc tố này sản sinh ra rất nhiều
độc tố hoặc là nguyên nhân gây ung thư cho con người và vật nuôi [52]. Aflatoxin
chủ yếu được sản sinh ra bởi nấm Aspergillus flavus và Aspergillus parasiticus,
chúng ảnh hưởng tới hầu hết các loại cây trồng quan trọng như là ngô, đậu đỗ, lạc,
và bông. Aflatoxin được biết là chất gây ung thư gan ở người, gây ra khoảng 25 đến
155 nghìn ca mắc bệnh ung thư hàng năm trên toàn thế giới [39], hoặc khoảng 21-
24% tổng số ca mắc bệnh ung thư gan trên toàn thế giới [38]. Aflatoxin gây ra vô số
các ảnh hưởng nghiêm trọng và nguy hại cho nhiều loại động vật khác nhau thông
qua sự biến đổi làm cho quá trình tổng hợp DNA và di truyền trong tế bào diễn ra
không bình thường. Những ảnh hưởng này bao gồm làm tổn thương, hư hỏng gan,
hỏng chức năng đường ruột, không sinh trưởng, thiểu năng, giảm rối loại quá trình
sinh trưởng phát triển và suy giảm hệ thống miễn dịch [50] [15]. Đối với gia cầm,
aflatoxin cũng là nguyên nhân gây giảm tỷ lệ đẻ, mỏng vỏ trứng, giảm chất lượng
thịt xẻ, và tăng khả năng nhiễm bệnh [21] [51]. Đối với lợn, aflatoxin là nguyên
nhân gây ra giảm trọng, lợn chậm lớn, còi cọc, kém ăn, tiêu chảy, ngộ độc, và có thể
tử vong nếu hàm lượng độc tố cao [19]. Ở đại gia súc như trâu bò thì ít mẫn cảm với
độc tố aflatoxin trong thức ăn. Tuy nhiên, sản lượng sữa cũng bị giảm và aflatoxin
M1, một dạng chuyển hóa của aflatoxin B1 có thể làm ảnh hưởng đến quả trình tiết

thức ăn cho mục đích như chất bảo quản cho nước uống. Chúng có thể sử dụng đơn
lẻ hoặc kết hợp với một vài loại acid hữu cơ khác ở nồng độ 200-2500 mg
acetate/kg trong hỗn hợp thức ăn. Acetic acid và muối của nó được xem như có
hiệu quả ngang nhau khi so sánh ở cấp độ phân tử. Dựa trên so sánh giữa vật nuôi
sử dụng acetic acid có trong khẩu phần như chó, gà lượng sử dụng 2500mg acetic
acid/kg thức ăn hỗn hợp (1000mg/lít cho nước uống) thì coi như an toàn đối với gia
cầm, lợn và thú cảnh. Với gia súc nhai lại có thể chịu đựng được mức cao hơn.
Acetic acid được chuyển hóa nhanh trong quá trình trao đổi chất, việc sử dụng
acetic acid và muối của nó cho vật nuôi không có nguy cơ phơi nhiễm cho con
người. Acetic acid và muối của nó là hóa chất dạng hàng rời thô khi vận chuyển và
sử dụng cũng đã được hướng dẫn chi tiết trong tài liệu. Acetic acid và acetate là
thành phần bình thường hiện diện trong khẩu phần cho người và vật nuôi và chúng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

8

được sản sinh khối lượng lớn ở dạng phân tử trong đường tiêu hóa. Acetic acid và
muối acetate chuyển hóa hoàn toàn trong quá trình trao đổi do đó không có nguy hại
đối với môi trường, và chúng có tiềm năng trong việc sử dụng đóng vai trò làm chất
bảo quản trong thức ăn chăn nuôi và nước uống [22].
Propionic acid (PA) là một chất diệt nấm và vi khuẩn được dùng để kiểm
soát nấm, vi khuẩn trong bảo quản ngũ cốc, cỏ khô, kho bảo quản hạt tinh bột, chất
độn lót chuồng cho gia cầm và nước uống cho gia súc và gia cầm. ở Châu Âu PA
được chứng nhận như là một chất bảo quản cho hạt giàu tinh bột và hiệu quả nhất
trong việc kiểm soát Salmonella và nguồn bệnh khác, PA được sử dụng là chất bảo
quản an toàn trong thực phẩm đối với người và cũng sử dụng thành công đối với gia
cầm. Ảnh hưởng tích cực của PA như là phụ gia trong thức ăn chăn nuôi có thể
được giải thích bởi nhiều cơ chế hoạt động, acid này có thể bẻ gãy
DNA(deoxyribonucleic acid) cấu trúc di truyền của tế bào vi khuẩn và làm mất khả
năng nhân lên của chúng. Hơn thế nữa, vi khuẩn thường mẫn cảm với pH như

pyruvatedecarboxylase và ảnh hưởng đến tổng hợp DNA, việc nhân lên và phát
triển của vi khuẩn và nấm bị giảm đáng kể khi có sự hiện diện của formic acid.
Ngoài ra, các loại acid khác như acetic, bytyric và benzoic cũng cho thấy có hiệu
quả thấp hơn so với propionic hay formic [11].
2.4.1. Ảnh hưởng của PA ñến sinh trưởng phát triển của gia cầm
Trong nghiên cứu về sự kích thích tăng trưởng của propionic acid (PA) có
thể giảm mầm bệnh khi pH đường ruột giảm và từ đó tăng tỷ lệ hấp thụ và tăng việc
sử dụng protein, amino axit, khoáng và các chất dinh dưỡng đối với con vật. Theo
kết quả nghiên cứu của tác giả này khi nghiên cứu ảnh hưởng của propionic acid
làm chất đệm trong khẩu phần thức ăn đến sinh trưởng phát triển và hệ vi sinh vật
đường ruột và chất lượng thịt ở gà thịt cho thấy khi bổ sung Luprosil có chứa 53.5%
propionic acid với lượng 0.4% làm tăng đáng kể khả năng tăng trọng của gà thịt giai
đoạn 49 ngày tuổi [31].
Marcos và cs., (2004) báo cáo rằng khi gà thịt được bổ sung hỗn hợp acid
(70% formic acid và 30% PA) với liều 0.25 và 0.5% trong khẩu phần cho thấy tăng
trọng cao hơn so với đàn gà cho ăn hỗn hợp axit đó với liều cao hơn (1 và 2%) [40].
Việc cải thiện có ý nghĩa đáng kể về khối lượng cơ thể và tăng trọng ở gà tây khi bổ
sung MC (myco curb chứa PA) với liều bổ sung 0.625 và 1.25% [48].
Trong một nghiên cứu của Paul và cs., (2007) với muối acid hữu cơ
(calcium propionate, ammonium formate và calcium lactate) với liều dùng 1g/kg
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

10
như là chất thay thế cho kháng sinh (virginiamycin 0.5g/kg) kết quả cho thấy tăng
trọng tăng đáng kể trong nhóm bổ sung muối axit hữu cơ so với nhóm dùng kháng
sinh [44].
2.4.2. Ảnh hưởng của PA ñến khả năng ăn vào và chuyển hóa thức ăn
Như là chất bảo quả thức ăn PA giảm pH của thức ăn, nâng cao điều kiện vệ
sinh và cải thiện tính ngon miệng của thức ăn từ đó tăng khả năng ăn vào của con
vật nhưng với liều dùng cao có khả năng giảm khả năng ăn vào của vật nuôi. Khi

mang mầm bệnh phát triển ở pH gần với trung tính (pH=7) hoặc cao hơn. Ngược
lại, những nhóm vi sinh vật có lợi tồn tại ở đường ruột thích hợp với môi trường có
pH (5.8-6.2) và đối lập với vi sinh vật có hại [24]. Hơn nữa, ở môi trường pH thấp
hơn khi có sự hiện diện của acid hữu cơ làm giảm vi sinh vật có hại ở đường ruột
và cải thiện sự hấp thu dinh dưỡng [14].
Giá trị pH thấp hơn ở diều và ở dạ dày cơ đã phát hiện ở gà thịt khi bổ sung
propionic acid và calcium acetate trong khẩu phần so với nhóm đối chứng. Cũng có
nhiều báo cáo kết luận rằng khi bổ sung formic và propionic acid trong khẩu phần
ở dạng Bio-add vào thức ăn của gà mái đẻ đã không có sự khác nhau về pH của
đường ruột, nhưng kết quả cho thấy nồng độ những acid này cao hơn ở diều và dạ
dày cơ. Hiệu quả của MC (Myco curb có chứa PA) kháng được nhiều loại vi khuẩn
và nấm đã được báo cáo bởi nhiều nhà khoa học [33] [29].
PA rất có hiệu quả trong việc ức chế sự phát triển của vi khuẩn E.coli trong
đường ruột. Cùng thời điểm đó nó không ức chế sự phát triển của vi khuẩn có lợi
Lactobacillus. Một nghiên cứu trước đây của Mathew và cs., (1991) cho thấy khi bổ
sung Luprosil NC cho lợn đang sinh trưởng, số lượng E.coli trong đường ruột giảm,
Lactobacillus tăng pH của dịch tiêu hóa đường ruột giảm do quá trình lên men của
nhóm vi khuẩn lên men gia tăng. Mặt khác, sự có mặt của PA trong thức ăn có vai trò
đáng kể trong việc giảm Salmonella spp trong đường ruột của gà [41]. Kwon và cs.,
(2003) cho thấy propionic acid có khả năng đệm làm giảm rõ rệt sự phát triển của
Salmonella và nhóm vi khuẩn yếm khí khác trong đường ruột khi pH giảm từ 7 xuống
5 và tối đa hiệu quả ức chế khi dùng 3% ở gà thịt. Kết quả nghiên cứu này chỉ ra rằng
hiệu quả ức chế sinh trưởng của PA chống lại nhóm vi khuẩn S.typhimurium đã cải
thiện bởi việc giảm pH và ức chế nhóm vi khuẩn yếm khí [35]. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

12
2.5.2. Hiệu quả làm chất kháng nấm và bảo quản TACN

tính ngon miệng của thức ăn, gây ra hậu quả giảm lượng thức ăn ăn vào cũng như
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

13
giảm năng suất của vật nuôi. Để tránh những vấn đề ảnh hưởng không tốt tức thức
ăn chăn nuôi, thì sản phẩm thức ăn chăn nuôi cần được bảo quản tốt, không chứa
nấm mốc và có thời gian bảo quản được dài, để đảm bảo vấn đề này thì việc áp
dụng thực hành tốt trong sản xuất từ khâu kiểm soát lựa chọn nhập nguyên liệu đầu
vào cho tới quá trình vận hành chế biến sản xuất, sử dụng chất bảo quản có nguồn
gốc hữu cơ, bảo quản nguyên liệu trong kho, cũng như bảo quản thành phẩm cần
được áp dụng tốt [13].
Bảng 2.2. Nồng ñộ ức chế tối thiểu của PA ñối với các nhóm vi sinh vật
Nhóm vi sinh vật kiểm tra Nồng ñộ propionic tối thiểu (%)
Nhóm vi khuẩn (bacteria)
1

Staphylococcus aureus
Bacillus subtilis
Aerobacter aerogenes
Escherichia coli
Escherichia freundii
Proteus vulgaris
Pseudomonas aeroginosa
Pseudomonas fluorescens
Serratia marcescens
Nhóm nấm (Fungi)
2

Aspergillus niger
Aspergillus flavus

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

14
2.6. Sử dụng chất hóa học có khả năng gắn kết dính, hấp phụ ñộc tố trong sản
xuất TACN
Việc sử dụng các hợp chất hóa học có khả năng kết dính hấp phụ độc tố
trong thức ăn chăn nuôi cũng đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu in vitro và in
vivo đã được cho thấy có hiệu quả về mặt hóa sinh học và thực tế áp dụng rộng rãi.
Những phương pháp hóa học không những chỉ yêu cầu phù hợp với trang thiết bị
khả năng áp dụng mà còn phải dễ dàng áp dụng trong quá trình sản xuất đảm bảo vệ
sinh an toàn; điều này làm cho tăng chi phí và tốn kém thời gian đối với nhà sử
dụng. Hơn thế nữa, ngoài các chất là acid hữu cơ được sử dụng trong TACN để
kháng kháng khuẩn và nấm mốc còn rất nhiều chất hóa học bao gồm các chất oxi
hóa, bazơ, muối, chloriate cũng đã được kiểm nghiệm để làm giảm tác nhân gây ra
độc tố mycotoxin trong hàng hóa nông sản cũng như sản xuất chế biến thực phẩm
và TACN. Chỉ có một số ít trong các các chất này thì hiệu quả không có bất kỳ dấu
hiệu giảm giá trị dinh dưỡng hoặc giảm tính ngon miệng của thức ăn. Về mặt hóa
học, một số độc tố mycotoxin có thể bị phá hủy hoặc bị biến tính bởi canxi
hydroxide (Ca(OH)
2
), monoethylamine, ozone hoặc amonia [43] [36] [30]. Đặc
biệt, sự ammon hóa đã được chấp nhận là một chất giảm độc tính của aflatoxin
trong thức ăn bị tạp nhiễm ở nhiều quốc gia [30]. Chi phí trung bình đối với amon
hóa dao động khoảng 5-20% giá trị hàng hóa [45]. Hạn chế chính của loại hợp chất
giảm độc này chính là kém hiệu quả đối với mycotoxin và có thể làm giảm sức khỏe
của vật nuôi khi lượng tồn dư vượt cao trong thức ăn.
Một phương pháp khác đã được thực nghiệm trong việc cố gắng làm giảm sự
hấp thu độc tố mycotoxin từ thức ăn chăn nuôi bị tạp nhiễm là sử dụng các chất bám
kết dính và hấp phụ độc tố (mycotoxin binders). Chất này được bổ sung vào thức ăn
với mục đích để cho thấy một hình thức hoàn toàn khác biệt về mặt hoạt động so

aluminates, silicates và một số có khả năng trao đổi ions, alkaline [30]. Khoáng
sét (mineral clays) bentonites, zeolites, và aluminosilicate phổ biến dùng làm
phụ gia thức ăn chăn nuôi chúng có hiệu quả trong việc hấp phụ kết dính độc tố
aflatoxin [12].
Hydrated sodium calcium aluminosilicates bổ sung với lượng 1% vào thức
ăn đã được báo cáo giảm đáng kể ảnh hưởng xấu từ aflatoxin đối với gia súc còn
non. Aluminosilicate được sử dụng tới 2% trong khẩu phần hoàn chỉnh như là chất
chống gãy vỡ viên (anti-caking). Do đó, mục đích chính của sản phầm này bổ sung
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

16
hơn là kết dính độc tố. Aluminosilicate được dùng lựa chọn để hấp phụ aflatoxin và
không có hiệu quả với zearalenone, fumonisin B1, ochratoxin A và trichothecenes,
T2 Toxin. Montmorillonite nanocomposite, zeolites cho thấy có hiệu quả bắt dính
và hấp thụ độc tố đối với zearalenone [43].
2.7. Màng bao gói
Theo Nguyễn Mạnh Khải, (2007): Low Density Polyethylene hay
Polyethylenee tỷ trọng thấp (LDPE) có cấu trúc đơn giản nhất trong tất cả các
polime: một chuỗi dài các đơn vị ethylene nối với nhau. LDPE được làm từ
ethylene trong điều kiện áp suất rất cao (khoảng 25000 psi) và nhiệt độ khoảng
300
o
F và chịu ảnh hưởng của các gốc hoạt hóa tự do [2].
Màng bao gói làm từ LDPE có độ mềm, khả năng đàn hồi đặc trưng và rất dễ
kéo căng, có độ trong tốt nhưng chưa thật sự tuyệt hảo, có khả năng ngăn ẩm tốt
nhưng ngăn ôxi kém, không gây mùi khó chịu cho thực phẩm, bản thân có thể tạo
mối ghép nhiệt. Các tính chất được ưa chuộng này cùng với giá thành trên một
đơn vị diện tích thấp (thấp nhất trong tất cả các loại màng làm bao bì) làm cho
LDPE trở thành loại vật liệu bao gói bằng platic được sử dụng rộng rãi nhất hiện
nay. Ứng dụng chính của nó trong thực phẩm là làm bao bì cho các sản phẩm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status