TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ XÃ HỘI
***
ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC CHUYỂN ĐỔI
CƠ CẤU CÂY TRỒNG TỚI CƠ CẤU VIỆC LÀM
CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HÀ NỘI - 2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ XÃ HỘI
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC CHUYỂN ĐỔI
CƠ CẤU CÂY TRỒNG TỚI CƠ CẤU VIỆC LÀM
CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
HÀ NỘI - 2014
i
TÓM TẮT KHÓA LUẬN
CĐCCCT từ các loại cây có giá trị kinh tế thấp sang các loại cây có giá trị
kinh tế cao không những mang lại thu nhập cao hơn cho người nông dân, mặt
khác còn tạo ra nguồn lao động dôi dư trong nông nghiệp. Những điều đó tạo
điều kiện cho lao động nông thôn dịch chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu
vực phi nông nghiệp và có thể giúp người lao động đầu tư sản xuất, tạo thêm
việc làm cho lao động nông thôn. Do vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm
tìm hiểu việc CĐCCCT ảnh hưởng như thế nào tới cơ cấu việc làm của lao động
nông thôn.
Nghiên cứu này được thực hiện bằng một số phương pháp như: phương
pháp chọn điểm nghiên cứu tại xã Ông Đình – Khoái Châu – Hưng Yên, phương
pháp thu thập thông tin thứ cấp từ các tài liệu liên quan đến CĐCCCT và cơ cấu
việc làm của lao động nông thôn, các phương pháp thu thập thông tin sơ cấp:
hơn nam giới. Qua nghiên cứu cũng cho thấy cần thiết phải đưa ra một số
khuyến nghị để quá trình CĐCCCT và cơ cấu việc làm của lao động ở địa
phương hiện nay hợp lý, hiệu quả hơn.
Nghiên cứu chỉ ra rằng cần thiết phải xây dựng một đề án, kế hoạch cụ thể
cho quá trình CĐCCCT và ngoài các yếu tố như quá trình CNH – HĐH, sự phát
triển của các làng nghề, các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn như các
nghiên cứu trước đã chỉ ra thì CĐCCCT cũng là nhân tố thúc đẩy sự thay đổi cơ
cấu việc làm của lao động nông thôn.
Từ khóa: CĐCCCT, cơ cấu việc làm
MỤC LỤC
iii
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Đối tượng nghiên cứu 4
1.4 Phạm vi nghiên cứu 4
2.1 Tổng quan tài liệu 5
2.2 Cơ sở lý luận 13
3.1 Địa điểm nghiên cứu 20
3.2 Phương pháp thu thập thông tin 21
3.3 Khung phân tích 23
3.4 Xử lý và phân tích thông tin 24
4.1 Thực trạng chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở địa phương 25
4.2 Ảnh hưởng của việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng tới cơ cấu việc làm theo ngành của
hộ gia đình 32
4.3 Ảnh hưởng của việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng tới cơ cấu việc làm theo giới của hộ
gia đình 38
4.4 Một số khuyến nghị để củng cố, nâng cao hiệu quả của chuyển đổi cơ cấu cây trồng
tới cơ cấu việc làm của lao động nông thôn 46
Hộp 4.10: Người dân cần tăng cường học hỏi, bổ sung các kỹ thuật chăm sóc
những loại cây trồng mới Error: Reference source not found
Hộp 4.11: Tìm đầu ra cho nông phẩm Error: Reference source not found
Hộp 4.12: Kết hợp việc làm nông nghiệp với việc làm phi nông nghiệp Error:
Reference source not found
vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TỪ VIẾT TẮT DIỄN GIẢI
CĐCCCT
CNH – HĐH
GDP
HH
HTXDVNN
NN
NXB
PNN
PVS
TB
UBND
USD
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Tổng sản phẩm quốc dân
Hỗn hợp
Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
Nông nghiệp
Nhà xuất bản
Phi nông nghiệp
Phỏng vấn sâu
Trung bình
1
cơ cấu cây trồng đã làm giảm tăng trưởng chung vì một số diện tích đất đai,
nguồn nước, lao động có thể được sử dụng đối với các cây trồng khác để đạt
hiệu suất và hiệu quả cao hơn (Vương Đình Huệ, 2013). Do vậy, việc chuyển
đổi cơ cấu cây trồng là hết sức cần thiết và có vai trò đặc biệt quan trọng đối với
nước ta.
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng làm thay đổi cơ cấu việc làm của lao động
nông thôn cùng với một số nhân tố như quá trình CNH – HĐH, sự phát triển của
các ngành nghề phi nông ở nông thôn hay sự phát triển của các làng nghề,…
Trong gần 30 năm đổi mới, kinh tế nước ta đã có sự phát triển khá mạnh mẽ, cơ
cấu của nền kinh tế đã có sự chuyển dịch dần theo hướng tiến bộ giảm tỷ trọng
khu vực nông nghiệp, tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp – xây dựng và khu vực
dich vụ. Cùng với sự chuyển dịch của cơ cấu nền kinh tế, cơ cấu việc làm của
lao động nông thôn cũng thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng việc làm trong nông
nghiệp, tăng tỷ trọng việc làm trong công nghiệp và dịch vụ.
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng góp phần chuyển một bộ phận lao động
trong nông nghiệp sang các ngành công nghiệp, dịch vụ, đảm bảo việc làm và
thu nhập cho lao động nông thôn trong điều kiện nền nông nghiệp nước ta hiện
nay. Nông nghiệp nước ta đang từng bước được cơ giới hóa, làm cho số lượng
lao động cần thiết trong nông nghiệp có xu hướng giảm dần ngày càng rõ rệt.
Hơn nữa, đặc điểm cơ bản của sản xuất nông nghiệp là tính mùa vụ do đó việc
làm của lao động nông thôn cũng mang tính mùa vụ. Mặt khác, quá trình công
nghiệp hóa – hiện đại hóa và quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ kéo theo đó
là những hệ lụy làm cho tư liệu sản xuất chính của lao động nông thôn là đất đai
ngày càng bị thu hẹp. Việc làm trong nông nghiệp càng ít đi tỷ lệ nghịch với số
lao động bước vào độ tuổi lao động ngày càng tăng. Thêm vào đó lao động nông
thôn nước ta phần lớn chưa qua đào tạo nên ít có cơ hội tìm kiếm những việc
làm khác có thu nhập cao hơn cũng như khả năng tự tạo việc làm mới thấp.
Những điều đó đã dẫn đến tình trạng thất nghiệp và thiếu viêc làm nghiêm trọng
2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Tìm hiểu ảnh hưởng của việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng tới cơ cấu việc
làm của lao động nông thôn.
Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu thực trạng chuyển đổi cơ cấu cây trồng của địa phương.
- Tìm hiểu ảnh hưởng của chuyển đổi cơ cấu cây trồng tới cơ cấu việc làm
theo ngành của các hộ gia đình.
- Tìm hiểu ảnh hưởng của chuyển đổi cơ cấu cây trồng tới cơ cấu việc làm
theo giới của các hộ gia đình.
- Đề xuất một số khuyến nghị để củng cố, nâng cao hiệu quả của chuyển
đổi cơ cấu cây trồng tới cơ cấu việc làm của lao động nông thôn.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung vào ảnh hưởng của việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng
tới cơ cấu việc làm của lao động nông thôn.
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu ảnh hưởng của việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng tới cơ cấu việc
làm phân theo ngành nông nghiệp – phi nông nghiệp và cơ cấu việc làm theo
giới trong nông nghiệp – phi nông nghiệp của lao động nông thôn, trong đó việc
làm trong ngành nông nghiệp tập trung vào việc làm trong ngành trồng trọt.
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
4
2.1 Tổng quan tài liệu
2.1.1 Các nghiên cứu về chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở các tỉnh, các vùng mặc dù điều
kiện kinh tế, điều kiện xã hội có những điểm khác nhau nhưng cái chung nhất là
dựa trên tiềm năng thế mạnh của mình, phát triển theo cơ chế thị trường, từng
bước xác định một cơ cấu kinh tế hợp lý.
Theo đà phát triển của lực lượng sản xuất, nông nghiệp mang tính chất tự
cung tự cấp tất yếu chuyển lên nông nghiệp hàng hóa do phân công xã hội ngày
được thực trạng CĐCCCT ở hai tỉnh Thái Bình và Cao Bằng tuy nhiên các tác
giả mới chỉ nghiên cứu về mặt kỹ thuật và chỉ ra được hiệu quả về mặt kinh tế
mà các loại cây trồng mới mang lại mà chưa nghiên cứu ảnh hưởng về mặt xã
hội mà CĐCCCT mang lại.
Hướng nghiên cứu về giải pháp chủ yếu để thúc đẩy CĐCCCT.
Khi nghiên cứu về các giải pháp để thúc đẩy CĐCCCT, tác giả ) đề cao
việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, nghiên cứu giống cây trồng tăng
năng suất, chất lượng hiệu quả và chuyển giao khoa học, công nghệ cho sản
xuất, coi đây là khâu đột phá quan trọng nhất để thúc đẩy quá trình CĐCCCT.
Trong khi đó, tác giả lại nhấn mạnh sự cần thiết phải mở rộng thị trường tiêu
thụ nông sản, cả thị trường trong nước và thị trường nước ngoài. Đây là việc làm
cần thiết để thúc đẩy CĐCCCT theo hướng phát triển nông nghiệp hàng hóa.
Các tác giả cũng đưa ra một số giả pháp khác như: thực hiện dồn điền đổi
thửa, hợp tác sản xuất, phát triển kinh tế trang trại. Ruộng đất manh mún không
thể sản xuất hàng hóa khối lượng lớn, đồng đều về chất lượng, khó hình thành
vùng chuyên canh. Cùng với việc dồn điền đổi thửa cần coi trọng hình thành các
tổ hợp tác, khuyến khích tập trung ruộng đất để hình thành trang trại. Xây dựng
cơ sở vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng phục vụ nông nghiệp cũng là một giải
pháp cần thiết mà các nghiên cứu chỉ ra. Thủy lợi là công tác hàng đầu cần được
đầu tư, cùng với đó là xây dựng, phát triển hệ thống lưới điện, giao thông, thông
tin,
6
Ngoài ra, còn những biện pháp như: xây dựng hệ thống bảo quản, chế
biến; khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp; đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực,… cũng cần được thực hiện đồng bộ để việc CĐCCCT mang lại hiệu
quả cao . Các tác giả đã nghiên cứu và xây dựng một hệ thống đồng bộ các giải
pháp, phù hợp với từng vùng, từng địa phương
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu, phân tích lý
luận về chuyển đổi cơ cấu cây trồng; những đặc điểm, vai trò của cơ cấu cây
trồng và chuyển đổi cơ cấu cây trồng; khảo sát làm rõ thực trạng, những yếu tố,
Đơn vị : %
2009 2010 2011
Nông thôn 2,25 2,30 1,60
Thành thị 4,60 4,29 3,60
Cả nước 2,90 2,88 2,22
(Nguồn: Báo cáo điều tra lao động và việc làm 2011, Tổng cục Thống kê Việt Nam)
Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ và phụ thuộc nhiều
vào các yếu tố tự nhiên như thời tiết, thiên tai, nên có tính rủi ro cao và việc
làm trong nông nghiệp cũng mang tính thời vụ, điều đó có nghĩa là việc làm của
người nông dân không mang tính thường xuyên, trong năm họ luôn có những
khoảng thời gian nông nhàn. Trong những năm gần đây xu hướng chuyển dịch
việc làm từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ của đồng bằng sông Hồng
ngày càng mạnh . Cơ cấu lao động – việc làm đã mang tính phi nông cao song
loại hình nghề nghiệp còn chưa thật đa dạng, lĩnh vực nghề nghiệp chủ yếu vẫn
là kinh tế hộ gia đình, trình độ tay nghề của người lao động còn hạn chế . Các
nghiên cứu này đã chỉ ra cơ cấu việc làm của lao động nông thôn nước ta trong
những năm gần đây, tuy nhiên các tác giả mới chỉ đưa ra cơ cấu việc làm phân
theo ngành nông nghiệp – phi nông nghiệp mà chưa đề cập đến cơ cấu việc làm
phân theo các tiêu chí khác.
8
Cơ cấu việc làm của lao động nông thôn đã có sự thay đổi trong quá trình
CNH – HĐH. Theo , sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp cho công nghiệp, dịch
vụ, việc làm nông nghiệp đã giảm đi, việc làm tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
tăng. Tỷ lệ việc làm của hộ dân mất đất nông nghiệp giảm nhanh, đặc biệt là các
hộ mất nhiều đất nông nghiệp. Xu hướng chuyển đổi chủ yếu của các hộ này là
chuyển sang các ngành nghề phi nông nghiệp hoặc vừa sản xuất nông nghiệp
vừa làm thêm các nghề khác. Những hộ có điều kiện về vốn, nhà mặt đường
chuyển sang buôn bán, kinh doanh nhỏ hoặc làm dịch vụ hay phát triển các
ngành nghề thủ công và cơ khí nhỏ. Đại bộ phận lao động của những hộ nông
dân mất đất tìm kiếm thu nhập bằng những việc làm thuê hay làm phụ hồ, bán
địa bàn mà với sự phát triển mạnh mẽ nó còn tạo việc làm cho lao động trên các
địa bàn lân cận. Các tác giả đã chỉ ra rằng làng nghề là nhân tố quan trọng để tạo
việc làm phi nông nghiệp tại chỗ, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu việc làm
của lao động nông thôn theo hướng giảm việc làm trong nông nghiệp, tăng việc
làm phi nông nghiệp.
Các hoạt động phi nông nghiệp còn có sự phân chia theo giới. Số liệu điều
tra mức sống dân cư năm 2000 cho thấy, ở nông thôn tỷ lệ nam giới tham gia lao
động làm thuê cao hơn nhiều so với nữ giới (36,86% ở nam giới so với 21% ở
nữ giới). Có thể vì lý do giới nên khác với nam giới, nữ giới không thể tự do
tham gia nhiều công việc làm thuê hiện nay phổ biến ở nông thôn cũng như ra
thành phố làm các công việc tạm thời trong thời gian nông nhàn. Ngược lại với
loại hình làm thuê, tỷ lệ nữ giới tham gia hoạt động tự làm phi nông nghiệp lại
cao hơn nam giới (20% ở nữ giới so với 15% ở nam giới). Tuy nhiên với sự phát
triển của các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động trong những năm gần
đây mà trong đó chủ yếu là các lao động nữ như công nghiệp dệt may, công
10
nghiệp da giày, công nghiệp chế biến,… nơi mà tỷ lệ lao động nữ chiếm phần
lớn cũng đã tác động đến vấn đề cân bằng giới trong hoạt động phi nông
nghiệp . Ngoài cơ cấu việc làm phân theo ngành, tác giả đã chỉ ra cơ cấu việc
làm phân theo giới của lao động nông thôn tuy nhiên tác giả mới chỉ đề cập đến
cơ cấu việc làm phân theo giới trong các hoạt động phi nông nghiệp mà chưa chỉ
ra cơ cấu việc làm phân theo giới trong nông nghiệp.
Hướng nghiên cứu về giải pháp chuyển dịch cơ cấu việc làm cho lao động
nông thôn.
Để cơ cấu việc làm của lao động nông thôn thay đổi theo hướng tích cực,
hiệu quả cần đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành nghề nông
thôn theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp và dịch vụ. Trước hết cần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp theo hướng đa canh, đa đạng
hóa cây trồng, vật nuôi, hình thành nền nông nghiệp hàng hóa lớn . Các tác giả
2.1.3 Hướng nghiên cứu về ảnh hưởng của CĐCCCT tới cơ cấu việc
làm của lao động nông thôn
Khi nghiên cứu về những sự thay đổi trong nông nghiệp, một số đề tài đã
chỉ ra ảnh hưởng của những sự thay đổi đó đến đời sống, thu nhập, của người
dân. Tuy nhiên cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về ảnh hưởng của
việc CĐCCCT tới cơ cấu việc làm của lao động nông thôn.
Đề tài “Phân tích thu nhập của hộ nông dân do thay đổi hệ thống canh
tác ở đồng bằng sông Hồng” đã chỉ ra rằng thu nhập của người dân được hình
thành từ các nguồn chính là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và từ các hoạt
động phi nông nghiệp. Chuyển đổi hệ thống canh tác có ảnh hưởng trực tiếp tới
thu nhập của hộ nông dân do kết quả của sự thay đổi hệ thống canh tác không
12
chỉ làm thay đổi khối lượng hàng nông sản làm ra mà còn làm thay đổi cả cơ cấu
sản phẩm. Việc thay đổi về khối lượng và cơ cấu nông phẩm làm ra dẫn đến
thay đổi tổng sản phẩm sản xuất nông nghiệp. Hơn nữa, việc thay đổi trong bố
trí nguồn lực đầu vào của sản xuất cũng làm thay đổi chi phí sản xuất có sự khác
nhau giữa các hệ thống canh tác. Kết quả tất yếu của quá trình này dẫn đến thay
đổi thu nhập của nông hộ (Lê Thị Nghệ và cộng sự, 2006). Các tác giả đã cho
thấy sự thay đổi hệ thống canh tác là nhân tố tạo ra sự thay đổi về thu nhập của
hộ nông dân. Tuy nhiên nghiên cứu này mới chỉ ra sự thay đổi về mặt kinh tế mà
chưa xem xét sự ảnh hưởng tới việc làm, cơ cấu việc làm mà sự thay đổi hệ
thống canh tác mang lại.
2.2 Cơ sở lý luận
2.2.1 Thuyết cấu trúc – chức năng
Lịch sử của thuyết cấu trúc – chức năng gắn liền với tên tuổi của các nhà
xã hội học như: Auguste Comte, Herbert Spencer, Emile Durkheim, Vilfredo
Pareto, Robert Merton, Talcott Parsons và nhiều nhà khoa học khác. Các tác giả
của thuyết cấu trúc – chức năng đều nhấn mạnh tính liên kết chặt chẽ của các bộ
phận cấu thành nên một chỉnh thể mà mỗi bộ phận đều có chức năng nhất định
góp phần đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể đó với tư cách là một cấu trúc tương
thêm việc làm cho lao động nông thôn. Từ đó mà CĐCCCT đã làm thay đổi cơ
cấu việc làm của lao động nông thôn.
Merton cho rằng thuyết này là sự giải thích một hiện tượng xã hội bằng
cách chỉ ra hệ quả (chức năng) của nó đối với những cấu trúc mà nó là một bộ
phận cấu thành (Lê Ngọc Hùng, 2008). Vận dụng vào quá trình nghiên cứu
nhằm xem xét hệ quả mà việc CĐCCCT mang lại trong việc giảm thời gian lao
động, giảm công lao động, tạo ra nguồn lao động dôi dư trong nông nghiệp tạo
điều kiện cho lao động nông thôn có thể chuyển sang các ngành nghề công
14
nghiệp, dịch vụ. Hơn nữa, với hiệu quả về mặt kinh tế mà việc CĐCCCT sang
những loại cây có giá trị kinh tế cao mang lại còn giúp hộ gia đình có thể đầu tư
thêm cho hoạt động sản xuất, tạo thêm việc làm cho những lao động khác. Từ
những điều đó mà CĐCCCT đã góp phần làm thay đổi cơ cấu việc làm của lao
động nông thôn.
Parsons cùng với Merton từng được coi là tác giả của thyết cấu trúc –
chức năng đưa ra một lý thuyết tổng quát về các hệ thống hành động. Ông định
nghĩa “hành động” là một quá trình trong một hệ thống tác nhân – tình huống
mà hệ thống đó có ý nghĩa động cơ đối với tác nhân cá nhân hay tập thể. Parsons
chỉ ra thuộc tính cơ bản của hành động là cá nhân không những “phản ứng” đối
với một “kích thích” nhất định của tình huống mà còn phát triển một hệ thống
các “kỳ vọng” đối với các đối tượng khác nhau của một tình huống xã hội (Lê
Ngọc Hùng, 2008). Vận dụng vào quá trình nghiên cứu trong việc xem xét việc
CĐCCCT của người dân địa phương xuất phát từ những nguyên nhân như hiệu
quả về mặt kinh tế, hiệu quả trong việc giảm công lao động, hay giúp hộ gia
đình có thể tập trung vào hoạt động phi nông nghiệp. Từ những hiệu quả đó mà
việc CĐCCCT của người dân còn giúp họ có thể chuyển sang tìm kiếm việc làm
trong các ngành nghề phi nông, đảm bảo việc làm và thu nhập cho người lao
động nông thôn. Với những hiệu quả mà CĐCCCT mang lại, người dân nông
thôn có xu hướng CĐCCCT, từ đó mà CĐCCCT cũng là tác nhân làm thay đổi
cơ cấu việc làm của lao động nông thôn theo hướng tỷ trọng việc làm trong nông