DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
UBND: Uỷ ban Nhân dân
LĐTB & XH: Lao động thương binh và Xã hội
TB – LS – NCC: Thương binh – Liệt sĩ – Người có công
BHYT: Bảo hiểm y tế
QLNN: Quản lý nhà nước
PTNT: Phát triển nông thôn
TNCSHCM: Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
HĐND: Hội đồng Nhân dân.
1
LỜI NÓI ĐẦU
Việc làm là một vấn đề nhức nhối của các quốc gia đang phát triển, ngay ở
các nước phát triển, những nước công nghiệp hóa – hiện đại hóa thì việc làm vẫn
còn là vấn đề bức xúc cần được quan tâm.
Hiện nay giải quyết việc làm cho người lao động càng có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, thực hiện vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đảng và nhà nước ta đã đặt vấn đề giải quyết việc làm vào tầm quan điểm và
nhiệm vụ trọng tâm của Đảng, toàn dân. Đây là công tác quan trọng trong giai
đoạn cách mạng mới, trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể thiếu đối với
từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong các hoạt
động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, nó chi phối toàn bộ
mọi hoạt động của cá nhân và xã hội. Vì vậy, để đáp ứng được nhu cầu việc làm
của tòa xã hội, đòi hỏi Nhà nước phải có những chiến lược, kế hoạch cụ thể đáp
ứng được nhu cầu này.
Qua một tháng kiến tập tại Phòng Lao động thương binh và xã hội Huyện
Chiêm Hóa em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cán bộ công tác tại Phòng
động thương binh và Xã hội trên địa bàn Huyện Chiêm Hóa là một trong những
yêu cầu cần thiết, phù hợp với quy luật khách quan.
Vấn đề lao động việc làm luôn được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
trong các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Giải quyết
việc làm là chính sách xã hội cơ bản của đất nước nhằm mục tiêu phát triển bền
vững vì con người.
Trong những năm qua cùng với chương trình phát triển kinh tế, xã hội của
huyện, Chiêm Hoá đã có nhiều giải pháp nhằm giải quyết lao động việc làm song
có thể thấy giải quyết lao động việc làm ở huyện đã và đang trở thành một vấn đề
bức xúc, thu hút sự chú ý và quan tâm của các cấp, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội
cũng như mỗi gia đình và bản thân người lao động.
Để thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần
thứ XV, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Chiêm Hoá lần thứ XX về lao động
việc làm. Xây dựng Chương trình giải quyết lao động việc làm của huyện rất cần
thiết. Chương trình phải chỉ rõ những nguyên nhân cơ bản của tình trạng thiếu việc
làm và không có việc làm, đề ra những giải pháp thích hợp nhằm giải quyết việc
làm cho lao động, phát huy nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội
của huyện.
Xuất phát từ những lý do trên, em đã lựa chọn đề tài: “Tình hình và hiệu quả
giải quyết việc làm cho lao động nông thôn huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên
Quang giai đoạn 2010 – 2015” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về giải quyết lao động - việc làm cho
lao động nông thôn.
Nghiên cứu thực trạng giải quyết lao động - việc làm cho lao động nông thôn
tại phòng LĐTB & XH trên địa bàn huyện Chiêm Hóa.
Đề xuất giải pháp nhằm giải quyết lao động - việc làm cho lao động nông thôn
huyện Chiêm Hóa một cách hiệu quả.
3
có 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về tình hình giải quyết lao động – việc làm cho lao động
nông thôn
Chương 2: Thực trạng giải quyết lao động – việc làm cho lao động nông thôn tại
phòng LĐTB & XH, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị về giải quyết lao động – việc làm cho lao
động nông thôn trong thời gian tới.
4
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT LAO ĐỘNG - VIỆC
LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN .
1.1 Khái quát chung về phòng Lao động thương binh & xã hội – UBND huyện
Chiêm Hóa, Tỉnh Tuyên Quang.
1.1.1 Khái quát chung:
Tên cơ quan kiến tập: Phòng Lao động thương binh và Xã hội, UBND
huyện chiêm hóa, tỉnh Tuyên Quang.
Địa chỉ: Tổ Luộc 1, Thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Chiêm Hóa, Tỉnh Tuyên
Quang
Số điện thoại: 027. 3851.149
Email: [email protected]
Trụ sở Phòng Lao động TB&XH Chiêm Hóa được xây dựng ngay ven đường tỉnh
lộ, có diện tích 200m2; nhà xây 3 tầng, chữ L. Phòng làm việc ở tầng 1 và 2 gồm 8
phòng riêng biệt; phòng Nội vụ huyện làm việc ở tầng 3.
Phòng có 01 hội trường để phục vụ các cuộc họp cơ quan, trao đổi nghiệp vụ
với các xã, thị trấn về công tác LĐTB&XH…02 phòng dành cho lãnh đạo phòng,
01 phòng tiếp dân + văn thư; 01 phòng dành cho bộ phận kế toán; 02 phòng nghiệp
vụ chính sách người có công và lao động việc làm; 01 phòng kho dùng để lưu trữ
thì phải nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho người lao động.
Những đặc điểm kinh tế xã hội trên đã ảnh hưởng và chi phối khá lớn đến
việc làm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động của huyện trong những
năm qua và các năm tiếp theo.
1.1.3 Sơ lược hình thành và phát triển của Phòng Lao động Thương binh
Và Xã hội huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Chiêm Hóa được hình thành
và phát triển ngay từ những năm đầu của thập kỷ 60. Phòng Lao động – Thương
Binh và Xã hội huyện Chiêm Hóa đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển; tuy có nhiều
sự thay đổi về cơ cấu tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tên gọi;
có thể khái quát như sau:
- Giai đoạn từ năm 1960 – 1979, có tên gọi là Phòng Lao động Thương binh
và Xã hội.
- Giai đoạn từ năm 1980 – 1991 có tên là Ban Tổ chức- Lao động Thương
binh và Xã hội.
- Giai đoạn từ năm 1992 – 01/ 2006 có tên gọi là Phòng Lao Động Thương
Binh và Xã hội.
- Giai đoạn từ tháng 02/ 2006 – 05/2008 có tên là Phòng Nội vụ - Lao động
Thương binh và Xã hội.
- Giai đoạn từ tháng 06/2008 đến nay, có tên gọi là Phòng Lao động Thương
binh và Xã hội.
1.1.4 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và hệ thống tổ chức bộ máy:
• Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn.
Phòng LĐTB & XH huyện Chiêm Hóa là cơ quan chuyên môn thuộc UBND
huyện; có chức năng tham mưu giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý
6
nhà nước về lĩnh vực lao động, người có công với xã hội; thực hiện một số nhiệm
vụ và quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND huyện và theo quyết định của pháp
có hoàn cảnh đặc biệt. Trong suốt 5 năm gần đây, phòng luôn được đánh giá là đơn
vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ:
- Về độ tuổi: Có 22% cán bộ có độ tuổi từ 50 tuổi trở lên: độ tuổi từ 25 – 40
7
chiếm 66%, ở lứa tuổi này con người ít nhiều đã có những trải nghiệm trong công
tác chuyên môn và có nhiệt huyết cống hiến cho sự nghiệp của ngành Lao động –
TB&XH; trong đó phải kể đến đội ngũ cán bộ lãnh đạo có sự tín.
• Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy của Phòng
Trưởng phòng
( Quản lý chung)
Phó
01 chuyên
01 chuyên
01 chuyên
trưởng
viên phụ
viên phụ
viên phụ
phòng
phòng
chống tệ
nạn ma
01
chuyên
viên
phụ
trách
công
tác
Bình
đẳng
giới,
cấp thẻ
BHYT
NCC
01 chuyên
01 kế toán
viên phụ
viên phụ
trách công
trách bộ
• Triển khai các hoạt động ngày Quốc tế lao động (01/5)
• Tham mưu cho UBND huyện xây dựng chương trình lao động việc làm giai
đoạn 2016 – 2020.
• Rà soát thực trạng cung cầu nông thôn năm 2015
• Tham mưu cho UBND huyện ban hành kế hoạch và giao chỉ tiêu đào tạo
nghề cho lao động nông thôn năm 2014 ( dự kiến mở 13 lớp với 520 học
viên )
Phối hợp với trung tâm Dạy nghề huyện, Phòng Nông nghiệp và PTNT
huyện, UBND các xã, thị trấn tổ chức thực hiện, hoàn thành kế hoạch mở
các lớp đào tạo nghề cho lao động năm 2015 theo Quyết định số 1956/QĐTTg của Thủ tướng Chính phủ theo kế hoạch giao của UBND tỉnh.
1.1.6 Khái quát các hoạt động của công tác Quản trị nhân lực tại phòng
LĐTB & XH huyện Chiêm Hóa, Tuyên quang:
• Công tác hoạch định nhân lực
Phòng LĐTB & XH có các chủ chương, kế hoạch để xây dựng nguồn nhân
lực trong phạm vi phòng và tham mưu cho UBND thực hiện công tác hoạch
định nguồn nhân lực, chủ chốt. Bắt đầu từ công tác giải quyết lao động cho
các xã đến người lao động trên địa bàn toàn huyện.
Việc hoạch định nhân lực gúp cho Phòng sử dụng đúng, đủ nguồn nhân lực,
tránh tình trạng dư thừa lao động. Hoạch định nhân lực tại phòng LĐTB &
XH bao gồm: dự đoán cầu và cung lao động và sau đó lên các chương trình
cần thiết để đảm đúng số nhân viên với đúng các kỹ năng vào đúng nơi và
đúng lúc.
Bước đầu tiên trong quá trình hoạch định là thu thập thông tin từ môi
trường bên ngoài và bên trong tổ chức. Đó là dự báo về kinh tế và các ngành
kinh tế liên quan. Xem xét thị trường lao động trên toàn huyện, so sánh tỉ lệ
thất nghiệp qua các năm. Dự báo số lao động đủ tuổi, trình độ và tình hình
sức khỏe để sắp xếp, bố trí và đưa ra các chính sách phát triển lực lượng lao
động trên toàn huyện.
- Những người có năng lực, được đào tạo, phụ trách các vấn đề về nhân lực
trong cơ quan, đồng thời giành thời gian nghiên cứu, phân loại những người
xin việc. Tổ chức các cuộc phỏng vấn một cách có bài bản, kỹ lưỡng. Kiểm
tra và đánh giá năng lực của từng người một cách nghiêm túc và khoa học.
- Nhân viên, chia thành 2 nhóm: những người hướng tới mục tiêu và ngững
người nhác việc, không có quyết tâm.
Nhận biết rõ ràng động lực cá nhân của từng nhân viên để từ đó bố trí,
sắp xếp nhân lực đúng người, đúng việc. Đạt hiệu quả năng suất chất lượng cao
trong công việc.
• Công tác đào tạo và phát triển nhân lực
Xác định rõ nhu cầu đào tạo tại phòng, dựa vào sự thay đổi của thị
trường, thay đổi quy trình công nghệ. Xác định các bộ phận nào cần được
10
đào tạo, mục tiêu đào tạo tại cơ quan. Để từ đó người lao động nắm rõ
được lý thuyết và tiếp thu được những kỹ năng nghề, giúp người lao
động được hiểu biết về nội quy làm việc, an toàn vệ sinh lao động vì thế
ý thức lao động kỷ luật cũng được nâng lên.
• Công tác đánh giá thực hiện kết quả công việc
Công tác đánh giá thực hiện công việc cũng được Trưởng phòng LĐTB & XH
xem xét đánh giá một cách có hệ thống, công khai kết quả thực hiện công việc so
với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra trước đó. Với việc lắng nghe, giải quyết các thông
tin phản hồi giữa người lao động như : tình hình thực hiện công việc. Qua đó giúp
họ biết được khả năng của mình, những thiếu sót trong quá trình làm việc để rút
kinh nghiệm vag cải thiện sự thực hiện trong công việc; các bộ phận quản lý: Năm
được tình hình quản lý của nhân viên. Từ đó có thể đưa ra những quyết định nhân
sự đúng đắn như đào tạo và phát triển, thù lao, thăng tiến,… một cách tích cực,
hiệu quả.
Công tác đánh giá thực hiện công việc là nhiệm vụ chủ chốt của Trưởng phòng.
• Công tác giải quyết các quan hệ lao động
Giải quyết các quan hệ lao động được thực hiện chặt chẽ giữa những quan hệ về
lợi ích vật chất, an toàn lao động, bảo vệ sức khỏe, chuyên môn nghề nghiệp , thời
gian làm việc, chất lượng công việc,…
Việc giải quyết các chế độ lương thưởng, hưu trí hợp lý với các nhân viên trong cơ
quan; chế độ nghỉ ngơi, đảm bảo vệ sinh an toàn lao động cũng không ngừng được
nâng cao. Qua đó các nhân viên và Nhà quản lý trong cơ quan có sự đồng nhất và
phối hợp chặt chẽ với nhau để hoàn thành tốt công việc được giao.
1.2 Cơ sở lý luận:
1.2.1 Các khái niệm
• Lao động là hoạt động có mục đích, có ích cho con người tác động lên giới
tự nhiên, xã hội nhằm mang lại của cải vật chất cho bản thân và cho xã hội
• Việc làm là phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế - xã hội và nhân
khẩu, nó thuộc những vấn chủ yếu của toàn bộ đời sống xã hội.
- Việc làm là những hoạt động có ích cho bản thân, gia đình và xã hội, tạo ra
thu nhập và không bị pháp luật ngăn cấm.
Tại điều 13 của bộ Luật Lao Động nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam quy định rõ:
“Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều
được thừa nhận là việc làm”.
Các hoạt động lao động được xác định là việc làm bao gồm:
+ Làm các công việc được trả công dưới dạng tiền hoặc hiện vật
+ Những công việc tự làm để tạo ra thu nhập cho bản thân và gia đình mình
nhưng không được trả công bằng tiền hoặc hiện vật cho những công việc đó.
• Tạo việc làm là sự kết hợp khả năng của người lao động với tư liệu phương
tiện sản xuất – dịch vụ
12
Hay nói cách khác, tạo việc làm: Thực chất của việc làm là trạng thái phù hợp
phi nông nghiệp.
• Việc làm cho lao động là những hoạt động lao động trong tất cả các lĩnh vực
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội của một bộ phận lực
lượng lao động để mang lại thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm. Gồm
có việc làm thuần nông và việc làm phi nông nghiệp.
13
• Giải quyết việc làm là tổng thể những biện pháp, chính sách kinh tế xã hội
của nhà nước, cộng đồng và bản thân người lao động tác động đến mọi mặt
của đời sống xã hội tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo cho mọi người có
khả năng lao động có việc làm.
Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ
hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà Nước, của các doanh nghiệp và toàn xã
hội.
1.2.2 Các học thuyết kinh tế về giải quyết lao động – việc làm
• Mô hình của kinh tế chính trị học tiểu tư sản
Sismondi là đại diện tiêu biểu của kinh tế chính trị học tiểu tư sản. Đóng góp quan
trọng của ông là phân tích khủng hoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản. Ông cho rằng
trong chủ nghĩa tư bản tất yếu có khủng hoảng kinh tế, nguyên nhân của khủng
hoảng kinh tế là do sản xuất vượt quá so với tiêu dùng.
- Giai cấp tư sản luôn muốn đạt lợi nhuận tối đa nên cũng tiết kiệm tiêu dùng và
tăng mạnh đầu tư nhằm mở rộng sản xuất do đó sản xuất phát triển nhanh chóng.
- Giai cấp vô sản thì bị bần cùng hoá, tiền lương thấp nên không thể tăng tiêu dùng
được.
- Giai cấp tiểu tư sản thì đang bị sản xuất lớn chèn ép dẫn tới phá sản và phân hoá
nên tiêu dùng cũng hạn chế.
Do đó, sản xuất vượt xa so với tiêu dùng dẫn tới khủng hoảng thừa.
Để khắc phục khủng hoảng, ông cho rằng trước mắt cần tăng tiêu dùng và có thể
động cũng đi lên giống như đường cung của các hàng hoá và dịch vụ khác. Do đó
điểm cắt nhau giữa đường cung và đường cầu lao động là điểm cân bằng của thị
trường. Tại điểm đó không có thất nghiệp không tự nguyện. Nói cách khác, trong
thị trường cạnh tranh hoàn hảo, giá cả và tiền lương là hết sức linh hoạt thì không
có thất nghiệp, thị trường luôn đạt mức toàn dụng nhân công
Mô hình này cũng có những hạn chế:
Một là, trong thực tế không có một nền kinh tế nào mà thị trường hoàn toàn là cạnh
tranh hoàn hảo. Giá cả và tiền lương cũng không thể có khả năng tự điều chỉnh một
cách hết sức linh hoạt như giả định của mô hình.
Hai là, ảnh hưởng của chính sách tiền lương của nhà nước do vậy, tiền lương
không thể hạ thấp để tuyển thêm công nhân.
Với những lý do trên nên mô hình này ít có ý nghĩa thực tiễn đối với các nước
đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng.
• Mô hình của trường phái Keynes.
Ngược lại với trường phái Cổ điển cho rằng giá cả và tiền lương là hết sức linh
hoạt trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, John Maynard Keynes có giả định hoàn
toàn ngược lại rằng trong ngắn hạn, giá cả và tiền lương là cứng nhắc. Do đó, ông
cho rằng để phát triển kinh tế thì phải làm sao đẩy được tổng cầu tiến đến sản
lượng tiềm năng. Như vậy, việc xác định sản lượng quốc dân là dựa trên cơ sở mức
15
tổng cầu về tất cả các loại hàng hoá và dịch vụ mà một nền kinh tế có khả năng sản
xuất trong điều kiện cụ thể về các nguồn lực và công nghệ. Theo Keynes, mức sản
lượng được xác định bởi tổng cầu gồm tiêu dùng, đầu tư và chi tiêu của chính phủ:
Q = C + I + G (1)
Trong đó:
Q là mức sản lượng, C là tiêu dùng, I là đầu tư, G là chi tiêu của chính phủ.
Nếu tính cả xuất nhập khẩu và thuế thì phương trình (1) sẽ là:
Q = C + I + (G - T ) + ( X - M )(2)
1.2.3 Đặc điểm, ý nghĩa giải quyết lao động – việc làm cho lao động nông thôn
• Đặc điểm việc làm của lao động nông thôn
- Các hoạt động sản xuất thường bắt nguồn từ kinh tế hộ gia đình. Nên việc chú
trọng thúc đẩy phát triển các hoạt động kinh tế khác nhau của kinh tế hộ gia đình là
một trong những biện pháp tạo việc làm có hiệu quả
- Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sử dụng nhiều lao động
cũng là biện pháp tạo thêm nhiều việc làm ngay trong sản xuất nông nghiệp.
- Hoạt động dịch vụ là khu vực thu hút đáng kể lao động và tạo ra thu nhập cao cho
lao động.
-Ở nông thôn các hoạt động sản xuất nông nghiệp, phi nông nghiệp (công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ) thường bắt nguồn từ kinh tế hộ gia đình. Các
thành viên trong hộ gia đình có thể tự chuyển đổi, thay thế để thực hiện công viêc
của nhau. Vì thế mà việc chú trọng thúc đẩy phát triển các hoạt động kinh tế khác
nhau của kinh tế hộ gia đình là một trong những biện pháp tạo việc làm hiệu quả.
- Khả năng thu hút lao động trong các hoạt động trồng chọt, chăn nuôi với các cây
trồng vật nuôi khac nhau sẽ khác nhau, đồng thời kéo theo thu nhập lúc đó cũng có
sự khác nhau rõ rệt, vì thế mà việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo
hướng thu hút nhiều lao động cũng là biện pháp tạo thêm việc làm ngay bên trong
sản
xuất
nông
nghiệp.
- Sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn là một hoạt động phi nông nghiệp với
một số nghề thủ công mỹ nghệ được lưu truyền từ đời này sang đời khác trong
từng hộ gia đình, dòng họ, làng, xã dần dần hình thành những làng nghề truyền
thống
tạo
ra
những
sản
việc tăng thêm thu nhập cho gia đình. Thực chất đây cũng là việc làm có khả năng
tạo
thu
nhập
và
lợi
ích
đáng
kể
cho người
lao
động.
17
Tóm lại, sản xuất nông nghiệp là lình vực tạo việc làm truyền thống và thu hút
nhiều lao động của nông dân tại các vùng nông thôn, nhưng diện tích đất đai canh
tác giảm đã hạn chế khả năng giải quyết việc làm tỏng nông thôn. Hiện nay, những
việc làm tỏng nông thôn chủ yếu là những công việc đơn giản, thủ công, ít đòi hỏi
tay nghề cao với tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai và công cụ cầm tay, dễ dàng sử
dụng, học hỏi và chia sẻ. Vì thế mà khả năng thu hút lao
động cao, tuy nhiều sản phẩm được làm ra với chất lượng thấp, mẫu mã không mát
mắt người tiêu dùng, năng suất lao động thấp từ đó đã làm cho thu nhập bình quân
của lao động tại các vùng nông thôn thấp, dẫn đến tỷ lệ đói nghèo cao so với khu
vực thành thị.
• Ý nghĩa giải quyết lao động – vệc làm cho lao động nông thôn
- Việc làm là nhu cầu của tất cả mọi người lao động nhằm đem lại thu nhập cho
bản thân và gia đình họ một cách hợp lý, tạo một nguồn thu nhập chính đáng, để
trang trải cho hoạt động đời sống của bản thân, thỏa mãn nhu cầu của gia đình và
tiết kiệm hoặc đem tích lũy.
- Hướng nghiệp, đào tạo nghề và giới thiệu việc làm cho lao động nông thôn
Tiêu chí đánh giá: Số lao động được tư vấn hướng nghiệp; Số lao động đào tạo
nghề, cơ cấu ngành nghề đào tạo; Số lao động được giới thiệu việc làm; Số lao
động có việc làm thông qua đào tạo nghề; Số lao động có việc làm thông qua giới
thiệu việc làm.
- Giải quyết việc làm thông qua chính sách tín dụng nông thôn
Tiêu chí đánh giá: Nguồn vốn tín dụng giải quyết việc làm; Số lao động được vay
vốn; Số lao động được giải quyết việc làm thông qua vay vốn.
- Phát triển sản xuất, thu hút lao động nông thôn
Tiêu chí đánh giá: số ngành nghề mới; Số cơ sở sản xuất tăng thêm; Số lao động
được giải quyết việc làm từ các cơ sở mới.
- Xuất khẩu lao động
Tiêu chí đánh giá: số cơ sở môi giới xuất khẩu lao động; số lao động được giải
quyết việc làm qua xuất khẩu.
1.2.5 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động của một số địa phương
- Duy trì sản xuất nông nghiệp
- Cần tập trung đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho người dân
- Đẩy mạnh việc thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước để chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, phát triển kinh tế, tạo nhiều việc làm cho
nhiều người dân.
- Sử dụng và quản lý tốt nguồn vốn hỗ trợ việc làm cho người lao động.
Chương 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM CHO
LAO ĐỘNG NÔNG THÔN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG
2.1 Khái quát chung
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
19
Chiêm Hoá là một huyện vùng cao của tỉnh Tuyên Quang, mang đậm nét đặc thù của
Sơn. Chiêm Hoá có nhiều dãy núi cao như: Khau Bươn, núi quạt Phia Gioòng,
Chạm Chu… giữa các vùng đồi núi là những thung lũng, đất đai màu mỡ. Sông
suối có độ dốc cao, độ cao phổ biến từ 200 – 600 m và giảm dần xuống phía Nam,
20
độ dốc trung bình 250.
Sản xuật nông – lâm nghiệp tiếp tục phát triển, tích cực úng dụng các tiến bộ
kỹ thuật trong sản xuất; triển khai thực hiện chính sách khuyến khích phát triển
kinh tế nông nghiệp nông thôn; bước đầu đã hình thành một số vùng sản xuất
tập trung chuyên canh.
Cơ sở chế biến dịch vụ, cơ khí gia công phát triển khá nhanh và mạnh
với 120 cơ sở, tập trung ở khu vực kinh tế nông thôn. Dịch vụ trong những
năm gần đây đang từng bước được phát triển không còn chỉ tập trung ở thị trấn
Vĩnh Lộc mà đã tiếp cận đến các thôn bản trong toàn huyện.
Hệ thống đường giao thông được quan tâm, đầu tư, nâng cấp và cải tạo.
Đến nay 100% các xã, thị trấn đều có hệ thống đường giao thông thuận tiện
cho xe ô tô vào đến các xã, phục vụ đáp úng được nhu cầu giao lưu, vận
chuyển hàng hóa của bà con các dân tộc. Hệ thống đường liên thôn, liên bản
ngày càng được mở rộng và thuận lợi hơn.
Đến năm 2010, 100% các xã, thị trấn đều được phủ sóng điện thoại, thuận tiện
cho công tác thông tin liên lạc từ huyện đến xã và ngược lại.
Trên địa bàn huyện vẫn tiếp tục giữ gìn và phát huy nền các lễ hội truyền thống
như: hội lồng tông , hội ném còn…Bên cạnh đó, bà con các dân tộc anh em còn lưu
giữ được những câu hát, điệu múa, tiếng nói, phong tục tập quán của dân tộc mình
như: hát then của người Tày, múa khèn của người H mông…
Trình độ dân trí của người dân trong huyện cũng được nâng lên rõ rệt. Tỷ lệ
người không biết chữ trong huyện chiếm tỷ lệ 0,2% so với tổng dân số. Bà con trong
huyện không còn giữ những hủ tục lạc hậu, nhận thức được nâng lên thông qua việc
tiếp cận với các phương tiện thông tin đại chúng, sách báo, qua sự tuyên truyền của
Chiêm Hoá có 27 xã gồm: Bình An, Thổ Bình, Hồng Quang, Minh Quang, Phúc
Sơn, Trung Hà, Tân Mỹ, Hà Lang, Tân An, Hùng Mỹ, Phúc Thịnh, Hoà Phú, Tân
Thịnh, Hoà An, Trung Hoà, Yên Nguyên, Nhân Lý, Yên Lập, Bình Phú, Phú Bình,
Ngọc Hội, Kim Bình, Kiên Đài, Tri Phú, Linh Phú, Vinh Quang và Bình Nhân.
Chiêm Hoá là địa bàn sinh sống của 22 dân tộc như: Kinh, Tày, Nùng, Dao,
Thuỷ...
Chiêm Hoá nổi tiếng với lễ hội Lồng tồng của bà con dân tộc Tày tại thị trấn Vĩnh
Lộc vào ngày mùng 8 tháng Giêng hàng năm. Lễ hội gồm: rước các mâm tồng,
cúng tế tạ ơn, cầu mưa, cày ruộng, phát lộc tồng, múa xuống đồng…
Sau khi làm lễ, mọi người tham gia trò hội tung còn. Đây là trò chơi nhưng cũng là
nghi thức không thể thiếu trong lễ hội Lồng tồng Chiêm Hoá. Trên cây còn treo 3
vòng nhật nguyệt, tượng trưng cho Thiên - Địa – Nhân (trời, đất và người).
Theo quan niệm của bà con dân tộc Tày, còn phải được ném thủng và nếu thủng
trước 12 giờ trưa thì năm đó mưa thuận, gió hoà, mùa màng bội thu.
Ngoài trò chơi tung còn, trong lễ hội Lồng tồng còn có các trò vui khác như: thi
khâu còn đẹp, thi kéo co, đi cà kheo, leo cột, bắn nỏ, thi hát Shi, hát lượn, hát then,
cọi, páo dung, khèn, sáo; thi nấu ăn…
Với số dân chỉ hơn 100 người, dân tộc Thuỷ là dân tộc thiểu số ít người nhất
ở Tuyên Quang. Người Thuỷ trước đây chỉ biết trồng sắn, ngô, sau này biết làm
22
lúa nước, người Thuỷ làm nhà theo kiểu người Dao, vật dụng gia đình tương tự
như người Pà Thẻn và trang phục giống người Kinh.
Tiềm năng du lịch
Chiêm Hoá có nhiều thắng cảnh đẹp, là điều kiện thuận lợi phát triển các loại hình
du lịch sinh thái, du lịch lịch sử văn hoá như: Rừng nguyên sinh Cham Chu;
thác Bản Ba, xã Trung Hà; hang Thẳm Hốc, Thẳm Vài, Bó Ngoặng, thác Lung
Chiêng, xã Phúc Sơn; hang Núi Chùa, hang Mỏ Bài, động Bản Pài xã Minh
Quang; thác Lụa xã Hà Lang; rừng sinh thái trên núi đá Tầng, Biến xã Phúc Sơn;
huyện có 16 dân tộc. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân là 13,15%/năm (giai
đoạn 2006 – 2010).
Dân số tăng nhanh ( tăng 1,1%), lực lượng lao động bổ sung hàng năm, chủ
yếu là tham gia vào sản xuất nông, lâm nghiệp, năng suất lao động còn thấp. Với
sự nỗ lực của huyện trong những năm qua cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch đúng
hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, các ngành dịch vụ và giảm dần tỷ trọng
nông, lâm nghiệp, thủy sản. Tỷ trọng công nghiệp, xây dựng chiếm: 30,0%; các
ngành dịch vụ chiếm 29,5%; nông, lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm 40,5%. Theo số
liệu điều tra cơ sở dữ liệu thị trường lao động năm 2010 cơ cấu lao động trong
ngành nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 63,96%; ngành công nghiệp, xây dựng chiếm
16,30%; ngành thương mại, dịch vụ chiếm 20,20%; tỷ lệ lao động không có việc
làm ở khu vực thành thị chiếm 3,28%, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực
nông thôn chiếm 84,5%; tỷ lệ lao động qua đào tạo là 20,2%, trong đó qua đào tạo
nghề 12,35 %.
Kết quả điều tra lao động -việc làm thời điểm tháng 7/2010 như sau:
STT
1
2
Đơn vị Số
tính
người
Tổng số lao động tham gia hoạt Người 66.730
động kinh tế
Số lao động qua đào tạo
Người 10.071
Tỷ lệ
%
15,09
những chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế để
vượt qua khó khăn, hoàn thành và vượt kế hoạch chỉ tiêu kinh tế - xã hội của địa
phương, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Thông qua đó xác định được những
hình thức đào tạo phù hợp với người dân lao động trên địa bàn huyện.
Tạo điều kiện và tiền đề để đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền
kinh tế của địa phương trong những năm tới.
Sản xuất nông nghiệp đã có bước phát triển đáng kể trong sử dụng những giống
mới, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và từng bước đi vào sản xuất nông
nghiệp kỹ thuật cao, tạo ra sản phẩm có chất lượng, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và
tiêu dùng trong nước. Công nghiệp có bước chuyển biến tích cực, một số loại sản
phẩm công nghiệp đạt tiêu chuẩn chất lượng, có khả năng cạnh tranh trên thị
trường. Kết cấu hạ tần được đầu tư xây dựng từng bước hoàn thiện, đáp ứng được
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn thu ngân sách ngày càng tăng, bước đầu
có tích lũy để đầu tư phát triển. Lĩnh vực văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ quan
trọng. Quốc phòng an ninh được đảm bảo; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an
toàn xã hội. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện rõ
rệt, giảm nhanh tỉ lệ hộ nghèo, bộ mặt kinh tế - xã hội trong trong thôn và vùng
sâu, vùng đồng bào dân tộc có sự khởi sắc rõ nét.
2.2.2 Thực trạng về việc làm của lao động nông thôn Chiêm Hóa
Cơ hội việc làm cho lao động nông thôn huyện Chiêm Hóa còn thấp so với tiềm
lực của Huyện và nhu cầu của lao động trên địa bàn Huyện. Nguồn lao động của
huyện tương đối dồi dào, tăng đều qua các năm. Đến năm 2010 nguồn lao động
huyện đạt 65.605 người và lực lượng lao động lên tới 61.029 người. Bình quân mỗi
năm Huyện mới chỉ giải việc làm cho khoảng hơn 2000 lao động. - Cơ cấu lao
động có sự chuyển dịch rõ nét theo hướng công nghiệp – dịch vụ để phù hợp với
xu thế phát triển kinh tế. Tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm từ 64,7% xuống còn
50,35% giảm 14,35%, tỷ trọng lao động công nghiệp tăng từ 15,67% lên 21,22%
tăng 5,55%, dịch vụ tăng từ 19,63% lên 28,43% tăng 8,8%. Tuy nhiên nông nghiệp
vẫn đang là khu vực có sự thu hút khá nhiều lao động tham gia (30.126 người,