LỜI CẢM ƠN
Với nội dung đề tài nghiên cứu: “ Tăng cường huy động vốn tại công ty
Cổ phần Sản xuất và Thương mại Phúc Tiến”, trong bối cảnh từ năm 2009
đến tháng 6 năm 2012, khi nền kinh tế gặp không ít khó khăn đặc biệt là các
doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với nhiều sóng gió trong quá trình khôi
phục và phát triển kinh tế. Theo hướng tiếp cận của đề tài, tác giả đã có thời
gian dài nghiên cứu và trang bị thêm nhiều kiến thức về cách viết, cách nhìn
nhận, đánh giá và giải quyết những vấn đề trong thực trạng huy động vốn của
Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại Phúc Tiến.
Để có được những kết quả này, tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy
cô của Viện Ngân Hàng – Tài chính đã giúp tôi có kiến thức vững vàng về
Ngân hàng tài chính cũng như những đóng góp quý báu trong thời gian xây
dựng và hoàn thành luận văn. Tác giả xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn
tận tình với những kiến thức chuyên sâu, định hướng và lập luận sâu sắc của
TS.Đoàn Phương Thảo, đã giúp tôi lĩnh hội, tiếp thu kiến thức và phương
pháp cần thiết trong quá trình nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ công nhân
viên Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại Phúc Tiến đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.
Và cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể những người thân: gia
đình, bạn bè, các đồng nghiệp, đã luôn động viên, khích lệ và tạo mọi điều
kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài này cũng như trong suốt
quá trình học tập.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2012
Học viên
Nguyễn Thị Thuỷ
MỤC LỤC
2
DANH MỤC BẢNG
vốn với chi phí rất cao và không hiệu quả. Vì vậy, không ít các doanh nghiệp
Việt Nam đã phá sản và các doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản ngày
càng gia tăng đáng kể. Trong quãng thời gian này, hơn bao giờ hết, các doanh
nghiệp Việt Nam hiểu được tầm quan trọng của vốn và khó khăn trong việc
huy động vốn và thấy được rằng tăng cường huy động vốn là việc làm thiết
yếu đối với các doanh nghiệp để duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh
doanh, góp phần ổn định lại nền kinh tế nước nhà. Vậy làm thế nào để huy
động vốn hiệu quả, đảm bảo được cả về quy mô, cơ cấu cũng như chi phí huy
động hợp lý? Đó là câu hỏi cấp bách đặt ra cho các nhà kinh tế, các nhà lãnh
đạo doanh nghiệp hiện nay.
Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại Phúc Tiến là doanh nghiệp
nhập khẩu và phân phối chuyên nghiệp các sản phẩm thép. Trong quá trình
hoạt động kinh doanh, cũng như các doanh nghiệp khác, nhu cầu vốn ngày
càng trở nên cấp thiết cho việc mở rộng và phát triển không ngừng của doanh
nghiệp. Tuy nhiên, việc huy động vốn luôn gặp nhiều khó khăn, doanh
nghiệp không huy động vốn kịp thời, hay việc huy động vốn không hiệu quả
4
dẫn đến hoạt động kinh doanh chậm trễ và tốn kém nhiều chi phí, gây nhiều
tổn thất cho doanh nghiệp.
Hơn nữa, với đặc thù kinh doanh của doanh nghiệp nhập khẩu, sự
chênh lệch về thời gian giữa các khoản phải trả cho việc nhập khẩu và các
khoản thu về đòi hỏi doanh nghiệp luôn phải có nguồn vốn để đáp ứng kịp thời
cho khoảng chênh lệch thời gian này, nhằm thúc đẩy quá trình hoạt động kinh
doanh liên tục và hiệu quả. Cho đến thời điểm này, doanh nghiệp đã thực hiện
một số biện pháp huy động vốn nhưng vẫn chưa đáp ứng được cho nhu cầu
hoạt động kinh doanh, chi phí huy động vốn cao, không hiệu quả, gây gián
đoạn cho quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, việc
nghiên cứu và tìm ra các giải pháp mới nhằm đẩy mạnh huy động vốn tại
doanh nghiệp là việc làm cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Do đó
đề tài: “ Tăng cường huy động vốn tại Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương
mại Phúc Tiến. Vận dụng các kiến thức về tài chính thông qua phân tích xử lý
tính toán các chỉ tiêu về tài chính đánh giá hoạt động huy động vốn để đánh
giá hiệu quả huy động vốn. Nguồn dữ liệu sơ cấp: trao đổi phỏng vấn với các
cán bộ phụ trách tài chính công ty để xác định chiến lược kinh doanh của
doanh nghiệp, từ đó xác định nhu cầu vốn và các giải pháp huy động khả thi,
hiệu quả. Đồng thời thăm dò ý kiến, tư vấn của các chuyên gia tài chính có
kinh nghiệm ở các doanh nghiệp khác.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm các chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về huy động vốn của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại Công ty Cổ phần Sản xuất và
Thương mại Phúc Tiến.
6
Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Công ty Cổ phần
Sản xuất và Thương mại Phúc Tiến.
6. Ý nghĩa khoa học
Trên phương diện lý luận: Luận văn đưa ra cơ sở lý luận về hoạt động
huy động vốn trong các doanh nghiệp.
Trên phương diện thực tiễn: Luận văn làm rõ thực trạng huy động vốn
tại Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại Phúc Tiến, những kết quả đạt
được cũng như những hạn chế cần khắc phục, xác định cơ cấu vốn hợp lý với
đặc thù công ty. Từ đó đưa ra một số giải pháp để tăng cường hoạt động huy
động vốn cho phù hợp và đạt hiệu quả cao, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty, thúc đẩy hoạt động huy động vốn
trong nền kinh tế nói chung và Công ty Cổ phần Sản xuất và Thương mại
Phúc Tiến nói riêng.
7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA
DOANH NGHIỆP
1.1. Khái quát về vốn và huy động vốn của doanh nghiệp
Vốn tài chính là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, đất đai không được coi là vốn.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là toàn bộ giá trị ứng ra ban
đầu và các quá trình sản xuất tiếp theo, tức là không tham gia vào một quá
trình sản xuất riêng biệt mà trong suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ
lúc mới hình thành đến lúc kết thúc.
Tóm lại, có thể hiểu vốn là toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu và các quá
trình sản xuất kinh doanh tiếp theo của doanh nghiệp nhằm đem lại giá trị
thặng dư.
Huy động vốn là một trong những nội dung quan trọng trong hoạt động
tài chính của doanh nghiệp. Huy động vốn của doanh nghiệp là hoạt động thu
hút các nguồn vốn từ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp thông qua một số
kênh huy động nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, phục vụ quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các nội dung quan
trọng trong hoạt động huy động vốn mà các doanh nghiệp cần quan tâm khi
tiến hành hoạt động huy động vốn bao gồm: chính sách huy động vốn (trong đó
bao gồm các chính sách về quy mô, cơ cấu, chi phí và kỳ hạn nguồn vốn huy
động), các phương thức huy động vốn (huy động nợ, huy động vốn chủ sở hữu)
và kết quả huy động vốn. Trong quá trình huy động vốn các doanh nghiệp luôn
phải xét đến tính hiệu quả của nó, tính hiệu quả trong huy động vốn được đo
bằng mức độ đáp ứng mục tiêu đề ra của doanh nghiệp về chất lượng, chi phí,
giá trị nguồn vốn huy động trong một khoảng thời gian nhất định.
9
1.1.2. Sự cần thiết tăng cường huy động vốn đối với hoạt động của doanh
nghiệp
Mỗi một doanh nghiệp kể từ lúc bắt đầu thành lập cũng như trong suốt
quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh đều đặt ra cho mình những mục tiêu
phát triển nhất định. Để đạt được những mục tiêu đó doanh nghiệp phải đảm
bảo một năng lực tài chính nhất định, trong đó vốn là yếu tố quan trọng hàng
đầu quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, đảm bảo khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Cụ thể như sau:
vững mạnh, được bổ sung liên tục theo nhu cầu hoạt động sản xuất kinh
doanh, tạo ra năng suất lao động cao, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản
phẩm, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị
trưòng. Từ đó, đảm bảo khả năng sinh lời cao cho doanh nghiệp.
Chính vì những lẽ đó, nên tăng cường huy động vốn là việc làm cần thiết và
tất yếu đối với các doanh nghiệp ở mọi thời đại.
Như vậy, có thể thấy, tăng cường huy động vốn là hoạt động có ý nghĩa
quan trọng đối với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thực tiễn nền kinh tế trong những năm qua cũng cho thấy doanh nghiệp nào
có lượng vốn càng lớn thì càng có thế chủ động trong kinh doanh và có thể
thắng được trong cạnh tranh. Ngược lại, doanh nghiệp nào thiếu vốn kinh
doanh, không có chiến lược tài trợ trước mắt cũng như lâu dài thường đánh
mất vai trò của mình trên thị trường, mất bạn hàng thường xuyên ổn định,
không tạo ra sức mạnh và hiệu quả tổng hợp trong kinh doanh.
Tuy nhiên, đối với mỗi doanh nghiệp, để có được lượng vốn mong
muốn không phải là điều đơn giản và trong quá trình xây dựng kế hoạch tài
trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn phải cân nhắc
11
xem sẽ huy động vốn từ những nguồn nào, với chi phí tương ứng là bao
nhiêu, để có được cơ cấu vốn hợp lý nhất.
1.2. Các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp
1.2.1. Huy động vốn chủ sở hữu
1.2.1.1. Vốn góp ban đầu của chủ sở hữu
Đây là nguồn vốn được hình thành ban đầu do các chủ sở hữu doanh
nghiệp đóng góp. Các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì vốn góp ban đầu
của chủ sở hữu có nguồn gốc khác nhau: Đối với doanh nghiệp nhà nước
(Nhà nước là chủ sở hữu) vốn đầu tư ban đầu là vốn đầu tư của Ngân sách
nhà nước. Đối với doanh nghiệp tư nhân, vốn góp là vốn chủ doanh nghiệp bỏ
ra khi thành lập doanh nghiệp. Đối với công ty TNHH , vốn góp có thể do
một thành viên (Công ty TNHH một thành viên), hoặc do nhiều thành viên
nhập vì chuyển nhượng các cổ phiếu ưu đãi bị giới hạn hơn so với cổ phiếu
thường; phát hành cho các cán bộ nhân viên chủ chốt, gắn bó lâu năm với
công ty để động viên tinh thần làm việc và gắn kết hiệu quả làm việc của họ
với lợi ích chung của công ty. Cổ phiếu ưu đãi thường chiếm một tỷ lệ rất nhỏ
trong tổng lượng cổ phiếu được phát hành.
1.2.1.3. Vốn từ lợi nhuận không chia
Theo phương thức này, doanh nghiệp sẽ trích một phần lợi nhuận thu
được trong năm vào quỹ đầu tư phát triển nhằm mục đích tăng nguồn vốn của
doanh nghiệp. Để huy động vốn theo phương thức này, trước hết doanh
nghiệp phải làm ăn có lãi. Sau đó, doanh nghiệp có thể giảm tỷ lệ trích lập các
quỹ dự phòng, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi hoặc thay đổi chính sách phân
chia lợi nhuận cho các cổ đông (đối với công ty cổ phần). Đây là nguồn vốn
rất chủ động và thuận tiện cho các doanh nghiệp. Do vậy, huy động vốn từ lợi
13
nhuận không chia là một phương thức huy động vốn rất quan trọng đối với
doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc thực hiện có hiệu quả hay không còn phụ thuộc
vào lợi nhuận thu được và hiệu quả của việc tái đầu tư.
1.2.2. Huy động nợ
1.2.2.1. Vốn tín dụng ngân hàng
Doanh nghiệp có thể huy động vốn bằng cách vay ngân hàng hoặc các
tổ chức tín dụng khác để đáp ứng cho nhu cầu vốn trong cả ngắn hạn, trung
hạn và dài hạn. Theo phương thức này các doanh nghiệp phải đáp ứng được
những yêu cầu nhất định của ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác như:
tính hợp pháp của dự án cũng như tư cách pháp nhân của doanh nghiệp, phải
có phương án kinh doanh khả thi, phải là đơn vị hạch toán độc lập và các yêu
cầu về tài sản thế chấp, cầm cố. Đối với ngân hàng đây chính là những điều
kiện để đảm bảo vốn cho vay an toàn và sinh lời.
Trên cơ sở các điều kiện xin vay được thực hiện đầy đủ, ngân hàng sẽ
cấp vốn cho doanh nghiệp dưới các hình thức chủ yếu như sau:
Tín dụng hạn mức: là một hình thức cho vay được thực hiện trên cơ sơ
doanh nghiệp, tư cách pháp nhân của mặt hàng nhập khẩu, tài sản thế chấp.
Cho vay thanh toán bộ chứng từ nhập: Căn cứ vào các yếu tố như đảm bảo tín
dụng, mức tài trợ, khả năng thu hồi nợ đúng hạn v.v… ngân hàng sẽ quyết
định tỷ lệ tài trợ cho lô hàng nhập để nhà nhập khẩu thanh toán cho nhà xuất
khẩu. Ví dụ như nếu ký quỹ trị giá 20% giá trị lô hàng thì ngân hàng chấp
thuận tài trợ 60%, lúc này nhà nhập khẩu phải đóng thêm 20% giá trị lô hàng.
Ngoài ra, ngân hàng còn cấp vốn cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thông
qua các hình thức bảo lãnh và tái bảo lãnh như: bảo lãnh vay vốn bằng cách
phát hành thư bảo lãnh, bảo lãnh bằng cách phát hành L/C trả chậm.
15
Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành và duy trì hoạt động
sản xuất kinh doanh, hầu hết các doanh nghiệp đều phải vay vốn ngân hàng.
Việc huy động vốn bằng hình thức này giúp doanh nghiệp tăng khả năng tài
trợ các nhu cầu vốn bổ sung cho việc mở rộng và phát triển sản xuất kinh
doanh. Hiện nay, các hình thức tài trợ vốn cho doanh nghiệp được các ngân
hàng sử dụng ngày càng phong phú nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp có
đủ vốn cho hoạt động kinh doanh của mình. Tuy nhiên, nguồn vốn vay ngân
hàng có đặc điểm là tương đối nhỏ, thời gian ngắn, thủ tục rườm rà phức tạp,
điều kiện vay chặt chẽ, nên vẫn gây khó khăn cho doanh nghiệp khi muốn vay
vốn. Do đó thông thường khi thiếu vốn các doanh nghiệp thường nghĩ đến
nguồn vốn tự có trước khi nghĩ đến ngân hàng.
1.2.2.2.Vốn tín dụng thương mại
Tín dụng thương mại là một hình thức huy động vốn rất được các
doanh nghiệp ưa dùng bởi tính tiện lợi và linh hoạt trong kinh doanh, đồng
thời nó còn tạo khả năng mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách
lâu bền. Khác với tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại là nguồn vốn
được xuất phát trên cơ sở hàng hoá. Nghĩa là khi bên bán và bên mua đã thoả
thuận được đầy đủ các điều kiện của hợp đồng mua bán hàng hoá, thì bên bán
chấp nhận cho bên mua trả chậm với những điều kiện nhất định. Chi phí của
việc sử dụng hình thức tín dụng này thể hiện qua lãi vay được tính vào giá
nghiệp có thể khai thác tính ưu việt của loại trái phiếu này. Tuy nhiên việc
quản lý loại trái phiếu này gặp một số khó khăn do công ty không thể biết
chắc chắn về chi phí lãi vay và phải tốn thời gian cho việc thông báo các lần
điều chỉnh lãi suất. Trái phiếu có thể thu hồi: Với loại trái phiếu này, doanh
nghiệp có thể sử dụng như một cách điều chỉnh lượng vốn sử dụng bằng cách
17
mua lại các trái phiếu đã phát hành vào một thời gian nào đó trước ngày đáo
hạn của trái phiếu, tức là giảm số vốn vay. Trái phiếu có thể chuyển đổi: là
loại trái phiếu có thể chuyển đổi thành một lượng nhất định các cổ phiếu
thường.
Nói chung, huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu công ty có ưu
điểm là tiết kiệm được chi phí đầu tư, kiềm chế lạm phát (do không làm tăng
lượng tiền cung ứng cho lưu thông, chỉ nhằm sử dụng có hiệu quả hơn lưọng
tiền có sẵn trong lưu thông), chủ động khai thác trực tiếp nguồn vốn có sẵn và
tiềm năng của các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế. Tuy nhiên không phải
doanh nghiệp nào cũng có thể phát hành trái phiếu, đặc biệt là đối với các
doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, việc huy động vốn bằng cách phát hành trái
phiếu chưa được phổ biến, rộng rãi. Nếu tận dụng được những ưu điểm kể
trên thì đây sẽ là phương thức tối ưu và khả thi cho giải pháp về vốn dài hạn
của từng doanh nghiệp trong nước, đồng thời mang lại nhiều lợi ích cho tổng
thể nền kinh tế.
1.2.2.4. Các hình thức khác
* Huy động vốn qua hình thức tín dụng thuê mua:
Đây là hình thức không trực tiếp cấp vốn cho các doanh nghiệp nhưng
đã gián tiếp trợ giúp doanh nghiệp về mặt tài chính để các doanh nghiệp trang
bị máy móc thiết bị đáp ứng nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh.
Theo hình thức này, người cho thuê (chủ sở hữu tài sản) sẽ chuyển giao
tài sản cho người đi thuê sử dụng trong một thời gian nhất định được ghi
trong hợp đồng. Để đổi lại, người đi thuê phải trả cho chủ sở hữu một khoản
tiền thuê tương xứng với quyền sử dụng. Tín dụng thuê mua là hình thức tài
sách huy động vốn nhất định. Tùy thuộc vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh,
19
loại hình hoạt động của doanh nghiệp, thời điểm kinh doanh của doanh
nghiệp, mà các doanh nghiệp xây dựng chính sách huy động vốn phù hợp.
Trong đó, bao gồm các chính sách về quy mô nguồn vốn huy động, chính
sách về cơ cấu nguồn vốn huy động, chính sách về chi phí huy động vốn và
chính sách về kỳ hạn của nguồn vốn huy động.
Chính sách về quy mô nguồn vốn huy động: Việc tính toán, xác định
quy mô nguồn vốn huy động là việc làm hết sức quan trọng, có ảnh hưởng
quyết định đến hiệu quả hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp. Quy mô
nguồn vốn huy động được xác định dựa vào nhu cầu hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có kế hoạch mở rộng sản xuất
kinh doanh, doanh nghiệp phải dự tính lượng vốn cần để đầu tư thêm tài sản
cố định như nhà xưởng, máy móc, thiết bị; các yếu tố đầu vào như: nguồn
nguyên liệu, hàng hóa; hay các yếu tố khoa học công nghệ để phục vụ hoạt
động sản xuất kinh doanh. Từ đó doanh nghiệp sẽ xác định được quy mô
nguồn vốn cần huy động. Ngược lại khi doanh nghiệp muốn thu hẹp hoạt
động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp sẽ giảm bớt lượng vốn huy động.
Quy mô nguồn vốn huy động cần đảm bảo tính phù hợp, đáp ứng tốt
nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu doanh nghiệp huy động quá
nhiều vốn, sẽ gây nên tình trạng dư thừa vốn, gây lãng phí, ảnh hưởng xấu
đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, lợi nhuận
doanh nghiệp giảm xuống. Ngược lại, nếu doanh nghiệp huy động vốn không
đủ để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, thì sẽ dẫn đến tình trạng thiếu
vốn, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị gián đoạn, ách tắc,
tạo ra nhiều tổn thất cho doanh nghiệp.
Tóm lại, khi huy động vốn, các doanh nghiệp cần tính toán cụ thể và
chính xác lượng vốn cần huy động để đáp ứng vừa đủ cho việc thực hiện hoạt
động sản xuất kinh doanh, tránh dư thừa hay thiếu hụt vốn gây tổn thất cho
doanh nghiệp.
phá sản nếu gánh nặng lãi vay quá lớn. Tuy nhiên, sẽ là một hạn chế nếu một
công ty đang trong giai đoạn tăng trưởng mạnh với các sản phẩm được tiêu
thụ ổn định lại chỉ sử dụng 20-30% vốn vay trên tổng nguồn vốn. Ngoài ra,
đặc điểm ngành nghề cũng cho thấy nhiều sự khác biệt về cơ cấu vốn giữa các
doanh nghiệp, ví dụ như nhóm sử dụng nợ vay nhiều nhất phải kể đến là
ngành vận tải, xây dựng và bất động sản, ngành cao su tự nhiên lại có tỷ lệ nợ
trên vốn thấp. Như vậy, cơ cấu vốn hợp lý đối với mỗi doanh nghiệp khác
nhau là khác nhau, hay nói cách khác, không có một cơ cấu vốn chung cho
mọi doanh nghiệp. Tuỳ vào từng giai đoạn cụ thể, tuỳ theo từng mục tiêu
quản trị hay từng giai đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp
tính toán và xác định một cơ cấu vốn hợp lý cho doanh nghiệp, để tại đó giá
trị doanh nghiệp là lớn nhất, tức chi phí vốn ở mức thấp nhất, và do đó tối đa
được lợi nhuận của doanh nghiệp.
Cơ cấu nguồn vốn huy động phụ thuộc vào cơ cấu mục tiêu mà doanh
nghiệp đề ra. Theo đó, tại một thời điểm nào mà tỷ lệ nợ dưới mức mục tiêu
đề ra thì doanh nghiệp sẽ mở rộng vốn bằng cách vay nợ và ngược lại, nếu tỷ
lệ nợ trên mức mục tiêu đề ra thì doanh nghiệp sẽ mở rộng vốn bằng cách
tăng cường vốn chủ sở hữu để đảm bảo an toàn cho doanh nghiệp.
Tóm lại, các doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ lưỡng cơ cấu nguồn vốn
huy động tùy vào đặc điểm, thời điểm hoạt động kinh doanh của mình, đảm
bảo một cơ cấu vốn huy động hợp lý giữa vốn chủ sở hữu và nợ vay sao cho
lợi ích thu được là cao nhất.
Chính sách về chi phí huy động vốn: Chi phí huy động vốn đối với
mỗi nguồn vốn khác nhau là khác nhau nên khi xem xét vấn đề về cơ cấu vốn
người ta thường quan tâm đến một chỉ tiêu nữa là chi phí trung bình của vốn.
Chi phí trung bình của vốn phản ánh chi phí trung bình của tất cả các nguồn
22
tài trợ dài hạn được doanh nghiệp sử dụng. Để xác định được chi phí trung
bình, thông thường sử dụng chỉ tiêu chi phí bình quân gia quyền của vốn
(WACC).
doanh của doanh nghiệp.
Chính sách về kỳ hạn nguồn vốn huy động: Tùy thuộc vào nhu cầu và
định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp xác định kỳ hạn
phù hợp cho các nguồn vốn huy động. Kỳ hạn của nguồn vốn huy động có thể
là ngắn hạn (dưới 1 năm), trung hạn (từ 1 đến 5 năm), hoặc dài hạn (trên 5
năm). Cụ thể: để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp muốn
đầu tư mua sắm tài sản cố định thì doanh nghiệp sẽ huy động các nguồn vốn
trung và dài hạn, ví dụ như: huy động vốn chủ sở hữu, vay dài hạn ngân hàng,
phát hành trái phiếu. Để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời, bất
thường phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh như: nhập
nguyên liệu đầu vào, thanh toán các khoản phải trả như nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp, trả lương cán bộ công nhân viên, v.v…thì doanh nghiệp
thường sử dụng các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn như: vay ngắn hạn ngân
hàng, tín dụng thương mại, huy động vốn từ nội bộ doanh nghiệp. Việc xác
định kỳ hạn phù hợp cho nguồn vốn huy động sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm
tối đa chi phí huy động vốn, đảm bảo đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt
động sản xuất kinh doanh, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động huy động
vốn cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.4. Kết quả huy động vốn của doanh nghiệp
Kết quả huy động vốn được thể hiện ở một số chỉ tiêu cơ bản như: tốc
độ tăng trưởng quy mô nguồn vốn, chi phí huy động vốn và cơ cấu vốn của
doanh nghiệp:
24
Tốc độ tăng trưởng quy mô nguồn vốn: Trong thực tế, các doanh
nghiệp huy động vốn nhằm mục đích mở rộng quy mô nguồn vốn để phục vụ
cho việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Và mỗi
doanh nghiệp đều đặt ra một chỉ tiêu cụ thể về quy mô nguồn vốn huy động
dựa trên sự tính toán về nhu cầu vốn cần bổ sung cho hoạt động sản xuất kinh
doanh. Để đánh giá kết quả huy động vốn, trước tiên người ta thường xem xét
đến chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng quy mô nguồn vốn. Tốc độ tăng trưởng quy