Đặc điểm mỹ thuật thời Trần - Pdf 27

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn hóa truyền thống Việt Nam là một dòng chảy xuyên suốt lịch sử hàng ngàn năm
của dân tộc, kết tinh qua bao thế kỷ. Được hình thành từ nền văn minh Văn Lang Âu Lạc
và phát triển qua nền văn minh Đại Việt, qua nhiều thời kì lịch sử với biết bao sóng gió,
biến cố của dân tộc, tồn tại đến ngày hôm nay trở thành những giá trị vô cùng quý báu của
dân tộc.
Quay ngược guồng xe của bánh thời gian, tìm về với cội nguồn dân tộc, dừng chân ở
thời Trần ta chợt nhận ra những giá trị văn hóa dân tộc rất đỗi quý giá và lâu đời. Nói đến
thời Trần lịch sử gọi ngay ra một triều đại hưng thịnh với những nét nổi bật, đặc sắc về
kinh tế - chính trị và không thể không nhắc đến văn hóa – nghệ thuật mà chủ thể là nền mĩ
thuật thời Trần.
Thời Trần là thời kỳ mà mĩ thuật Việt Nam phát triển đến đỉnh cao rực rỡ, là thời kì
hoàng kim của những thành tựu mĩ thuật. Nói đến nghệ thuật thời Trần là nói đến những
công trình, những thành tựu mĩ thuật coi đó là mẫu mực của mĩ thuật phong kiến Việt
Nam.
Lấy cảm hứng từ Phật giáo, mĩ thuật thời Trần mang đậm tinh thần tôn giáo, đó là
những công trình kiến trúc, điêu khắc với những đường nét chạm trổ tinh vi, điêu luyện và
tinh xảo.
Điểm lại những thành tựu mà văn hóa mĩ thuật thời Trần đạt được ta không thể
không kể đến tháp Phổ Minh, tháp Bình Sơn với kiểu kiến trúc đậm chất Phật Giáo, hay
hình tượng những con rồng tinh xảo, vừa uyển chuyển, nhẹ nhàng vừa khỏe khoắn uy nghi.
Cùng với sự ảnh hưởng của Phật Giáo, thời Trần đạo nho cũng rất phát triển kéo theo
đó là sự phát triển của mĩ thuật với các công trình nghệ thuật như Hoàng Thành Thăng
Long hay cung Thiên Trường.
Nhìn lại tổng quan lịch sử các chặng đường phát triển của mĩ thuật Việt Nam, ta có
thể thấy mĩ thuật thời Trần phát triển mạnh mẽ mang đến những thành tựu rực rỡ cho văn
hóa Trần nói riêng và văn hóa Việt nam nói chung. Đó là vệt sáng kết tinh những tinh hoa
của một triều đại. Là cống hiến vô giá của giá trị tinh thần trong những đường nét chạm
trổ, điêu khắc.
Chính những thành công, những điểm sáng mà mĩ thuật thời Trần đóng góp cho mĩ

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung đi nghiên cứu và tìm hiểu
những công trình nghệ thuật tiêu biểu của thời Trần qua đó tìm ra đặc điểm mỹ thuật nỗi
bật của thời kỳ này.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
+ Phương pháp khảo sát điều tra. Việc sử dụng biện pháp này đã giúp tôi tìm hiểu
về thời Trần nơi mà những nét đẹp văn hóa được thể hiện qua các công trình điêu khắc, hội
họa, hay các nét chạm trổ.
+ Phương pháp thống kê phân tích. Từ những gì mà tôi khảo sát được tôi đã lựa
chọn lại sau đó dùng kiến thức hiểu biết của mình phân tích từ đó rút ra đặc điểm nổi bật
của mỹ thuật thời Trần.
+ Phương pháp so sánh lịch sử . Phương pháp này giúp tôi hiểu rõ hơn và có sự
phân biệt giũa triều đại này với triều đại khác.
Ngoài ra tôi còn sử dụng một số phương pháp khác để bài viết của mình hoàn chỉnh
hơn.
6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận bài viết này tập trung vào hai chương chính:
Chương 1: Khái quát đất nước Việt Nam dưới triều đại nhà Trần
Chương 2: Một số đặc điểm mỹ thuật thời Trần
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM DƯỚI TRIỀU ĐẠI NHÀ TRẦN
1. Sự thành lập triều Trần và những nét khái quát về xã hội thời Trần .
1.1. Sự thành lập triều Trần:
Nhà Lý phát triển thịnh trị vào đời vua Lý Nhân Tông (1072 - 1127), sau đó bắt đầu
đi vào con đường suy yếu. Các vua lên ngôi khi còn bé như vua Lý Anh Tông làm vua khi
5 tuổi, Lý Cao Tông 2 tuổi… Quyền hành rơi vào tay những kẻ hại dân. Trước tình hình
ấy, nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra, góp phần làm lung lay ngai vàng nhà Lý. Khi nhà Lý
suy yếu, nạn cát cứ lại xảy ra. Năm 1211, ba dòng họ phong kiến lớn đã nổi dậy. Đó là họ
Đoàn ở Hải Dương, Hải Phòng; họ Trần ở Thái Bình, Nam Định và Nam Hưng Yên; họ

chùa đẹp tuy quy mô không lớn như thời Lý.
Về kinh tế, nhà nước chú trọng khuyến khích nông nghiệp phát triển. Quân đội nhà
Trần vẫn được tổ chức theo chế độ " ngụ binh ư nông"để góp thêm lực lượng sản xuất
nông nghiệp. Kinh tế thành thị cũng song song phát triển kéo theo sự thịnh vượng của kinh
tế hàng hoá, giao thông… Tất cả những điều đó đã góp phần làm cho nhà nước phong kiến
thời Trần ngày một vững mạnh hơn. Cũng ở thời gian này, ở phương Bắc đế quốc phong
kiến Mông Cổ đang phát triển mạnh và tìm cách bành trướng thế lực ra nước ngoài. ở Châu
Âu, Mông Cổ đã chiếm từ bờ biển Thái Bình Dương tới Hắc Hải, thậm chí đến cả Đại Tây
Dương. Năm 1271 chúng chiếm được Trung Quốc lập ra triều đại nhà Nguyên. Sau đó
chúng có ý đồ chiếm Việt Nam và cả vùng Đông Nam á. Suốt từ 1258 đến 1285, 1287
chúng đã 3 lần đem quân đánh chiếm Đại Việt song cả 3 lần đều thất bại nặng nề. Chiến
thắng Mông Nguyên một lần nữa đã khẳng định truyền thống yêu nước và ý chí của dân
tộc ta. Đồng thời đưa uy tín và ảnh hưởng của nước ta lên cao hơn. Mặt khác, trong xã hội
Đại Việt thời đó cũng có nhiều sự thay đổi lớn. Chế độ nông nô, nô tì tan rã, dần dần biến
các nông nô thành những người nông dân tự do. Nhà nước chú ý hơn tới việc "nới sức dân
để làm kế sâu rễ bền gốc".
Tất cả những điều kiện xã hội đó đã phần nào ảnh hưởng tới sự phát triển mĩ thuật
của thời Trần và nhất là tạo điều kiện thuận lợi cho văn hoá nghệ thuật dân gian phát triển,
tạo nên đặc điểm riêng biệt cho mĩ thuật thời Trần.
1.2.1. Tổ chức quân đội
Quân chủ lực nhà Trần gồm cấm quân và quân các lộ. Quân các lộ ở đồng bằng gọi
là chính binh, ở miền núi gọi là phiên binh. Cấm quân được gọi là quân túc vệ.
Các đơn vị quân đội được gọi là quân. Đứng đầu mỗi quân là một đại tướng quân. Mỗi
quân có 30 đô, chỉ huy mỗi đô có chánh phó đại đội. Mỗi đô có 5 ngũ, đứng đầu mỗi ngũ
là đầu ngũ.
Cấm quân là lực lượng nòng cốt trong chiến tranh chống ngoại xâm, có thể được điều động
đi các lộ để tác chiến.
Nhằm có lực lượng đông đảo cần thiết khi chống xâm lược, nhà Trần kế tục chính sách
ngụ binh ư nông (giữ quân lính ở nhà nông) của nhà Lý, vừa đảm bảo số quân cần thiết
phòng khi có chiến tranh xảy tới. Quân cấm vệ và các lộ có khoảng 10 vạn người.

triều đình. Người của hàn lâm viện gọi là học sĩ với nhiều cấp (chức) khác nhau.
Các ban, ngành khác là Ngự sử đài, Đăng văn kiểm sát viện là các cơ quan thanh tra, giám
sát. Có Quốc sử viện phụ trách công việc biên soạn quốc sử mà người đầu tiên phụ trách
Quốc sử viện là Lê Văn Hưu. Có Quốc tử viện là nơi giáo dục các vương tử nhà Trần. Có
Thái y viện chăm sóc sức khỏe cho hoàng tộc.
1.2.3. Luật pháp
Vua Thái Tông cho sửa lại luật pháp rất nghiêm minh. Đại Việt sử ký toàn thư có
chép lại như sau:
Canh Dần, Kiến Trung năm thứ 5 1230: Mùa xuân, tháng 3, khảo xét các luật lệ của
triều trước, soạn thành Quốc triều thống chế và sửa đổi hình luật lễ nghi, gồm 20 quyển.
Định bị đồ có mức độ khác nhau:
Loại bị đồ làm Cảo điền hoành thì thích vào mặt 6 chữ, cho ở Cảo xã (nay là xã
Nhật Cảo), cày ruộng côn, mỗi người 3 mẫu, mỗi năm phải nộp 300 thăng thóc.
Loại bị đồ làm Lao thành binh thì thích vào cổ 4 chữ, bắt dọn cỏ ở Phượng Thành,
thành Thăng Long, lệ vào quân Tứ sương.
Đặt ty bình bạc là cơ quan hành chính và tư pháp ở kinh đô Thăng Long lúc đó với
chức quan kinh doãn, chuyên xét đoán việc kiện tụng ở kinh thành. Năm 1265 đổi thành
Đại an phủ sứ, sau lại đổi thành Kinh sư đại doãn.
1.2.4. Kinh tế
Về mặt nông nghiệp: để tránh nạn ngập lụt, vua Thái Tông sai đắp đê hai bên bờ
sông và cử quan đặc trách trông coi việc đê gọi là hà đê sứ. Mỗi năm sau vụ mùa, triều
đình còn ra lệnh cho quân sĩ đắp đê hay đào lạch, hào, giúp đỡ dân chúng. Đại Việt sử ký
toàn thư có chép:
Tân Mão, Kiến Trung năm thứ 7, 1231: Mùa xuân, tháng giêng, sai nội minh tự
Nguyễn Bang Cốc (hoạn quan) chỉ huy binh lính phủ mình đào vét kênh Trầm và kênh Hào
(là tên hai con kênh, thuộc huyện Ngọc Sơn (nay là Tĩnh Gia), tỉnh Thanh Hóa) từ phủ
Thanh Hóa đến địa giới phía nam Diễn Châu. Triều đình cũng cho phép các vương, hầu có
quyền chiêu tập những người nghèo khó, lưu lạc đi khai khẩn đất hoang để mở mang thêm
ruộng nương.
Về mặt thuế má: Có 2 loại thuế là thuế thân và thuế điền. Thuế thân được đóng

đạo cho xây chùa, đúc chuông, tạc tượng để phụng thờ khắp nơi. Đại Việt sử toàn thư chép
lại Thượng hoàng xuống chiếu rằng trong nước hễ chỗ nào có đình trạm đều phải đắp
tượng phật để thờ.
Vua Nhân Tông còn sai sứ sang Trung Hoa để thỉnh kinh về truyền bá đạo Phật, và
ông chính là ông tổ đầu tiên của thiền phái Trúc Lâm. Nhưng cuối đời Trần, Phật giáo bị
pha thêm các hình thức mê tín bùa chú cho nên ngày càng suy vi. Về Lão giáo thì cũng
được nhân dân ngưỡng mộ. Do đó, nhà Trần cũng cho mở những khảo thi tam giáo như
đời nhà Lý.
1.2.7. Văn hóa nghệ thuật
Đời nhà Trần đã đào tạo được khá nhiều học giả nổi tiếng như Lê Văn Hưu soạn bộ
Đại Việt Sử Ký và đây là bộ sử đầu tiên của Việt Nam. Mạc Đĩnh Chi nổi tiếng là một ông
trạng rất mực thanh liêm, đức độ và có tài ứng đối đã làm cho vua quan nhà Nguyên phải
kính phục. Chu Văn An là một bậc cao hiền nêu gương thanh khiết, cương trực. Các vua
Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông đều là những người giỏi văn
chương và có soạn Ngự tập và danh tướng Trần Quốc Tuấn có làm những tác phẩm giá trị
như Hịch tướng sĩ.
Hàn Thuyên tức Nguyễn Thuyên có công làm thơ bằng chữ Nôm và đặt ra luật thơ
Nôm. Vì thế đã có nhiều học giả, văn nhân đã theo gương của Hàn Thuyên mà làm những
bài thơ Nôm rất giá trị. Đại Việt sử kí toàn thư chép:
Bấy giờ (năm 1282) có cá sấu đến sông Lô. Vua sai hình bộ thượng thư Nguyễn
Thuyên làm bài văn ném xuống sông, cá sấu bỏ đi. Vua cho việc này giống như việc của
Hàn Dũ, bèn ban gọi là Hàn Thuyên. Thuyên lại giỏi làm thơ phú quốc ngữ. Thơ phú nước
ta dùng nhiều quốc ngữ, thực bắt đầu từ đấy.
Nghệ thuật điêu khắc thời Trần được đánh giá là có bước tiến bộ, tinh xảo hơn so
với thời Lý, trong đó có một số phù điêu khắc hình nhạc công biểu diễn mang phong cách
Chiêm Thành. Cách trang trí hoa dựa trên nghệ thuật dân dụng Âm nhạc Đại Việt thời Trần
chịu ảnh hưởng của Ấn Độ, Chiêm Thành và Trung Quốc. Một số nhạc công bị bắt từ
Chiêm Thành và Trung Quốc trong các cuộc chiến đã truyền nghề ca hát cho dân Đại Việt,
càng ngày càng phổ biến.
1.3. Thời kỳ suy tàn

Quý Ly nắm lấy cả quyền hành rồi sai người vào đất Thanh Hoá xây thành Tây Đô. Sau
khi công việc xong xuôi, Hồ Quý Ly bắt Trần Thuận Tông dời kinh về Tây Đô rồi lập mưu
ép Thuận Tông nhường ngôi cho con là Thiếu Đế khi đó mới có 3 tuổi lên ngôi. Quý Ly
lên làm phụ chính sai người giết Thuận Tông và chuẩn bị cướp ngôi.
Nhìn thấy âm mưu của Hồ Quý Ly, nhiều tướng lĩnh nhà Trần như Trần Khát Chân
lập hội với mưu đồ tiễu trừ Quý Ly, nhưng cơ mưu bị bại lộ, tất cả đều bị bắt và bị giết vào
khoảng hơn 370 người. Năm 1400, Quý Ly phế truất Thiếu Đế rồi tự xưng làm vua, chiếm
lấy ngôi nhà Trần, đổi sang họ Hồ. Nhà Trần chấm dứt,kéo dài 175 năm với 13 đời vua.
CHƯƠNG 2
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM MĨ THUẬT THỜI TRẦN
2.1. Khái quát đặc điểm của mĩ thuật thời Trần
Mĩ thuật thời Trần (thế kỉ 13 - 14): với các chất liệu gỗ, đá, đồng, đất nung và gốm.
Công trình kiến trúc tôn giáo còn tồn tại giữ được nhiều dấu ấn nghệ thuật thời Trần như
chùa Thái Lạc (Hải Dương); chùa Bối Khê (Hà Tây), một phần chùa Phổ Minh (Nam
Định) với những mảng chạm khắc gỗ trang trí, kiến trúc với bệ đá chạm rồng và garuda và
các con vật như cá sấu, rồng thành bậc - khu lăng các vua Trần ở An Sinh (Đông Triều,
Quảng Ninh), lăng Trần Thủ Độ ở Tam Đường (Thái Bình) có một số tượng thú. Đồ đồng
có chuông chùa Vân Bản (Đồ Sơn, Hải Phòng), vòng cáng, bàn đạp, yên ngựa (chùa An
Sinh) chạm khắc hình rồng. Đồ gốm Trần với nhiều vật phẩm kích thước tương đối lớn
như chậu, thạp. Gốm hoa nâu là dạng điển hình của thời Trần.
Đặc điểm phong cách nghệ thuật thời Trần: đường nét phóng khoáng, khoẻ khoắn.
Bố cục có phần thưa thoáng đơn giản. Đề tài phong phú hơn thời Lý, đặc biệt là trên đồ
gốm xuất hiện nhiều hình ảnh các con thú. Rồng còn nhiều nét của thời Lý nhưng đầu đã
có sừng, chân 4 móng, khúc cuộn ở thân doãng hơn
2.1.1. Sự thừa kế những tinh hoa văn hoá thời Lý
Nhà Trần kế tiếp ngay sau thời Lý. Vì vậy khi bắt đầu được thành lập, nhà Trần
thừa hưởng toàn bộ gia sản văn hoá thời Lý nhất là về mặt kiến trúc. Mãi đến sau kháng
chiến chống quân Nguyên Mông, kinh thành Thăng Long bị tàn phá nặng nề đến năm 1289
nhà Trần mới cho xây dựng lại kinh đô. Các công trình kiến trúc từ thời Lý như tháp Báo
Thiên, chùa Dạm, chùa Phật Tích… vẫn còn tồn tại sừng sững và đẹp đẽ. Những công


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status