Nghệ thuật múa rối nước Thái Bình - Pdf 27

Đại học Quốc gia Hà Nội
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Khoa Lịch sử
------
Nghệ thuật múa rối nước
Thái Bình
Niên luận
Ngành: Lịch sử
Chuyên ngành: Dân tộc học
Người hướng dẫn: PGS.TS. Lê Sĩ Giáo
Tài liệu được tải từ website http://reportshop.com.vn
1
LỜI MỞ ĐẦU
Múa rối là một nghệ thuật diễn xướng độc đáo của vùng ruộng nước, là
một sản phẩm văn hoá kết tinh của óc sáng tạo, trí thông minh, tài khéo léo của
người nông dân trồng lúa nước vùng Đồng Bằng Bắc Bộ.
Nghệ thuật rối nước vốn bình dị như hạt lúa, củ khoai. Nó đã ăn sâu bám
chắc vào mảnh đất dân gian, gắn bó chặt chẽ với truyền thống dân tộc, với hội
hè, đình đám. Nó nằm bí truyền, phân tán trong các phường hội và đã cùng dân
tộc ta lớn lên trong chiến thắng thiên tai từ hàng nghìn năm nay. Sân khấu rối
nước là nơi trình bày tổng hợp hài hoà các nghệ thuật điêu khắc, sơn thếp, kiến
trúc, âm nhạc, hội hoạ, văn học, sân khấu truyền thống. Nó đã mang lại cho
người xem sự động viên khích lệ một nhận thức tư tưởng, quan niệm sống về cái
chân, thiện mỹ… Qua những con người, những cảnh vật, nhân vật, những sự
việc gần bũi thân quen.
Nghệ thuật múa rối nước Việt Nam được giới thiệu trên sách báo, phim
ảnh, triển lãm, vô tuyến tuyền hình, ở các hội nghị, liên hoan múa rối thế giới, ở
các nước Ấn Độ. Nhật Bản, Đức… đến các cơ sở ở Thái Bình: Ở Nguyễn,
Đống…
Gìn giữ và phát triển những gì mà Thái Bình đã có được về nghệ thuật rối
nước là một đóng góp rất đáng kể vào kho tàng văn hoá của dân tộc ta. Việc

Yên hợp thành năm 1894. Hai huyện Hưng Nhân và Duyên Hà của tỉnh Hưng
Yên được cắt về Thái Bình, và tên gọi địa dư diên cách của Thái Bình từ đó đến
nay về cơ bản không thay đổi.
Là một vùng đất vốn là bãi biển, được bồi đắp bởi phù sa của sông Hồng,
sông Trà Lý… Cho đến ngày nay vùng ven biển của Thái Bình vẫn không
ngừng được bồi đắp, mỗi năm thêm chừng từ 1 - 1,2 km
2
.
Nằm trong hệ thống sông ngòi chằng chịt ở nội địa, sông Trà Lý chiếm
một địa vị quan trọng. Nó chia tỉnh Thái Bình ra làm hai khu vực: Phía Bắc gồm
các huyện Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Đông Hưng và Thái Thuỵ. Phía Nam gồm các
tỉnh Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải và thành phố Thái Bình.
Thái Bình là tỉnh Đồng Bằng khá thấp, phía tây bắc có mặt bằng hơi cao
so với phía Nam. Qua kết quả khảo sát sơ bộ về những di chỉ, di tích lịch sử,
những hiện vật và tài liệu hiện có của phòng Bảo tồn, Bảo tàng Thái Bình, bước
đầu chúng ta thấy được vùng đất thuộc các huyện Hưng Hà, Quỳnh Phụ, bắc
Đông Hưng, bắc Vũ Thư ngày nay thuộc hương Đa Cương và hương Thái Bình
có cấch ngày nay khoảng trên hai nghìn năm. Các vùng đất còn lại của tỉnh được
lần lượt hình thành ở các thời kỳ sau đó cho đến cuối thế kỷ XIX.
Tài liệu được tải từ website http://reportshop.com.vn
4
Nằm trong địa vực Đồng bằng sông Hồng nhưng cảnh quan Thái Bình
mang nét độc đáo là tỉnh Đồng bằng duy nhất của cả nước không có đồi núi.
Ngày nay, nếu nhìn trên đại thể thì cảnh quan tự nhiên và cảnh quan văn hoá ở
các cùng trong tỉnh không khác nhau nhiều lắm.
Lịch sử hình thành, những đặc điểm về cảnh quan tự nhiên là những yếu
tố có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát sinh phát triển của văn hoá truyền
thống và hiện đại. Nó quy định sự phát triển đa dạng của văn hoá. Bên cạnh đó,
cảnh quan tự nhiên do tác động của bàn tay con người đã trở thành cảnh quan
văn hoá, và mối quan hệ, tương tác giữa cảnh quan tự nhiên và văn hoá cũng

hoạt văn hoá, văn nghệ, dân gian và hội làng với nghi thức lễ nông nghiệp cũng
phục hồi nhiều hơn với nội dung phong phú hớn các địa phương khác.
Sự hội tụ đa cực của các luồng cư dân về khai phá, chinh phục và cải tạo
vùng đất Thái Bình để nơi đây trở thành một vùng điển hình, và phát triển trong
điều kiện trống vắng những đô thị trung tâm, yếu tố thị dân mờ nhạt đáng được
coi là một trong những nét đặc trưng quan trọng, gợi mở cho hướng tìm tòi,
khẳng định sắc thái văn hoá làng là phong phú, bền vững, và tương đối ổn định
ở Thái Bình. Cũng chính đặc trưng nàycho thấy tính cách tiêu biểu nhất của
người Thái Bình, từ truyền thống đến hiện đại vẫn mang đậm tính cách người
nông dân, điển hình về cả hai phương diện: Tích cực và hạn chế vốn có của nó.
Mặt khác, sự hội tụ của các luồng cư dân mang tính đa cực tới mức điển
hình trong truyền thống ở Thái Bình cũng chi phối các mối quan hệ trong đời
sống kinh tế - văn hoá - xã hội của cư dân Thái Bình làm cho văn hoá làng ở
Thái Bình không chỉ phong phú, đa dạng mà còn cởi mở, thông thoáng hơn ở
nhiều lĩnh vực: Tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán và tính dân chủ trong
cộng đồng làng xã. Đặc điểm này gợi cho hướng tìm tòi, và lý giải tính phong
phú của văn hoá truyền thống ở Thái Bình với một loại văn hoá làng được hình
thành, tồn tại và phát triển theo một hệ thống mở chứ không hoàn toàn đóng kín.
Về phương diện nào đó tính cởi mở, dễ thích ứng với các tiếp thu văn hoá từ các
cùng, miền khác của cư dân Thái Bình còn phải tìm đến những yếu tố biến động
cơ học về dân số với việc người Thái Bình ra tỉnh ngoài, nước ngoài làm ăn,
Tài liệu được tải từ website http://reportshop.com.vn
6
sinh sống, đã tạo ra sự giao thoa văn hoá, góp phần làm cho văn hoá làng ở Thái
Bình thêm phong phú.
Một điểm rất đáng chú ý nữa về cư dân Thái Bình là trong cộng đồng các
dân tộc Việt Nam có đến 54 dân tộc anh em khác nhau sinh sống trên khắp lãnh
thổ Việt Nam, thì ở Thái Bình hầu như trong mọi thời kỳ lịch sử, người kinh đều
chiếm tỉ lệ tuyệt đối. Đây là một trong những cơ sở để tìm hiểu vốn văn hoá
truyền thống của người kinh thuộc đồng bằng sông Hồng - Chủ thể của nền văn

thuật múa rối đã có vài nghìn năm lịch sử.
Múa rối là một nghệ thuật dùng con búp bê, con rối biểu diễn các trò và
tích trò.
Nền nghệ thuật múa rối trên thế giới có đặc tính chung là mang đậm
truyền thống dân gian về tổ chức, về hoạt động và đặc biệt về một nhân vật tiêu
biểu thường thấy xuất hiện trên sân khấu múa rối của các nước.
Vi-đu-sa-ka ở ấn Độ
Pen-Ju hay két-chen pê-li-van ở Ba Tư
Kvô ở Trung Quốc
Mắc-Cung ở Cổ La Mã
Ka-ra-goa ở Thổ Nhĩ Kỳ
Pôn ở Anh
Pê-trút-ca ở Liên Xô (trước đây)
Hans - vớc ở Đức
Tễu ở Việt Nam
...
Quá trình phát triển của nghệ thuật múa rối truyền thống của các nước
trên thế giới thường được truyền tụng qua những tiết mục vui, trữ tình ngày càng
phát triển bên cạnh những tiết mục tôn giáo ngày càng giảm đi và hầu như
ngừng hẳn vào đầu thế kỷ XX.
Tài liệu được tải từ website http://reportshop.com.vn
8
Nghệ thuật múa rối đã phát triển không ngừng qua nhiều thế kỷ nên rất
phong phú về thể loại. Những thể loại này phân biệt nhau bởi cách tạo hình con
rối, và cách điều khiển con rối.
Các thể loại múa rối thường thấy trên sân khấu thế giới:
- Loại điều khiển từ dưới lên.
- Loại điều khiển từ trên xuống.
- Loại diều khiển ngang
- Loại rối nước.

khổ, bền bỉ trong quá trình cải tạo thiên nhiên, cải tạo xã hội để sinh tồn.
Bên cạnh các hoạt động lao động sản xuất để đáp ứng nhu cầu của cuộc
sống vật chất, và các chiến công lẫy lừng trong các cuộc chiến đấu chống quân
xâm lược ngoại bang bảo vệ đất nước. Ông cha chúng ta còn để lại cho con cháu
đời sau một di sản quý báu về lao động nghệ thuật, cấu tạo bằng âm thanh, màu
sắc, đường nét, động tác, hình khối,... trong một thế giới hình tượng. Thế giới
hình tượng này với những phong cách độc đáo nhưng rất quen thuộc, thân thiết,
gắn bó khăng khít với thói quen, tình cảm, mỹ cảm của mọi người, thể hiện
trong hình thức hoạt động nghệ thuật nhằm thoả mãn yêu cầu của cuộc sống tinh
thần.
Múa rối là một nghệ thuật dân gian truyền thống của nhân dân ta. Từ bao
đời nay trò “leo dây múa rối” đã là nguồn vui chơi giải trí thích thú của đông
đảo bà con xa gần kéo về tham dự các ngày hội hè đình đám ở các làng thôn.
Múa rối là một nghệ thuật dùng quân rối làm trò diễn kịch trên sân khấu,
còn người điều khiển được che giấu kín. Quân rối là những con nộm làm bằng
gỗ, giấy bồi, nan đan, bông vải, chất dẻo... hoặc có khi chỉ là quả bóng bàn, củ
khai, vỏ trứng... hoá trang phục trang.
Ngày nay múa rối chia ra nhiều thể loại như múa rối tay, múa rối que,
múa rôi dây, múa rối sân khấu đèn, múa rối dẹt, múa rối máy... Nhưng nhân dân
ta xưa nay lấy sân khấu làm căn cứ phân loại, chia nghệ thuật múa rối làm hai
loại hình.
a. Nghệ thuật múa rối nước: Dùng sân khấu mặt nước.
b. Nghệ thuật múa rối cạn: Dùng sân khấu dựng trên mặt đất.
Tài liệu được tải từ website http://reportshop.com.vn
10
Nghệ thuật múa rối nước chuyên dùng quân rối máy, điều khiển từ xa.
Nghệ thuật múa rối cạn dùng quân rối tay, quân rối dây, quân rối máy, quân rối
que.
Múa rối nước là một sáng tạo độc đáo của tổ tiên ta dựa trên hoàn cảnh tự
nhiên của một vùng nhiệt đới gió mùa ẩm, lượng mưa cao, và diện tích nước

Lớn lên ở vùng nước nhiều hơn đất, nghệ thuật múa rối nước Thái Bình
không có những sân khấu xây dựng cố định như Thuỷ Đình múa rối ở Chùa
Thầy, đền Dóng (Hà Nội)... Nhưng qua bước đầu phát hiện, sân khấu rối nước
Thái Bình đã có nhiều mặt hoàn chỉnh, nâng cao đáng lưu ý so với các phường
hội nơi khác. Về thời điểm phát sinh, hiện nay chưa tìm được cứ liệu xác thực
của nền nghệ thuật múa rối nước nói chung, cũng như ở Thái Bình nói riêng.
Nhưng qua một số tư liệu thu thập được bước đầu - nghệ thuật múa rối nước
Thái Bình chưa có dấu hiệu gì tỏ ra có sự cách biệt với nghệ thuật múa rối ở các
tỉnh thành khác, trong cả nội dung và hình thức nghệ thuật.
Tìm hiểu lịch sử múa rối nói chung và múa rối nước Thái Bình nói riêng
ta không thể chỉ dựa vào trí nhớ của các nghệ nhân cao tuổi hay tục lệ lễ tổ. Các
cụ phường Nguyễn cũng chỉ cho biết “lâu lắm, múa rối nước ở xã chúng tôi có
trước đây từ 12 đời, tức là vào thời nhà Lê kia”. Nhưng rất có thẻ múa rối nước
đã có mặt ở vùng đất phía Nam kinh thành Thăng Long này từ trước năm Thiên
Phù Duệ Vũ thứ 2 (1221), năm nghệ thuật múa rối nước và múa rối cạn của
chúng ta đã khá thịnh đạt như bia Sùng Thiên Diên linh dựng ở chùa Đội (Hà
Nam Ninh) cũ đã ghi chép. Mặt khác trong nghìn năm sống dưới chế độ phong
kiến, nền kinh tế và văn hoá nước ta không có chuyển biến căn bản, cho nên đến
năm 1945 nông dân ta vẫn sinh sống với cảnh “con trâu đi trước, cái cày theo
sau”, với đạo phật, đạo lão, nho gia của kỷ nguyên Đại Việt.
Sân khấu múa rối nước dân gian vốn nằm bí truyền trong từng phường hội
gắn bó chặt chẽ với làng xóm vẫn gần như giữ nguyên, với những tiết mục phản
ánh chân thực cuộc sống trì trệ này. Như trò làm ruộng, trò đánh cá, trò dệt cửi,
trò hát củi, trò chăn trâu, trò xay lúa, giã gạo,... trò ông sư gõ mõ, bà vãi tụng
kinh, trò rồng hành mã, trò rồng phun nước, trò tứ linh, trò đua ngựa, chọi trâu,
đấu vật.
Tài liệu được tải từ website http://reportshop.com.vn
12
Những trò này gợi cho ta liên tưởng tới cảnh sinh hoạt của nhân dân vùng
Đồng bằng Bắc Bộ thời dân cư quần tự đông đúc, khai khẩn đất hoang, cày cấy

công minh với quân rối. Nước còn là một nhân vật, một nhân vật chính yếu nữa
chứ không phải chỉ là môi trường, chỉ là khung cảnh.
Sân khấu rối nước là loại sân khấu ngoài trời, là khoảng mặt nước giữa
buồng trò và nơi xem, dài khoảng từ 10m đến 15m. Sân khấu múa rối nước chỉ
thật hoàn chỉnh khi các hàng cờ bật lên mở đầu buổi diễn và cũng tự kết thúc khi
hàng quân rối sương, rối đô (hay còn gọi là quân đóng đường, quân lung linh,
quân ông ninh...) được kéo về hết. Sân khấu múa rối nước được đánh dấu bằng
mành cửa buồng trò ở phía sau, hai hàng lan can thấp (khoảng 0,20m) ở hai bên
(khi diễn có hàng cờ bật lên và hàng quân rối sương điểm tuyết) và thường có
một cồng chào (gọi là cửa sóc). Trước mặt cổng trào cũng là nơi cho quan rối
hoạt động như ở trên có các trò Rồng hành mã, Tiên múa, Đấu ngựa, đua xe
đạp... hoặc Rồng từ dưới nước leo lên cột cổng phun nước hay ngược lại. Cũng
có phường bố trí hai đầu lân trên cột và cho phun khói (gọi là lân phun khói).
Tài liệu được tải từ website http://reportshop.com.vn
14
Mặt khác sân khấu trường trống trơn khi chưa ra trò. Nhưng dưới mặt
nước này là nhiều hệ thống cọc dây của máy điều khiển các trò dây. Phần lớn
các hệ thống cọc, dây này đều từ trong buồng trò chạy ngầm ra, theo yêu cầu trò
diễn trong phạm vi sân khấu đã định để gây bất ngờ. Hội Đống chò trò trọi trâu
xa ngoài sân khấu hàng chục mét. Sân khấu múa rối nước cổ truyền không có
phông cảnh trang trí. Nó dùng ngay tấm mành cửa buồng trò làm phông hậu.
Các nghệ nhân cũng có khi quét màu và vẽ rồng phượng như kiểu mành thờ.
Trên sân khấu này thường có những đạo cụ đựng sẵn như cây đu cho trò đánh
đu, bụi cây cho trò chăn vịt, đánh cáo. Dạng tô điểm cho sân khấu rối nước cũng
phải kể đến những hàng lan can, hai nhà ranh (hay lầu nhỏ) hai bên cửa buồng
trò, những lá cờ, cái lọng, cái cổng chào... của trò Rồng hành mã, Lân phun
khói... Cùng những quân rối của trò “Quân long linh”.... Các vật này đều được
bố trí ở hai bên hoặc ra ngoài sân khấu để tránh vướng cho các máy sào hoạt
động.
Từ những năm ba mươi của thế kỷ XX, hội rối nước Đống Đa có sáng

gian bên cùng mái buồng trò là màn hậu của sân khấu. Nó chỉ phân chia ranh
giới giữa buồng trò và sân khấu ở trên mặt nước, còn phần dưới nước sân khấu
và buồng trò thông liền cả với ao hồ. Các quân rối ra vào sân khấu đều được đưa
qua mành này hoặc ngâm dưới chân rồi nổi lên hoặc hé mành đi ra.
Các phường hội múa rối nước Thái Bình cũng như tát cả các phường hội
nơi khác đều có buồng trò lưu động, làm bằng tre phên, và kích thước và hình
thức đều phỏng theo buồng trò cố định trên, chỉ có lòng buồng trò không chia
thành ba gian mà chỉ chia đôi theo chiều dọc. Phần ngoài cửa che mành rộng
khoảng hai mét, phần sàn bên rộng khoảng bốn mét. Mái làm bằng cót đan quét
màu đỏ vẽ ngõi bằng nét màu trắng. Buồng trò rối lưu động còn có hai lầu nhỏ
hai bên cạnh cửa thông với sân khấu.
Ở khoảng cách giữa hai mái các phường hội thường dùng làm nơi ném
các pháo vịt đốt từ trong buồng trò ra sân khấu. Buồng trò của sân khấu thùng
hội Đống chỉ nhỏ 3m x 3m theo kích thước thùng và làm ở ngoài, mái treo mành
chờm vào thành thùng 0,50m.
c. Quân
Tài liệu được tải từ website http://reportshop.com.vn
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status