HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ MINH NHÂM
VAI TRß CñA TRUYÒN TH¤NG §¹I CHóNG TRONG
THùC HIÖN QUYÒN TRÎ EM ë TØNH B×NH PH¦íC HIÖN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
HÀ NỘI - 2014
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ MINH NHÂM
VAI TRß CñA TRUYÒN TH¤NG §¹I CHóNG TRONG
THùC HIÖN QUYÒN TRÎ EM ë TØNH B×NH PH¦íC HIÖN NAY
Chuyên ngành : Xã hội học
Mã số : 62 31 30 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS NGUYỄN ĐÌNH TẤN
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng.
Các kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng
được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác.
Tác giả
Nguyễn Thị Minh Nhâm
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 12
1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 12
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 20
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 31
2.1. Cơ sở lý luận 31
2.2. Cơ sở thực tiễn nghiên cứu 48
THCS
:
Trung học cơ sở
THPT
:
Trung học phổ thông
TTĐC
:
Truyền thông đại chúng
UBND
:
Ủy ban nhân dân
UN
:
Liên hợp quốc
UNICEF
:
Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc
VOV
:
Đài Tiếng nói Việt Nam
VTV
:
Đài Truyền hình Việt Nam
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Mô hình truyền thông chu kỳ của Roman Jakobson
34
Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ các sản phẩm truyền thông về đề tài trẻ em trong tổng chương
trình trên Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước từ tháng 6 đến tháng
10/2012.
đến 10/2012.
60
Bảng 3.3. Số lượng sản phẩm truyền thông có mục đích đăng phát thể hiện vai
trò trong thực hiện quyền trẻ em của các phương tiện TTĐC tỉnh
Bình Phước, từ tháng 6 đến tháng 10/2012
65
Bảng 3.4. Số lượng sản phẩm truyền thông của các phương tiện TTĐC tỉnh
Bình Phước đã hình thành và thể hiện dư luận xã hội về việc thực
hiện quyền trẻ em, từ tháng 6 đến tháng 10/2012.
72
Bảng 3.5. Số lượng sản phẩm truyền thông của các phương tiện TTĐC tỉnh
Bình Phước có mục đích đăng phát kêu gọi giúp đỡ trẻ em khó khăn,
từ tháng 6 đến tháng 10/2012.
78
Bảng 3.6. Số lượng sản phẩm truyền thông của các phương tiện TTĐC tỉnh Bình
Phước có mục đích đăng phát nêu gương người tốt, việc tốt, mô hình
hay về thực hiện quyền trẻ em, từ tháng 6 đến tháng 10/2012.
81
Bảng 3.7. Số lượng sản phẩm truyền thông của TTĐC tỉnh Bình Phước có mục
đích đăng phát giám sát tình hình thực hiện quyền trẻ em, từ tháng 6
đến tháng 10/2012.
84
Bảng 3.8. Số lượng sản phẩm truyền thông của TTĐC tỉnh Bình Phước có mục
đích đăng phát giải trí cho trẻ em, từ tháng 6 đến tháng 10/2012.
90
Bảng 3.9. Số lượng sản phẩm truyền thông có mục đích đăng phát thông tin thể
hiện các vai trò đối với việc thực hiện quyền trẻ em, theo cơ quan
TTĐC, từ tháng 6 đến tháng 10/2012.
93
Bảng 3.10. Kết quả điều tra đánh giá của công chúng người lớn về chất lượng các
hình thành các liên kết xã hội, hướng dẫn, định hướng nhận thức, thái độ và hành vi
cho công chúng. Trong xã hội bùng nổ thông tin như hiện nay, TTĐC, mà trung tâm
là báo chí trở thành một trong những tác nhân xã hội hóa không chính thức rất quan
trọng của con người. Theo đó, TTĐC là một trong những công cụ được Đảng, Nhà
nước ưu tiên sử dụng cho công tác tuyên truyền thực hiện quyền trẻ em ở Việt Nam.
Ngày 20-02-1990, Việt Nam ký Công ước quốc tế về quyền trẻ em (sau
đây xin gọi tắt là CRC), là nước đầu tiên ở châu Á, nước thứ hai trên thế giới
chính thức cam kết ra sức bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Việc làm này có
ý nghĩa hết sức quan trọng, đã thể hiện rõ lập trường, quan điểm nhất quán của
Đảng, Nhà nước ta coi nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một nội
dung cơ bản của chiến lược con người trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
đất nước, phù hợp với truyền thống đạo lý tốt đẹp “kính già, yêu trẻ” của dân tộc
Việt Nam. Qua 24 năm thực hiện CRC, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều
chủ trương, chính sách, luật đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em, đặc biệt là việc bổ sung, sửa đổi, ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em năm 2004 (lần đầu ban hành năm 1991). Việc thực hiện quyền trẻ em
ở nước ta đã đạt được những thành quả quan trọng, được Nhân dân trong nước
và cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn đứng trước rất
nhiều thách thức trong việc đảm bảo mọi trẻ em đều được hưởng đầy đủ các
quyền của mình. Tình trạng vi phạm quyền trẻ em ở mức độ nghiêm trọng như bị
giết chết, bạo hành, xâm hại tình dục, lao động sớm, không được chăm sóc sức
khỏe,… còn xảy ra ở nhiều nơi.
TTĐC tích cực tuyên truyền, kêu gọi, cổ vũ các tổ chức, cá nhân, cộng
đồng thực hiện quyền trẻ em, bảo vệ quyền trẻ em, đáng chú ý là việc phanh
2
phui, đưa ra ánh sáng các vụ việc bạo hành, xâm hại tình dục trẻ em gây chấn
động dư luận xã hội trong thời gian gần đây. Bên cạnh những mặt tích cực là cơ
bản, đôi khi quyền trẻ em chưa được các phương tiện TTĐC tuyên truyền thấu
đáo, vì thế đã có những cách hiểu không đầy đủ bản chất khái niệm, có những
hành xử và phản ứng không đúng trong quá trình triển khai thực hiện. Có lúc, có
Thứ nhất: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu vai trò của TTĐC
trong thực hiện quyền trẻ em.
Thứ hai: Phân tích thực trạng vai trò của các phương tiện TTĐC tỉnh Bình
Phước trong thực hiện quyền trẻ em ở địa phương hiện nay. Trong đó có những
đánh giá từ phía công chúng tỉnh Bình Phước.
Thứ ba: Phân tích các nhân tố tác động đến vai trò của TTĐC tỉnh Bình
Phước trong thực hiện quyền trẻ em ở địa phương hiện nay. Đưa ra các dự báo xu
hướng biển đổi vai trò.
Thứ tư: Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường vai trò của TTĐC trong
thực hiện quyền trẻ em trong thời gian tới.
3. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các vai trò của TTĐC tỉnh Bình Phước trong việc thực hiện quyền trẻ em ở
địa phương hiện nay.
3.2. Khách thể nghiên cứu
- Cơ quan TTĐC của tỉnh được chọn nghiên cứu.
- Cán bộ truyền thông các cơ quan TTĐC được chọn nghiên cứu.
- Công chúng Bình Phước (trẻ em và người lớn).
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: 2010-2013.
- Không gian nghiên cứu: tỉnh Bình Phước.
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu vai trò của các phương
tiện TTĐC tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em ở địa phương. Các cơ
quan TTĐC được chọn để nghiên cứu là: Báo Bình Phước; Đài Phát thanh và
4
Truyền hình Bình Phước; bốn Đài truyền thanh và truyền hình cấp huyện (gồm thị
xã Đồng Xoài - trung tâm của tỉnh, nơi có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển;
huyện biên giới, đặc biệt khó khăn, mới thành lập Bù Gia Mập; huyện miền núi còn
nhiều khó khăn Bù Đăng; huyện Đồng Phú đang phát triển khá mạnh). Đề tài giới
hạn nghiên cứu trong bốn loại hình báo chí (báo in, truyền hình, phát thanh, báo
Tuy nhiên, người phỏng vấn vẫn được đưa thêm câu hỏi bổ sung để làm rõ
những mâu thuẫn trong quá trình trả lời và gợi ý thêm các phương án trả lời cho
câu hỏi mở.
- Phỏng vấn 582 công chúng người lớn trên địa bàn huyện Bù Đăng, Đồng
Phú, Bù Gia Mập và thị xã Đồng Xoài. Mỗi huyện, thị chọn hai đơn vị để khảo sát
là hai xã, phường/thị trấn có mức độ phát triển kinh tế - xã hội chênh lệch nhau (xã
Tân Thành và phường Tân Phú, thị xã Đồng Xoài; xã Tân Lợi và thị trấn Tân Phú,
huyện Đồng Phú; xã Thọ Sơn và thị trấn Đức Phong, huyện Bù Đăng; xã Phú Riềng
và Long Hà, huyện Bù Gia Mập). Công thức mẫu là:
n: dung lượng mẫu cần điều tra; N: tổng số người dân = 19.088 dân (tổng số dân của 8
xã); t: hệ số tin cậy 1,96 (ứng với mức độ tin cậy 95%); d: phạm vi sai số tối đa cho phép là 4%.
Tác giả chọn ngẫu nhiên hệ thống 72 hoặc 73 cha mẹ trong các gia đình có
trẻ em ở mỗi xã, phường, thị trấn theo danh sách chủ hộ gia đình. Chỉ hỏi người có
đón xem các chương trình về trẻ em trên các phương tiện TTĐC tỉnh Bình
Phước. Tổng mẫu là 582 người; đạt yêu cầu và hợp lệ là 535 người, chiếm 91,9%.
- Đối với công chúng trẻ em: Cũng với công thức tính mẫu như trên,
trong đó N= 26.184; t = 1,96 (mức độ tin cậy 95%); phạm vi sai số cho phép 6%,
tiến hành phỏng vấn 264 trẻ em từ 12 đến dưới 16 tuổi có đón xem các chương
trình trẻ em trên Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước. Các em là học sinh
một trường tiểu học và một trường THCS ở huyện Đồng Phú và thị xã Đồng
Xoài. Tổng mẫu là 264 người; đạt yêu cầu và hợp lệ 206 người, chiếm 78,0%.
- Đối với cán bộ truyền thông: phỏng vấn 185 người là lãnh đạo, phóng
viên, biên tập viên, phát thanh viên các cơ quan TTĐC được nghiên cứu, bằng cách
chọn ngẫu nhiên. Số trường hợp đạt yêu cầu và hợp lệ là 164, chiếm 88,6%.
6
Bảng 1.1. Đặc điểm mẫu điều tra
Công chúng
người lớn
Công chúng
trẻ em
Đại học: 80,5%
Cao đẳng: 3,8%
Học sinh lớp 7: 25,3%
Cao đẳng: 6,1%
Trung cấp: 8,5%
Trung cấp: 22,6%
Trình độ khác: 2,5%
Tốt nghiệp THPT: 18,7%
Chuyên môn báo
chí: 57,7%
Tốt nghiệp THCS: 22,8%
Hết tiểu học: 4,0%
5. Trình độ học vấn
Chưa hết tiểu học: 0,5%
Chuyên môn khác:
42,3%
Công chức: 51,1%
Nông dân: 27,7%
Cán bộ hưu trí: 7,5%
Giáo viên: 5,0%
Công nhân: 3,7%
Buôn bán, doanh
nghiệp: 2,3%
Nội trợ: 2,1%
6. Nghề nghiệp
Làm thuê: 0,6%.
Giàu: 1,0%
Giàu: 3,2%
Khá: 13,5%
Khá: 52,8%
thông điệp về trẻ em trên các phương tiện TTĐC tỉnh Bình Phước được nghiên cứu
(Xem phiếu mã hóa Phụ lục) để thống kê tần suất sử dụng các phạm trù trẻ em, học
sinh (dưới 16 tuổi), quyền trẻ em; liên quan đến trẻ em, hoạt động bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em. Tác giả luận án mã hóa và xử lý bằng chương trình SPSS 16.0
toàn bộ 2.222 sản phẩm truyền thông về trẻ em trên Đài huyện Đồng Phú, Bù Gia
Mập, Bù Đăng và thị xã Đồng Xoài, Báo Bình Phước in, Báo Bình Phước điện tử,
Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước từ tháng 6 đến tháng 10/2012.
Bảng 1.2. Cơ cấu mẫu phân tích nội dung thông điệp
Cơ quan truyền thông
Số lượng sản phẩm truyền thông được phân tích
Tỷ lệ
1. Báo Bình Phước
218
9,8
Báo in
149
Báo mạng điện tử
69
2. Đài Phát thanh và
Truyền hình Bình Phước
1.624
73,1
Kênh truyền hình BPTV 1
556
Kênh truyền hình BPTV 2
608
Phát thanh
460
3. Đài huyện Bù Gia Mập
39
kết quả đã đạt được, thuận lợi, khó khăn và đề xuất kiến nghị giải pháp.
4.2.2.4. Phương pháp quan sát
Dùng để tìm hiểu: việc sử dụng các phương tiện TTĐC của người dân; tình
hình thực hiện quyền trẻ em ở gia đình, nhà trường và cộng đồng; tình hình thông
tin, tuyên truyền về quyền trẻ em trên TTĐC.
5. Giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích
5.1. Giả thuyết nghiên cứu
Thứ nhất: TTĐC thực hiện được vai trò vận động, khuyến khích và được
công chúng đánh giá cao nhất. Vai trò thông tin, tuyên truyền, giáo dục được thực
hiện tốt hơn vai trò giám sát. Vai trò giám sát không thực hiện tốt bằng vai trò hình thành
và thể hiện dư luận xã hội. TTĐC thực hiện vai trò giải trí cho trẻ em hạn chế nhất.
Thứ hai: Việc thực hiện các vai trò của TTĐC tỉnh Bình Phước trong thực
hiện quyền trẻ em phụ thuộc vào đặc điểm nhân khẩu xã hội, nhận thức, thái độ về
quyền trẻ em và hành vi tác nghiệp của cán bộ truyền thông.
Thứ ba: Vai trò của TTĐC tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em bị
chi phối bởi tôn chỉ, mục đích, cơ cấu tổ chức của cơ quan truyền thông, các hoạt động
truyền thông cũng như chính sách về TTĐC, quyền trẻ em và vai trò của TTĐC trong
thực hiện quyền trẻ em và điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của địa phương.
9
5.2. Khung phân tích
- Công ước quốc tế về quyền trẻ em (CRC)
- Chính sách, pháp luật về TTĐC và quyền trẻ em
- Đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương
Hoạt động truyền thông
(Loại hình truyền thông;
thời điểm truyền thông)
Đặc điểm của các cơ
quan truyền thông (tôn
chỉ, mục đích; cơ cấu tổ
chức hoạt động)
* Biến độc lập:
- Đặc điểm cơ quan truyền thông (tôn chỉ, mục đích, cơ cấu tổ chức hoạt động).
- Hoạt động truyền thông về trẻ em: thời điểm truyền thông, loại hình
truyền thông.
- Đặc điểm xã hội của cán bộ truyền thông (đặc điểm nhân khẩu xã hội;
nhận thức, thái độ về quyền trẻ em, hành vi tác nghiệp).
* Biến phụ thuộc: Các đặc điểm của việc thực hiện vai trò của TTĐC trong
thực hiện quyền trẻ em:
- Thông tin, tuyên truyền, giáo dục về thực hiện quyền trẻ em.
- Hình thành và thể hiện dư luận xã hội về thực hiện quyền trẻ em.
- Vận động, khuyến khích thực hiện quyền trẻ em.
- Giám sát tình hình thực hiện quyền trẻ em.
- Giải trí cho trẻ em.
Các vai trò này được xác định dựa trên các chức năng của TTĐC. Giữa các
vai trò có mối liên hệ mật thiết với nhau. Vai trò của TTĐC tỉnh Bình Phước trong
thực hiện quyền trẻ em ở địa phương hiện nay được đo trên các chỉ báo: 1. Số
lượng, tỷ lệ sản phẩm truyền thông có mục đích đăng phát thông tin thể hiện vai trò
từ kết quả phân tích thông điệp truyền thông, so với ý kiến của cán bộ truyền thông;
2. Chất lượng nội dung, hình thức thể hiện, ưu điểm, hạn chế của vai trò; 3. Ý kiến
đánh giá của công chúng về hiệu quả và việc thể hiện các vai trò.
* Biến can thiệp:
- Công ước quốc tế về quyền trẻ em (CRC); hệ thống chính sách về TTĐC,
về quyền trẻ em và vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em.
- Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương: chuẩn mực xã hội; phong
tục tập quán; trình độ dân trí; các hoạt động truyền thông khác về quyền trẻ em…
6. Điểm mới, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Điểm mới của đề tài
Thứ nhất, về khách thể nghiên cứu: Đây là nghiên cứu đầu tiên về vai trò
của TTĐC trong việc thực hiện quyền trẻ em thông qua bốn loại hình báo chí và
11
1.1.1. Hướng nghiên cứu lý luận về vai trò của truyền thông đại chúng
Từ đầu thế kỷ XX, với việc phát minh ra vô tuyến điện và sự ra đời của đài
phát thanh chi phối đời sống tinh thần của xã hội hiện đại, TTĐC đã trở thành đối
tượng nghiên cứu của xã hội học. Năm 1910, M. Weber luận chứng về mặt phương
pháp luận cho sự cần thiết của môn xã hội học báo chí, bản thân ông cũng là một ký
giả chính trị rất nổi tiếng vạch ra các vấn đề nghiên cứu như hướng vào các tập
đoàn, các tầng lớp xã hội khác nhau; phân tích các yêu cầu của xã hội đối với nhà
báo; coi trọng phương pháp phân tích báo chí; phân tích hiệu quả báo chí đối với
việc xây dựng con người [83, tr.4].
Các nhà xã hội học lý giải vai trò của TTĐC bằng các quan điểm chức
năng luận. R.Merton bàn về chức năng công khai, chức năng tiềm ẩn và hiệu quả
thực sự của TTĐC. Lasswell bàn về chức năng kiểm soát môi trường xã hội; liên
kết các bộ phận của xã hội với nhau; truyền tải di sản xã hội từ thế hệ này sang thế
hệ khác. Charles Wright bổ sung thêm chức năng giải trí.
Daniel Lerner cho rằng, một trong những điều kiện và đặc điểm của quá
trình chuyển đổi từ các xã hội cổ truyền sang xã hội hiện đại chính là sự chuyển tiếp
từ truyền thông miệng sang TTĐC [112]. Nhà chính trị học, xã hội học người Đức
Elisabeth Noelle Neumann (1916-2010) đề nghị, phải xem xét vai trò của TTĐC
như một vấn đề quan trọng, ngang tầm với các vấn đề như bảo vệ môi trường và
bùng nổ dân số. Bà khẳng định, ngoài việc ngủ và làm việc, với những gì TTĐC
mang lại, con người gần như không còn thời gian trống [191, tr.51-52].
Douglas M.McLeod và James K.Hertog khẳng định, TTĐC đóng một vai trò
quan trọng như một công cụ kiểm soát xã hội [191, tr.309]. Các nhà xã hội học khác
quan tâm đến chức năng cảnh báo; chức năng đáp ứng nhu cầu thực tế hàng ngày của
người dân trong xã hội; chức năng nâng cao một hình ảnh xã hội, hay hợp thức hóa một
vị trí xã hội; chức năng củng cố sự kiểm soát của xã hội qua áp lực của dư luận xã hội.
13
TTĐC có vai trò xã hội hóa con người, thi hành các chuẩn tắc xã hội, ban phát thân
trạng và giúp con người biết về môi trường xã hội [110], [121], [206].
Theo Michael Schudson, hệ thống truyền thông phục vụ nền dân chủ cần
tiện TTĐC liên quan đến các định nghĩa về tội phạm và vai trò của TTĐC góp phần
vào việc phóng đại các hình ảnh tội phạm cho khán giả. Các nhà nữ quyền cho rằng,
TTĐC đúc khuôn và thể hiện sai lạc thực tại xã hội về vai trò của nam giới và nữ
giới, cũng như mối quan hệ giữa hai giới này [121, tr.222-223]. Điều này đã được
Peter L.Berger bàn đến dưới góc độ lý luận về mối quan hệ giữa con người và xã
hội với quan niệm con người kiến tạo nên thế giới của mình, con người vừa bị câu
thúc bởi xã hội, nhưng lại vừa có sự chủ động, tích cực nhất định [dẫn theo 114].
Trong xã hội hiện đại, TTĐC được xem là một “người truyền bá” diễn
ngôn. TTĐC gửi những “thông điệp” về cách thức mọi việc diễn ra, có thể diễn ra
và nên diễn ra. Điều này rất đúng với nhận định của Newbold và cộng sự, những gì
tái hiện trên TTĐC là “sự hình thành/kiến tạo thực tại của TTĐC là mối quan hệ
giữa cái thuộc về tư tưởng và cái thuộc về hiện thực” [dẫn theo 58]. Sự kiến tạo nên
các giá trị giới vừa là sản phẩm vừa là quá trình của những tái hiện trên TTĐC.
Nghiên cứu của tổ chức Children now (Mỹ)về ảnh hưởng của TTĐC đối với trẻ em
và thanh thiếu niên đã nhận xét, những hình ảnh nam giới được tái hiện trên TTĐC
đã và đang củng cố, ủng hộ các thái độ xã hội về mối liên hệ giữa nam tính và
quyền lực, sự ưu trội và quản lý [dẫn theo 58].
Mc Combs và Shaw đề xướng lý thuyết về chức năng “Thiết lập chương trình
nghị sự” [110, tr110] với giả thuyết cho rằng, TTĐC có chức năng thu hút sự chú ý của
công luận vào một số vấn đề thời sự nhất định. Hầu hết những vấn đề mà cử tri đang
quan tâm chú ý đều là những vấn đề được nhấn mạnh trên các phương tiện truyền
thông. TTĐC hoàn toàn có thể lèo lái công chúng quan tâm tới một số vấn đề nào đó
hoặc né tránh một số vấn đề khác. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lưu ý rằng, ý kiến
hay quan điểm của công chúng đối với một vấn đề nào đó có thể không thay đổi dưới
tác động của truyền thông, nhưng vẫn có thể trở thành một đề tài quan trọng đối với họ.
Trong lịch sử phát triển của TTĐC đã có nhiều mô hình truyền thông: mô
hình công thức 5W (ai, nói cái gì, bằng kênh nào, nói cho ai và có hiệu quả gì) của
Harold Lasswell [110, tr.14]. Tuy nhiên, quan niệm này bị chỉ trích vì quan niệm
15
quá trình truyền tin một chiều và người ta nhận tin một cách bị động. Sau đó các
hưởng về kinh tế, chính trị [121, tr.218]. Có nhà nghiên cứu lại quan niệm, người
gác cổng làm nhiệm vụ chọn lọc tin tức đăng tải trong một khối lượng lớn tin tức để
công chúng dễ theo dõi. Họ phải chịu nhiều áp lực, đó là chủ trương, đường lối của
cơ quan mà người đó làm việc; là áp lực cá nhân, áp lực nghề nghiệp và áp lực xã
hội [dẫn theo 110, tr.83-86]. Michael de Coster cho rằng, nội dung thông điệp được
đăng phát trên TTĐC là kết quả của một sự thỏa hiệp và đồng tình giữa tác giả và
nhà sản xuất (hoặc người chủ báo) [dẫn theo 110, tr.87; 201, tr.170].
Paul Lazarsfeld, Berelson, Gaudet và Katz đặc biệt nhấn mạnh vai trò của
người lãnh đạo dư luận, ảnh hưởng của các mạng lưới giao lưu đến sự hình thành chính
kiến của con người. Từ đó, họ nhận định TTĐC chỉ có tác dụng củng cố thêm ý kiến và
quyết định người tiếp nhận đã sẵn có từ trước [dẫn theo 103, tr.208]. Tuy nhiên, khán
thính giả lý giải, tiếp nhận truyền thông không phải lúc nào cũng như nhau, mà bị ảnh
hưởng bởi các tính cách xã hội như nghề nghiệp, chủng tộc, trình độ học vấn và lợi tức
[121, tr.226-227]. J.Klapper đặt ra thuật ngữ yếu tố trung gian để mô tả đặc điểm của
khán giả như tuổi tác, giới tính, độ thông minh, bản chất tâm lý và hoàn cảnh xã hội,
tác động mạnh hơn bản chất thực tế của chính các phương tiện truyền thông [dẫn theo
191, tr.55]. Greg Philo (1990) cho rằng, nền tảng văn hóa và kinh nghiệm cá nhân của
công chúng có vai trò rất quan trọng trong quá trình tiếp nhận thông tin TTĐC. Người
tiếp nhận hiểu thông điệp theo cách nào tùy thuộc vào kiến thức, lợi ích và tùy theo
những điều mà họ nghe được từ những người họ tin cậy. Thông điệp được phát đi sau
khi dung hòa được với ý tưởng chính trị của người dân thì mới tác động lên hệ giá trị
của người dân [103, tr.325]. Kinh nghiệm cá nhân, ý thức chính trị, địa vị xã hội có thể
làm thay đổi niềm tin của con người vào TTĐC. Tuy nhiên, kinh nghiệm và nhân thân
không thể được tạo ra nếu không có truyền thông.
Điểm luận các hướng nghiên cứu lý luận về vai trò của TTĐC của xã hội
học thế giới, tác giả luận án có được những thông tin quan trọng để xác định: Các
vai trò của TTĐC tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em; sử dụng thuyết
kiến tạo xã hội để phân tích thực trạng truyền thông về quyền trẻ em; có được tri
thức xã hội học TTĐC để phân tích các nhân tố tác động đến thực trạng vai trò của
TTĐC tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em ở địa phương hiện nay.
trong bốn cuộc tranh luận trên truyền hình năm 1960… [110, tr.95-96].