HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ ẤN ĐỘ TRONG TIỂU THUYẾT “ĐẮM THUYỀN” CỦA ĐẠI THI HÀO R. TAGORE - Pdf 27

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC
------

TIỂU LUẬN
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ ẤN ĐỘ TRONG TIỂU THUYẾT
“ĐẮM THUYỀN” CỦA ĐẠI THI HÀO R. TAGORE
Giáo viên hướng dẫn : TS. Đỗ Thu Hà
Sinh viên : Nguyễn Thị Tuyết Nhung
Lớp : K47-Văn học
Hà Nội - 2004
1
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Từ xa xưa Ấn Độ đã được coi là cái nôi của nền văn minh nhân
loại. Không chỉ giàu đẹp bởi nguồn của cải từ thiên nhiên mà Ấn Độ còn
có một kho tàng văn hoá rất có giá trị - từ đây Ấn Độ đã góp phần cho sự
phong phú và đa dạng của nền văn học Ấn Độ nói riêng và văn học
phương Đông nói chung. Bên cạnh những công trình nghệ thuật tuyệt vời
cùng giá trị tinh thần cao quý đó là sự góp mặt của các thiên tài như
Mahatma Găng đi, G.Nêru, R.Tagore... Chính vì lí do đó mà để hiểu biết
sâu hơn về đất nước và con người Ấn Độ ta sẽ bắt đầu tìm hiểu từ nền
văn học của nước này - qua đó ta sẽ hiểu sâu hơn về giá trị tinh thần của
văn minh phương Đông, phong phú đa dạng nhưng cũng đậm đà bản sắc
riêng.
Đặc biệt ở đây ta đi tiàm hiểu thêm về người phụ nữ Ấn Độ từ
trước đến nay luôn bị kìm toả bởi lề thói hà khắc. Đứng trước sự tiếp
nhận của nền văn hoá mới cũng như dưới con mắt nhìn tiến bộ của R.
Tagore - một nhà thơ, nhà văn... Ấn Độ ta sẽ thấy hình tượng người phụ
nữ Ấn Độ hoàn toàn mới trong quan điểm về tình yêu và hôn nhân.

Việt Nam về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết “Đắm thuyền”
(1989). Đây cũng là sự gợi mở cho công tác nghiên cứu tiểu thuyết
Tagore cho những ai có tâm huyết và say mê. Qua lời dịch của ông nghệ
thuật đặc sắc cũng như nội dung phong phú dẫn đến với người đọc, nhất
là hình tượng sinh động của hai người phụ nữ Kamala và Hemnalini.
Hay nhận xét của tác giả Đào Anh Kha về phong cách nghệ thuật
của Tagore. “Tagore thường tránh cách dùng lý trí để miêu tả và phân
tích tâm lí các nhân vật như một số đông các nhà văn khác, ở đây ông sử
dụng tài tình phương tiện của thiên nhiên. Dưới ngòi bút của ông thiên
nhiên có mặt khắp nơi, mọi lúc và bao giờ cũng mang nặng tâm tư, mọi
sắc thái của cảnh vật đều phản ánh những biến động của tâm hồn”.
3
Từ các công trình nghiên cứu của các tác giả lớn đến các khoá luận
của các sinh viên đều muốn đi sâu tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp cũng như
sáng tác của Tagore: Trịch Bích Liên với luận văn tìm hiểu đặc sắc nghệ
thuật trong truyện ngắn. “Mây và mặt trời” của Tagore, năm 1992 Đỗ
Thị Quỳnh Hương với luận văn viết về đề tài “thiên nhiên” trong tập
truyện “Mây và mặt trời” của Tagore. Và đến năm 1994 Trần Thị Loan
với bài luận về “Nghệ thuật miêu tả tâm lý qua nhân vật Ramesh trong
“Đắm thuyền” tiểu thuyết của Tagore đã bước đầu đi sâu tìm hiểu phong
cách Tagore trong thể loại tiểu thuyết.
Ở phạm vi nhỏ của bài niên luận này người viết muốn tiếp bước
những người đi trước: khai thác một đề tài cũ trong thơ văn xưa nay
nhưng lại rất mới trong thơ văn Tagore - đó là hình tượng người phụ nữ
Ấn Độ trong tiểu thuyết “Đắm thuyền” của đại thi hào Tagore.
III. MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA ĐỀ TÀI:
Như ta đã biết: “Ảnh hưởng của Tagore đối với tinh thần Ấn Độ và
đặc biệt các thế hệ đang kế tiếp nhau lớn lên là to lớn. Không chỉ tiếng
Bengal là ngôn ngữ ông dùng để viết mà tất cả các ngôn ngữ của Ấn Độ
đã được nhào nặn một phần bởi những tác phẩm của ông. Hơn bất cứ

Trong bài viết này, người viết chủ yếu dựa vào bản dịch “Đắm
thuyền” của Lưu Đức Trung, Trương Thị Thu Vân và Hoàng Dũng. Bên
cạnh đó người viết còn tham khảo cuốn tiểu thuyết “nàng Binôdini” cùng
một số truyện ngắn của Tagore cũng viết về đề tài người phụ nữ (“Cô
dâu bé nhỏ” - Nguyễn Văn dịch ; “Mây và mặt trời” - Hoàng Cường dịch
của Tagore.
Nghiên cứu đề tài này người viết dựa vào một số phương pháp chủ
yếu sau:
1. Đặt “Đắm thuyền” trong mối tương quan với các tiểu thuyết và
truyện gnắn của Tagore để làm nổi bật hình tượng người phụ nữ Ấn Độ
trong bút pháp của nhà văn.
2. Kết hợp phân tích với tổng hợp để làm rõ vấn đề trong đề tài.
5
3. Sử dụng phương pháp liên hệ đối chiếu so sánh qua cách cảm
nhận riêng mà làm nổi bật hơn nữa hình tượng người phụ nữ trong tác
phẩm.
6
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I R. TAGORE VÀ TIỂU THUYẾT “ĐẮM THUYỀN”
I. RABINDRÂNGHỆ THUẬT TAGORE.
1. Vài nét về tác giả R. tagore.
Rabindranath Tagore (1861 - 1941), nhà văn hoá lỗi lạc của Ấn Độ
và thế giới. Trong lĩnh vực văn học và nghệ thuật ông đã cống hiến nhiều
thành tựu xuất sắc. Ông đã để lại 52 tập thơ, 42 vở kịch, 12 bộ tiểu
thuyết, hàng trăm truyện ngắn, bút kí, tiểu luận, diễn văn, hồi ức, thư tín
cùng hàng ngàn ca khúc, hàng ngàn tranh vẽ vô giá.
Tập lời dâng (Gitanjah) do ông sáng tác và dịch từ tiếng Bengalrra
tiếng Anh được giải thưởng Nobel năm 1913, không chỉ là niềm tự hào
của nhân dân Ấn Độ mà của cả châu Á, Tagore là người châu Á đầu tiên
được vinh dự này. Lời dâng là “kì công thứ hai” trong lịch sử văn học

cùng với bút pháp nghệ thuật khác nhau. Nội dung luôn luôn hướng về
tinh thần nhân đạo và lòng yêu tự do.
Tagore viết Truyện ngắn muộn hơn làm thơ. Năm 16 tuổi (1887)
ông cho ra mắt bạn đọc truyện ngắn đầu tay. “người ăn mày kì dị”. Từ đó
trở đi truyện ngắn của ông ngày càng sâu sắc. Với những đề tài phong
phú mang nhiều màu sắc lấy từ trong đời sống thực tế xã hội hoặc lấy từ
thần thoại, cổ tích, truyền thuyết lịch sử... Tagore đã hướng ngòi bút của
mình về mục đích vạch trần bản chất xã hội phong kiến thuộc địa, thức
tỉnh nhân dân Ấn Độ giải phóng mình ra khỏi áp bức, bóc lột. Với tinh
thần nhân đạo sâu sắc cùng cái nhìn tinh tế ông đã nhẹ nhàng kín đáo
phơi bày bộ mặt tàn ác của thế lực đen tối trong xã hội qua nhiều câu
chuyện thật cảm động, đau xót, uất hận, tràn đầy nước mặt. Ông dành
cho nhân dân lao động cùng khổ một địa vị xứng đáng trong tác phẩm.
Đặc biệt người phụ nữ Ấn Độ được ông đồng cảm và quý trọng, ông
miêu tả một cách chân thực sâu sắc cảnh ngộ của họ. Từ xưa phụ nữ Ấn
Độ là nạn nhân cùng cực trong xã hội phân biệt đẳng cấp. Họ là đối
tượng thường bị lễ giáo phong kiến giày vò, đày đoạ, áp bức, họ là vật hi
sinh của tăng lữ Bàlamôn. Câu chuyện Dàn hoả thiêu và quan chánh án...
8
là những tác phẩm tiêu biểu. Bên cạnh đó ta cũng bắt gặp hình ảnh trí
thức Ấn Độ trong truyện ngắn Tagore (những sinh viên, luật sư, bác sĩ,
công chức, thầy kí...) những người ít nhiều bị chính sách nô dịch của
thực dân lừa phỉnh. Kết quả truyện ngắn Tagore đa dạng phức tạp (có
truyện rất dài mà có truyện rất ngắn độ mấy chục dòng) mang tính hiện
thực rất sâu sắc. Ông còn kết hợp tính huyền ảo và hiện thực khiến cho
tác phảm đều có dứcgợi cảm và hấp dẫn.
Tuy trong sự nghiệp sáng tác Tagore không thành công lắm trong
thể loại tiểu thuyết nhưng ít nhiều ông cũng để lại những tác phẩm mang
đậm tính nhân văn và tinh thần nhân đạo lớn. Nội dung tiểu thuyết ông
thương hướng tới sự nghiệp giải phóng dân tộc, thức tỉnh nhân dân Ấn

luận và nhà giáo dục học xuất sắc. Các tiểu luận, Diễn văn, Hồi ức, Thư
tín của ông đã thể hiện rõ điều đó. Tagore vốn xuất thân trong một gia
đình quý tộc theo tôn giáo Bàlamôn, về sau cả gia đình ông đều ra khỏi
tôn giáo này. Tagore tự tìm cho mình một thứ tôn giáo, đó là “tôn giáo
của con người” (Religion of man). Những quan niệm về tôngiáo của con
người thường được ông trình bày bằng những tiểu luận, bài nói chuyện,
bài giảng ở trường Santiniketan và các nơi khác trên thế giới. Về sau
được tập lại trong cuốn Sacthana (Thực hiện toàn mãn). Về mặt lí luận
văn học có những tác phẩm sau: “nghệ thuật là gì?”, “Thơ ca hiện đại”…
Bên cạnh đó ông cũng thể hiện tư tưởng của một nhà giáo dục học xuất
sắc. Vào những năm đầu thế kỉ XX đã có nhà nghiên cứu E.Fieczinska
viết bằng tiếng Pháp công trình “Gagore - nhà giáo dục” (Tagore -
E’ducateur). Qua bài (Trường học của tôi” nổi tiếng của Tagore viết sau
những năm thành lập trường Santiniketan, ông đã thể hiện một quan
điểm giáo dục rất tiến bộ, giáo dục toàn diện, học và hành, kết hợp với
lao động sản xuất.
Tagore đã có những chuyển đi thăm nhiều nơi trên thế giới tham
gia các buổi nói chuyện, diễn thuyết (trong đó có cả Việt Nam) từ năm
1916 đến 1930. Không chỉ được bộc lộ quan điểm lên án chủ nghĩa thực
dân, đề cao chủ nghĩa dân tộc, kêu gọi đông tây hoà hợp… ông còn có
10
dịp làm quen với rất nhiều nhân vật nổi tiếng trên văn đàn thế giới (như
nhà văn Pháp Romain Rolland, nhà thơ Anh Sturge Meore, nhà văn Đức
Thomas Mann, nhà thơ Mỹ Rober t Frost) cũng như trên các lĩnh vực
khoa học (nhà vật lí Albert Einstein, nhà giáo dục học John Dewey…).
Rabindranath Tagore là con người đa cảm, đa tình, giàu lòng yêu
thương con người. Tuy xuất thân trong gia đình quý tộc cao quý, nhưng
ông đã vượt qua hàng rào đẳng cấp để kết hôn với một cô gái con của
một tá điền trong trang trại của cha ông là nàng Mrinalim Devi. Tình
cảm giữa vợ chồng ông rất thắm thiết. Nhưng bức thư gửi cho vợ của

giữa con người trong xã hội (“Nàng Binôdini”, “Đắm thuyền”, là những
tiểu thuyết xuất sắc về mặt này.
Để hiểu rõ hơn nữa về quan niệm của Tagore trong thể loại diễn
thuyết này có lẽ ta bắt đầu từ quan niệm về thơ của chính tác giả.
Là một nhà thơ nổi tiếng, Tagore đã từng quan niệm về thơ như
sau:
“Đâu phải thơ được viết chỉ để cắt nghĩa một điều gì đó, khi tình
cảm tự tìm cho mình một hình thức để bộc lộ ra ngoài, chúng ta có thơ.
Cũng như nụ cười và nước mắt thực chất cảu thơ là phản ánh một cái gì
được hoàn thiện từ bên trong”.
Nhưng đến thể loại tiểu thuyết ông đã im lặng để cho tác phẩm của
mình lên tiếng. Chẳng vì thế mà ông đã đặt giải Nobel văn học với mười
hai bộ tiểu thuyết đó sao?
Đúng như Cheliev (Liên Xô cũ) nhận xét.
“Tagore là một tổng hợp thiên tài kì diệu của văn học Ấn Độ từ
Upanishad qua tài liệu Phật giáo đến thơ Kalidasa rồi tinh thần nhân đạo
thời trang cổ, cùng với tính chất lãng mạn tiến bộ trong văn học Anh và
tinh thần đấu tranh chống đế quốc giành độc lập của nhân dân Ấn Độ”.
Ta thấy trong tiểu thuyết của Tagore một tư tưởng thần bí của tôn
giáo, lãng mạn của thơ ca, triết lý nhân văn hay tính giáo dục lớn…
Cũng như truyện ngắn, chất hiện thực và lãng mạn trong tiểu thuyết của
Tagore rất sâu đậm, lối miêu tả nội tâm nhân vật là thủ pháp đặc sắc của
12
ông. Yếu tố thiên nhiên trong tiểu thuyết cúng là nét đặc sắc. Thiên
nhiên trở thành “như im lặng” thường đồng cảm, chứng kiến, hoà hợp
với tâm trạng nhân vật trong tuyện, tạo nên chất trữ tình nồng thắm.
Có lẽ tư tưởng nổi bật nhất trong tiểu thuyết Tagore là chủ nghiã
nhân đạo lớn. Ở cấp độ thế giới quan, chủ nghĩa nhân đạo (còn gọi là chủ
nghĩa nhân văn), “là toàn bộ những tư tưởng, quan điểm, tình cảm quý
trọng các giá trị người như trí tuệ, tình cảm, phẩm giá, sắc mạnh, vẻ đẹp.

II. TIỂU THUYẾT “ĐẮM THUYỀN”.
Nếu nói về đề tài tình yêu trong tiểu thuyết Tagore ta không thể
không nói đến “Đắm thuyền” - một tiểu thuyết được coi là xuất sắc về đề
tài tình yêu của Tagore. Tác phẩm được viết trong khoảng thời gian từ
1905 - 1908 (cùng với hai tiểu thuyết “Nàng Binôdini” và “Gô-ra”). Tiểu
thuyết này ra đời trong hoàn cảnh phong trào chống bọn thống trị Anh ở
Ấn Độ trở nên sôi nổi. Nhưng nội dung cuốn tiểu thuyết lại là một thiên
tình sử diễm lệ: đầy trắc trở mà không kém phần hấp dẫn trong mối quan
hệ phưc stạp cùng tình huống độc đáo giữa chàng Ramesh với nàng
Hemnalini và nàng Kamala có thêm sự xuất hiện của chàng Nalinasha -
mối gỡ cho thắt nút của vấn đề.
“Đắm thuyền” (The wereck) là một tỏng những tiểu thuyết xuất sắc
của ông viết về tình yêu. Câu chuyện khá rắc rối. Ramesh tốt nghiệp luật
khoa đang yêu Hemnalim, một nữ sinh ở Calutta. Bỗng nhiên cha anh ở
quê lên gọi anh về cưới vợ. Không thể trái lệnh cha, Ramesh đành quay
trở về làng quê cưới một cô vợ mà anh chưa hề biết mặt. Hôm rước dâu
về làng, đám cưới phải đi bằng thuyền. Giữa đường gặp bão, thuyền
đắm, Ramesh bị sóng đẩy lên bờ cát nằm bất tỉnh, khi tỉnh dậy thấy một
cô gái sống sót nằm gần mình. Ramesh tưởng đó là vợ, còn cô gái tên là
Kamala cũng tưởng Ramesh là chồng. Hai người dắt nhau trở về làng lo
tang cho cha và những người thân xong thì quay trở lại Calcutta. sông
chung với nhau vài ngày đầu, Ramesh mới phát hiện ra rằng Kamala
không phải là người vợ do cha cưới cho mình.
14

Trích đoạn NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ TÂM LÝ NHÂN VẬT
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status