BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
______________ Nguyễn Thị Huệ
NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN
TRONG TIỂU THUYẾT ĐẮM THUYỀN
CỦA RABINDRANATH TAGORE Chuyên ngành : Văn học nước ngoài
Mã số : 60 22 30 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ BÍCH THUÝ
1.1. Là một quốc gia thuộc khu vực Nam Á, Ấn Độ từng là một trong những cái nôi văn
minh nhân loại, cùng với tính chất đa sắc tộc, đa tôn giáo, vùng đất này có sức hấp dẫn lớn lao và
riêng biệt. Với một di sản văn hóa phong phú và đặc trưng duy nhất, ngày nay, Ấn Độ vẫn đang tỏa
sáng trên nhiều lĩnh v
ực, trong đó có văn học.
1.2. Bước vào thế kỉ XIX, văn học hiện đại Ấn Độ đã chuyển mình dữ dội trước biến động
của thời cuộc.Trong tiến trình đổi mới ấy, Rabindranath Tagore nổi lên như một ngôi sao sáng của
An Độ phục hưng. Tài năng và tầm ảnh hưởng của ông đối với văn học Ấn là rất to lớn và vô cùng
sâu sắ
c. Năm 1913, R.Tagore nhận giải Nobel văn học cho tập thơ Lời dâng (Gitanjali) và trở thành
người Châu Á đầu tiên có được vinh dự này.
Có thể nói, thơ là thành tựu xuất sắc nhất của Tagore. Nhưng không vì thế mà chúng ta
thiếu quan tâm đến mảng sáng tác văn xuôi của ông. Chính những sáng tác nghệ thuật này đã góp
phần không nhỏ đưa văn học Ấn Độ hội nhập vào thế giới hiện đại. Tagore không chỉ là nhà thơ,
nhạ
c sĩ, họa sĩ, mà còn là một cây bút viết truyện ngắn, đặc biệt là một tiểu thuyết gia rất có tài.
1.3. Tagore đến với thể loại tiểu thuyết muộn hơn so với thơ ca và truyện ngắn, nhưng nó
cũng đã tạo cho R.Tagore vị trí và tầm vóc riêng biệt. Với hai cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Gôra và
Ngôi nhà và thế giới, ông đã mở ra hướng phát triển mới cho tiểu thuy
ết Bengal.
Chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Nghệ thuật kể chuyện trong tiểu thuyết Đắm thuyền của
Rabindranath Tagore” vì những lí do sau:
Trước tiên là sự kính mến, ngưỡng mộ nhân cách và tài năng Tagore, một tài năng mang tầm
vóc nhân loại. Quả thật, Tagore đã để lại một ấn tượng sâu sắc đối với độc giả: Đằng sau dáng vẻ
như một vị thần là một tâm hồn rất con người, đằ
ng sau đôi mắt nhiều chiều sâu là một trái tim đau
đáu nỗi niềm nhân tình thế thái.
Không chỉ là một nhà thơ thiên tài, Tagore còn là một nhà văn rất thành công với thể loại
tiểu thuyết tâm lý xã hội. Đắm thuyền là tác phẩm tiêu biểu và nghệ thuật kể chuyện trong tác phẩm
là nét đặc sắc nổi trội, thu hút độc giả.
vài khía cạnh trong một chỉnh thể nghệ thuật phong phú.
Tóm lại, tại Việt Nam, nghiên cứu tiểu thuyết của R.Tagore là công việc còn nhiều mới mẻ.
Với hướng nghiên cứu của những công trình đi trước, trong hướng nghiên cứu cụ thể của đề tài,
chúng tôi s
ẽ đi sâu khảo sát những đặc điểm mới mẻ của nghệ thuật kể chuyện trong tiểu thuyết
Đắm Thuyền của R. Tagore.
3. Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
3.1. Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu: “Nghệ thuật kể chuyện trong tiểu thuyết Đắm
thuyền”, phạm vi nghiên cứu chính của luận văn là tiểu thuyết Đắm thuyền, đồng thời mở rộng sang
truyện ngắn và một số tiểu thuyết khác của Tagore.
3.2. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu: Dựa trên văn bản nghệ thuật tác phẩm, tiến hành
khảo sát th
ống kê, sau đó tiến hành phân tích các chi tiết thể hiện nghệ thuật kể chuyện. Đồng thời,
đối chiếu so sánh với một số truyện ngắn, tiểu thuyết khác của Tagore, để chỉ ra hiệu quả nghệ thuật
và nét hấp dẫn riêng của Đắm thuyền.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1. Đề tài nghiên cứu phong cách văn xuôi Tagore ở thể loại tiểu thuyết, kh
ẳng định những
sáng tạo và đóng góp của Tagore với tiến trình phát triển của văn học hiện đại Ấn Độ.
4.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Tìm hiểu phong cách tiểu thuyết Tagore, đồng thời mở
rộng việc dạy và học thể loại này trong nhà trường.
Vào thập niên chín mươi của thế kỉ XIX, R. Tagore bắt đầu chắp bút viết những dòng văn
xuôi đầu tiên. Với hai tác phẩm Ông chủ bưu điện và Sự trở lại của Khobababur, Tagore chính thức
xuất hiện với tư cách là nhà viết truyện ngắn.
Đến thập niên đầu của thế kỉ XX, nhà văn chuyển sang viết tiểu thuyết, với hai tác ph
ẩm đầu
tay là Bến bờ Bibkhi (1882) và Radia-Nhà thông thái (1887). Chuyển hướng sang sáng tác tiểu
thuyết thực sự là một trải nghiệm mới mẻ đối với Tagore. Dù đã rất thành danh với thơ và truyện
ngắn, nhưng bước sang tiểu thuyết, Tagore cũng phải trải qua giai đoạn tìm đường, thử nghiệm và
thay đổi. Viết tiểu thuyết, Tagore hướng đến mục đích hết sức cao cả: giả
i thoát văn học dân tộc
khỏi tình trạng khô cứng và nghèo nàn. Đồng thời, ông muốn chứng minh sự linh hoạt của tiếng
Bengali, một ngôn ngữ không chỉ dành riêng cho thơ ca. Thêm nữa, với một trái tim nhạy cảm,
Tagore hiểu rất rõ thực trạng bức bối, phức tạp của Ấn Độ lúc bấy giờ. Đó là bức tranh mà thơ
không thể phản ánh chi tiết, truyện ngắn không đủ chuyển tải tất cả, chỉ có tiểu thuyết, với tầm vóc
đồ sộ của mình mới có thể tái hiện mọi khía cạnh và tất cả những vấn đề cuộc sống hiện thực. Bởi
vì, “
Tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn
không gian và thời gian. Tiểu thuyết có thể phản ánh được số phận của nhiều cuộc đời, những bức
tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách
đa dạng” (Nhiều tác giả (1993), Từ
điển thuật ngữ văn học, NXB văn học, Hà Nội). Cho nên,
chuyển hướng sang tiểu thuyết là thi sĩ Tagore bắt đầu một chặng đường mới. Sự khởi đầu này buộc
Tagore phải lựa chọn những đề tài phù hợp. Đó không chỉ là đề tài trước đây ông đã từng thể hiện
trong thơ mà còn là những mảng đề tài rộng lớn của cuộc sống hiệ
n thực. Sự khởi đầu này cũng
khiến Tagore phải lựa chọn hình thức nghệ thuật tương xứng. Đó không chỉ là bút pháp khai thác
tâm lý và những biện pháp tu từ mà còn là cách tái hiện nhân vật cùng lối dẫn truyện đặc trưng.
Tagore bước chân sang tiểu thuyết không phải với tư cách của người mở đường cho thể loại mới
nhưng là người khai thông những bế tắc cho tiểu thuyết trong lòng đông đảo qu
ần chúng. Thế nên,
nhưng nó thuộc về giai đoạn lớn lao trong lịch sử Bengal”. Giai đoạn lớn lao mà
Tagore muốn nói tới là giai đoạn trỗi dậy của tinh thần Ấn Độ với hàng loạt các cuộc cải cách trên
nhiều lĩnh vực.
Năm 1858, khi thực dân Anh chính thức tiến hành những chính sách khai thác thuộc địa, Ấn
Độ lâm vào giai đoạn bị tàn phá về cả vật chất lẫn tinh thần. Bị đẩy vào th
ời đại của những mất mát,
ý thức dân tộc của mỗi con người Ấn trỗi dậy mạnh mẽ. Và công cuộc phục hưng toàn diện đã diễn
ra, trong đó có văn học nghệ thuật.
Trong sự giao thoa với Phương Tây, nền văn học Ấn ngày càng lộ rõ sự tụt hậu. Về cơ bản,
truyền thống văn học dân tộc là truyền thống thơ ca, v
ăn xuôi không có chỗ đứng. Có thể nói, văn
học Ấn Độ trong thời hiện đại bị bó hẹp trong những khuôn khổ cứng nhắc, như có lần Tagore đã
nói: “Chúng tôi phải tìm thấy tự do không chỉ trong tư tưởng mà còn trong những biểu hiện văn học
nữa. Nhưng nền văn học của chúng tôi đã để cho sự sáng tạo tan biến. Nó thiếu phong trào và bị
ràng buộc trong một thứ tu từ h
ọc cứng nhắc”. Sự đổi mới, vì thế, là một nhu cầu tất yếu. Và người
khai thông nguồn mạch để văn học An Độ theo kịp dòng chảy thế giới chính là Bankim Chadra.
Cuộc cải cách văn học do B.Chandra khởi xướng đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của tầng
lớp trí thức yêu nước, trong đó có Tagore.
Với sự am hiểu uyên thâm, cùng lòng yêu nước nhiệt thành và tinh thần cầu tiến, R.Tagore
đã hòa mình vào th
ời kỳ phục hưng Ấn Độ. Việc chuyển hướng sang tiểu thuyết nói riêng và văn
xuôi nói chung cũng là một cách đổi mới văn học dân tộc. Với sự chuyển hướng này, Tagore đã dấn
bước vào một con đường nhiều thử thách và khó khăn.
Cái khó khăn mà nhà văn phải đối diện là thái độ tiếp nhận của công chúng đối với thể loại
văn học và ngôn ngữ mới. Từ
ngàn xưa, người Ấn luôn tự hào về tiếng Bengali, một ngôn ngữ có
nguồn gốc tôn giáo cao quý, ngôn ngữ dành riêng cho thơ ca. Cho nên trong thời phục hưng văn học
được thể hiện trong lớp vỏ ngôn ngữ mới là tiếng Anh thì lập tức nó đã bị những tư tưởng bài ngoài
phê phán. Thêm vào đó, lịch sử văn học Ấn Độ, về cơ bản là lịch sử của thơ ca. Vì thế, tiểu thuyết
Mahabharata của An Độ hiện đại. Câu chuyện của hai thời đại khác biệt đã gặp nhau ở điểm chung
trong tinh thần nhân văn đượm chất Ấn: Đó là tinh thần hòa hợp gắn kết mọi con người. Trải qua
bao năm tháng thăng trầm của lịch, thông điệp kết thúc câu chuyện sử thi “Trên thiên giới không có
chỗ cho lòng hận thù”, đã được ti
ếp nối trong sự đốn ngộ của nhân vật Gora “Cả thế giới là nhà tôi,
mọi người là anh em tôi”.
Theo dòng cảm hứng, Tagore tiếp tục cho ra đời bộ tiểu thuyết Ngôi nhà và thế giới (At
home and Outside). Cũng giống như Gora, tác phẩm là hình ảnh thu nhỏ của cả thời đại trong
những vấn đề của cá nhân và gia đình. Với những xung đột không ngừng của các nhân vật, tác phẩm
đã cho thấ
y toàn cảnh những mâu thuẫn bên ngoài gia đình. Và số phận mỗi nhân vật cũng là biểu
tượng cho những tầng lớp trong xã hội trước làn sóng văn hóa Phương Tây. Hiếm có bộ tiểu thuyết
nào trong giai đoạn ấy, có một sức khái quát vĩ mô như Ngôi nhà và thế giới.
Năm 1901, Tagore cho ra đời tác phẩm Chokher Bali viết bằng tiếng Bengali (Năm 1959
được đổi tên là Nàng Binodini). Đây không phải là bộ tiểu thuyế
t đầu tiên viết về người phụ nữ.
Trước đó, Bankim Chandra đã tái hiện hình ảnh đau thương của người góa phụ vào những năm 70
của thế kỉ XIX như Cây độc, Di chúc của Krixnasan. Nhưng bộ tiểu thuyết này của Tagore đã được
đón nhận nồng nhiệt và được đánh giá là “Tác phẩm đầu tiên và hay nhất về tâm lý phụ nữ trong
văn học Bengal” (Lời nhận xét của Humanyun Kabir), là “Sự bắt đầu con đường mớ
i cho văn xuôi
An Độ” (đánh giá của Bhabani Bhâttcharrya). Với tiểu thuyết Nàng Binodini, Tagore đã khai mở
thành công tiểu thuyết dòng ý thức, một kiểu tiểu thuyết hoàn toàn mới mẻ bấy giờ.
Như vậy, trên hành trình sáng tạo của mình, Tagore dấn bước sang con đường tiểu thuyết
như hướng đi tất yếu của một con người toàn tài. Tagore với tình yêu nghệ thuật và tinh thần
nghiêm túc, ông đã không ngừng đổi mới, sáng tạo
để cho ra đời những bộ tiểu thuyết đặc sắc.
Con đường tiểu thuyết của Tagore trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Trước khi đạt được
những thành công, nhà văn đã phải đối diện với không ít thử thách. Bộ mặt mới của tiểu thuyết
Tagore bắt đầu khi ông có những bước đổi mới từ nội dung đến nghệ thuật thể hiện, bắt đầu là sự
trong nỗi u sầu sâu khuất. Trên chi
ếc thuyền hoa, Giribala đã không một lần nào “ngẩng đầu nhìn
lên, những giọt nước mắt rơi lã chã trong nỗi sầu muộn âm thầm”. Còn đám cưới của Mahamaya
lại diễn ra trong một không gian đầy mùi chết chóc: “Chính tại gian phòng tối om, lờ mờ ánh lửa
của hai giàn hòa thiêu gần đấy, lễ cưới của Mahamaya được cử hành với tiếng lầm rầm đọc kinh
hành lễ hòa lẫn tiếng rên rỉ của k
ẻ sắp chết” (Dàn hỏa thiêu).
Cưỡng hôn đã khiến bao nhiêu người phụ nữ trở thành quả phụ khi tuổi đời còn quá trẻ.
Nàng Binodini trong bộ tiểu thuyết cùng tên đã phải dằn vặt trong đau khổ, khao khát trong tuyệt
vọng. Nó đã khiến Mahamaya (Dàn hỏa thiêu) trở thành quả phụ ngay sau đêm cưới.
Sự phân biệt đẳng cấp trong hôn nhân cũng là vấn đề được nhà văn hết sức quan tâm. Trong
truyện ngắn Dàn hỏa thiêu, Rajib đã chua chát nhận ra hàng rào đẳng cấp khi anh cầu hôn
Mahamaya: “Liệu có bao giờ nàng có thể bằng lòng chịu lấy Rajib tuy cũng thuộc đẳng cấp
Bàlamôn nhưng ở hàng thấp hơn? Tình yêu là một chuyện, hôn nhân lại là một chuyện khác”.
Không chỉ đẳng cấp, tôn giáo còn là vật cản đối với hôn nhân tự nguyện. Lời tâm sự đầy than
vãn của Kuxum trong truyện ngắn Từ con đã là một lờ
i tổng hợp xác đáng về thực trạng này: “Vừa
mới đụng vào tôn giáo, tình yêu vĩnh cửu của ta đã tan vụn ra thành những nhúm nhỏ”.
Truyền thống cưỡng hôn trong nếp sống gia đình của người Ấn và những định kiến gay gắt
trong hôn nhân đã đẩy đưa biết bao nhiêu số phận con người rơi vào bi kịch. Vì thế, nó trở thành
vấn đề nhức nhối trên các trang văn học và hiện di
ện trong tác phẩm Tagore như một nỗi ám ảnh
khôn nguôi trong lòng người qua bao thế hệ.
Vào những năm đầu thế kỉ XIX, vấn đề giải phóng người phụ nữ được các nhà cải cách xã
hội như Ram Mohan Roy, Issorchandra Biddsagor hết sức quan tâm. Theo tục lệ tôn giáo, người
phụ nữ Ấn Độ thường đeo vòng kiềng ở chân và trùm khăn mặt để nhắc nhớ về bổn phận của mình.
Cái vòng chân như cái xiề
ng đã xích họ lại trong những công việc nội trợ quần quật hằng ngày, cái
khăn che mặt khiến họ không bao giờ dám ngẩng mặt đối diện với bất kì ai. Với lòng yêu mến và
cảm thông chân thành, Tagore dùng ngòi bút của mình để gióng lên tiếng nói đấu tranh cho quyền
đến nhiều vùng đất của Ramesh là hành trình đi tìm lời giải cho bài toán tương lai. Hành động
không ngừng suy tư, trăn trở nội tâm của anh cho thấy tính chất con người chủ động và sẵn sàng
đón nhận mọi thử thách của cuộc đời. Khi sự thật trả tất cả những gì trước đây nhầm lẫn về đúng vị
trí thì anh bước ra đường v
ới lời tự nhủ: “Giờ đây, không ai cần mình nữa, trừ chính mình ra, mình
phải bước vào đời và sống cuộc sống của chính mìnhi” [61, 358].
Trong Đắm thuyền, ta còn bắt gặp hình ảnh Kamala cương quyết dấn thân tìm chồng trong
bóng tối nhá nhem đáng sợ. Dũng cảm gạt sang nỗi đau, kiên cường trước bóng đêm mà trước đây
đã từng là nỗi sợ, Kamala cất bước ra đi. Hành động kiên quyết, không chút lưỡ
ng lự ấy đã làm vụt
sáng tính cách mạnh mẽ tiềm tàng bấy lâu trong con người nàng.
Kiên cường đấu tranh với nghịch cảnh, không ngừng hành động để kiếm tìm hạnh phúc,
những người trẻ trong tác phẩm của Tagore đã làm đúng như lời tuyên ngôn của ông trong tiểu
thuyết Đắm thuyền: “Lúc thịnh cũng như lúc suy, đời người là cuộc đấu tranh không ngừng chống
lại những rủi ro” [16, 73].
Là con người của hành động, người góa phụ trẻ Binodini trong tác phẩm cùng tên, đã đấu
tranh không ngừng để tìm kiếm hạnh phúc. Tagore viết: “Cái viễn cảnh ảm đạm phải sống cả đời
trong cái hang tẻ ngắt chẳng chút tình yêu thương trong hẻm vắng suốt những ngày dài không hoạt
động, không mục đích làm bản tính nổi loạn trong nàng được khơi dậy, phản kháng” [40, 616].
Yêu Bihari, Binobini chủ động bày tỏ tình yêu với anh bằng những bứ
c thư chân thành,
không ngần ngại bày tỏ trước tình cảm của mình. Hành động ấy khiến bao nhiêu người phụ nữ thế
kỉ 21 phải ngỡ ngàng.
Giới trẻ và tầng lớp trí thức Ấn, trong tác phẩm của Tagore có đời sống nội tâm hết sức
phong phú. Khi phát hiện Kamala không phải là cô dâu của mình, nội tâm Ramesh (Đắm thuyền)
bắt đầu đặt ra những câu hỏi. Rồi những chặng đường sau này, mỗi khi chiều xuố
ng, trước hoàng
hôn hay dưới ánh trăng, Ramesh thường đắm mình trong suy ngẫm. Những suy ngẫm của anh chảy
dài như một dòng sông: mênh mông và vô tận. Người đọc, nếu không quen với kiểu tiểu thuyết của
nhà văn, sẽ băn khoăn tự hỏi, tại sao nhân vật lại có nhiều lần trăn trở đến thế. Trong trọn bộ tiểu
ết Đắm thuyền chưa bao giờ suy tư, nghĩ ngợi về điều này khi đến với nhau.
Ramesh theo Hindu giáo chính thống còn Hemnalini theo phái Brahmo Samaj (giáo phái thành lập
năm 1828, thờ thần Brahma, chủ trương cải cách đạo Hindu và xã hội), thế nhưng tình yêu giữa họ
vẫn nẩy nở một cách tự nhiên và trong sáng. Câu chuyện Người láng giềng xinh đẹp chỉ có ba nhân
vật: hai người nhân vật trí thức nam và một người phụ nữ góa bụa. Nhân vậ
t xưng tôi trong tác
phẩm, ngay từ ban đầu đã thể hiện cái nhìn cảm thông chân thành đối với số phận góa bụa của
người phụ nữ, anh nói: “Đối với cậu, đứng xa mà lí tưởng hóa cuộc sống góa bụa thì rất dễ, nhưng
cậu phải nhớ rằng, trong cuộc sống góa bụa kia, có một trái tim đập dồn dập vì đau khổ và khao
khát”. Người bạn của anh tuy ban đầu cho rằng tái hôn sẽ làm mấ
t đi cái ý nghĩa thanh khiết của
cuộc đời người góa bụa, nhưng sau cùng, chính anh là người đã mạnh dạn cầu hôn người phụ nữ
mất chồng cạnh nhà và dũng cảm cãi lời cha để lựa chọn hạnh phúc cho mình.
Câu chuyện nhỏ trong Từ con đã chuyển tải thông điệp lớn lao. Trước sức ép của người cha,
nhân vật Hêmanta đã phải phân vân chọn lựa hạnh phúc hay đẳng cấ
p. Nhưng cuối cùng, anh đã
kiên quyết: “Thưa cha, con không bỏ vợ đâu (…) Con bất cần đẳng cấp”. Lời dõng dạc tuyên bố
của anh thực sự tạo ra chấn động. Nó đánh thẳng vào thành trì tồn tại hành ngàn năm qua của tư
tưởng đẳng cấp. Biết bao nhiêu hạnh phúc bị vùi dập, biết bao nhiêu mối tình bị rơi vào tấn bi kịch
tan vỡ chỉ vì đẳng cấp. Lời tuyên bố b
ất cần đẳng cấp đã dội một gáo nước lạnh vào những định
kiến khắt khe và mở ra con đường mới cho những tư tưởng tiến bộ.
Cùng với những chuyển biến của thời đại, người thanh niên Ấn Độ còn là những người có lý
tưởng cao đẹp, sống và đấu tranh vì một mục đích lớn lao. Năm 1910, Tagore xuất bản tiểu thuyết
Gora. Tác phẩm là lời tiên
đoán về cuộc cách mạng bất hợp tác với thực dân Anh để giải phóng dân
tộc mà sau này được lãnh đạo bởi M. Gandhi. Nổi bật trong bộ tiểu thuyết đồ sộ này là hình tượng
nhân vật Gora. Anh là người gốc Anh, mồ côi cha mẹ và sống với bố mẹ nuôi người Ấn Độ. Người
thanh niên trẻ Gora tích cực tham gia hoạt động trong các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.
Hình tượng nhân vật Gora là lời kêu gọi và cổ vũ tầ
Thì ta có thể nhìn thấy mặt người
Và biết người là tuyệt vời hạnh phúc.
(Bài 62, Những con chim bay lạc)
Đôi mắt nhìn nhau, như Tagore đã nói: “Đôi mắt ta liên hệ với nhau trong một sự hòa đồng
khiến chúng động tác tuy hai mà một” (Thực nghiệm tâm linh), và đôi mắt với tư cách là cửa sổ tâm
hồn, mới có thể nói hết tâm trạng khi yêu mà không một ngôn ngữ nào có thể chuyển tải:
Đ
ôi mắt băn khoăn của em buồn
Đôi mắt em nhìn sâu vào tâm tưởng của anh
Như trăng kia muốn vào sâu trong biển cả.
(Bài 28, Người làm vườn)
Đôi mắt em còn là nơi chốn bình yên để cuộc đời anh trải dài trong niềm vui và hạnh phúc:
Tim tôi, cánh chim vùng hoang dại, đã thấy trong mắt em cả một phương trời. Mắt ấy là nôi
ngủ của bình minh; mắt ấy là vương quốc của các vì sao đêm.
(Bài 31,
Người làm vườn)
Thế nên, trong niềm khao khát cháy bỏng, anh bao giờ cũng muốn chiếm trọn em cho riêng
anh, riêng mình anh mà thôi: “Em là mây chiều lững lờ trôi trên bầu trời mộng ước của tôi. Đem
tình yêu thèm khát, tôi hằng vẽ em, hằng tạo ra em. Em là của riêng, của riêng tôi, đang ngự trị
đỉnh mộng đẹp vô bờ tôi ấp ủ!” (Bài 30, Người làm vườn)
Tình yêu trong bản chất không chỉ có mật ngọt và hạnh phúc mà còn có cả những buồn đau
tan vỡ. Dù có những kh
ổ đau khi yêu, nhưng thơ tình Tagore không làm người đọc rơi vào bi lụy.
Điều này được bắt nguồn từ quan niệm về nỗi u buồn của ông: “Không sợ chết cũng chẳng sợ đau
khổ, và chỉ thấy ở đau khổ một phương diện của niềm vui (…) Chúng ta hiểu rằng đau khổ là cái
giá phải trả cho bất cứ cái gì có giá trị trong đời sống: quyền năng, minh tri
ết, tình yêu” (Thực
nghiệm tâm linh). Cho nên, thơ tình Tagore khi thể hiện tận cùng nỗi đau, niềm tin vẫn luôn luôn
hiện hữu:
Hãy đặt lòng tin vào tình yêu cho dẫu tình yêu mang lại khổ đau. Chẳng nên khép kín lòng
Đắm thuyền đặt tình yêu trong mối quan hệ với bổn phận. Ramesh vì bổn phận làm con
không thể cãi lời cha. Anh đau đớn hi sinh mối tình đầu tuyệt đẹp của mình vì nghĩa vụ làm con
trong gia đình Hindu giáo. Nế
u không có tình huống đắm thuyền và không biết được sự nhầm lẫn
thì anh không dám nuôi hi vọng tình yêu với Hemnalini. Nhưng hi vọng để thất vọng. Trách nhiệm
đối với cuộc sống của Kamala không cho phép anh có được niềm khao khát yêu đương. Nhiều lần
anh từng đặt lên bàn cân bổn phận và tình yêu nhưng bao giờ bổn phận cũng nặng hơn. Cuối cùng,
khi đã trải qua nhiều biến cố cùng nhiều lần trăn trở, một l
ần nữa anh đành chấp nhận hi sinh tình
yêu của mình.
Câu chuyện về nàng Binodini trong bộ tiểu thuyết cùng tên đã đặt tình yêu trong mối quan hệ
với những định kiến xã hội. Là người phụ nữ góa bụa, Binodini rất yêu Bihari. Nàng tìm đủ mọi
cách để bày tỏ tình cảm của mình. Nhưng cuối cùng, tình yêu ấy cũng phải nhường chỗ cho luật tục
khắt khe. Sự góa bụa trong tiểu sử của nàng đã không cho phép nàng có được h
ạnh phúc trong cuộc
đời. Lời nói cuối cùng của nàng trong tác phẩm khiến người đọc day dứt khôn nguôi: “Anh sẽ không
bao giờ được hạnh phúc nếu anh lấy em. Anh sẽ mất hết lòng kiêu hãnh và tự trọng, mà ở em cũng
sẽ không còn. Anh hãy tiếp tục cuộc đời anh như anh đã sống, trong sáng và tự do…”[47, 662].
Tình yêu vợ chồng của Mahendra và Asa cũng có những va chạm trong mối quan hệ với gia
đình. Chính sự quấn quýt bên nhau không rời đã làm phật lòng ng
ười mẹ và người thím góa bụa.
Mahendra vì quá yêu người vợ của mình mà không còn quan tâm đến những thành viên trong gia
đình, gần như bỏ quên người mẹ già đã hết lòng yêu thương anh, còn Asa không hoàn thành trọn
vẹn vai trò dâu con. Chính vì thế, họ tự đưa tình yêu của mình tới chỗ mâu thuẫn với gia đình, tạo ra
bầu không khí bất hòa gay gắt. Và từ đó, ngày qua ngày nó trở nên nhàm chán và lỏng lẻo, nó không
đủ sức níu trái tim. Do vậy, Mahendra mới có những bước chân lầm lạc khi bỏ lại sau l
ưng tất cả để
chạy theo Binodini.
Cũng về đề tài tình yêu, nhưng truyện ngắn Đắc đạo lại mang đến một hương vị khác cho
người đọc. Câu chuyện kể một vị tu sĩ trong rừng sâu chìm đắm trong tu luyện khổ hạnh. Hằng ngày
được nhà văn miêu tả khá tập trung.
Đọc Đắm thuyền, tình phụ tử và mẫu tử thực sự tạo cho người đọc những ấn tượng mạnh mẽ.
Nhân vật người cha Babu Annada rất yêu và hết lòng lo lắng cho các con. Vì thế đứng trước nỗi đau
của con “tim ông như thắt l
ại vì lo lắng cho cô con gái mà bao nhiêu năm nay ông đã thay bà chăm
sóc” [ 20, 97]. Đến tuổi gần đất xa trời, ông chỉ mong mình có thể hoàn thành tâm nguyện cuối đời
được nhìn thấy con hạnh phúc: “Con ơi! Cha cầu trời gạt bỏ tất cả những chướng ngại trên đường
con đi, cầu cho con suốt đời hạnh phúc. Cha cầu sao cho trước lúc đi gặp mẹ con, cha được thấy
con sung sướng toại nguyện, êm ấm chung đôi với người con yêu”
[20, 97]. Và niềm vui của con
cũng chính là niềm vui của ông. Đời người là sự đan xen của cả niềm vui và nỗi buồn, nụ cười và
nước mắt. Những đau khổ và hạnh phúc của nhân vật babu Annada đều khởi nguồn từ tấm lòng ông
dành cho con mình. Có thể nói, trong hệ thống nhân vật của Tagore, babu Annada là một trong
những hình tượng người cha cao quý nhất. Nó rất khác so với hình ảnh người cha trong gia đình Ấn
Độ truyền thống. N
ếu những người cha truyền thống thường lấy quyền uy và mệnh lệnh thay thế
cho tình thương và sự thấu hiểu thì babu Annada lại ngược lại. Lòng yêu thương con của ông đã đạt
tới độ hòa hợp thấu hiểu. Có thể nói hình ảnh hai cha con babu Annada trên sân thượng là sự tái
hiện đẹp đẽ nhất về hình ảnh gia đình: “Trong khi họ trò chuyện thì trời đã xế tà, bầu trời chuyển
sang xin xỉn màu đồng. Cái giây phút giao cảm thầm lặng trên sân thượng giữa bao nhiêu ồn ào
náo động của thành phố lớn nói lên lòng yêu thương nhau giữa cha và con, giữa già và trẻ. Họ nấn
ná mãi cho đến khi nhập nhòa bóng tối và những giọt sương êm ái rơi xuống mặt như những giọt
nước mắt” [38,195].
Đáp lại lòng yêu thương của cha, Hemnalini là một người con rất hiếu thảo. Rất nhiều lần,
khi nhìn thấy những u sầu trên khuôn mặt cha, mọi nỗi muộn phiền riêng tư nội tâm đều tan biến
nhanh chóng. Lòng nàng chỉ còn một nỗi xúc động tràn ngập về cha, chỉ còn duy nhất tình yêu
thương và kính trọng cha.
Không chỉ có hình tượng người cha cao quý, tác phẩm còn thể hiện sâu sắc về tình mẫu tử
thiêng liêng mà nhẹ nhàng. Thường xuyên phải đố
i diện với những trận ốm của tuổi già, bà
nhặt nhất sẽ thể hiện một tình yêu thương lớn lao nhất. Vì thế, điều ấn tượng trước tiên mà Nalin tạo
được trong lòng người đọc, không phải là trái tim một con người nồng nhi
ệt ra sao mà là tấm lòng
của một người con yêu mẹ nhất mực như thế nào.
Nhưng những thay đổi của xã hội đã đẩy gia đình đến các mối xung đột dữ dội.
Khi đọc tiểu thuyết Nàng Binodini, trong nỗi xúc động trước tình mẫu tử thiêng liêng của bà
Railasmi, trước khao khát hạnh phúc của Binodini, người đọc thấy thấp thoáng đâu đó những rạn
vỡ. Những rạn vỡ
ấy chắc chắn sẽ tạo ra đổ vỡ dù nhà văn đã cố gắng hàn gắn nó bằng kết thúc có
hậu.
Những xung đột trong tác phẩm bắt đầu từ ngày Asa bước chân về nhà chồng. Mái gia đình
êm ấm thuận hòa bắt đầu những dấu hiệu rạn vỡ, mà nguyên nhân sâu xa của nó không phải vì mâu
thuẫn mẹ chồng nàng dâu. Mối bất hòa giữa bà Railasmi và Asa ngày càng sâu sắc không hẳn vì hai
người không tìm được tiế
ng nói chung mà vì bàn tay Mahendra vô tình đẩy họ về hai đầu của một
con đường. Mahendra một mặt mâu thuẫn với mẹ, một mặt dẫn dắt người vợ ngây thơ theo cách của
riêng anh. Là tầng lớp trí thức, quan niệm và cách nghĩ của anh khác biệt hẳn với mẹ. Anh thẳng
thắn phê phán: “Cái cách mẹ cháu đang làm với cô vợ khốn khổ của cháu chết dần chết mòn thật là
tồi tệ, thật là quá quắt”
[5, 385]. Anh bất chấp những nỗi buồn của mẹ mà tuyên bố: “Chấm dứt trò
dớ dẩn này…Từ giờ trở đi, tôi phải có trách nhiệm với vợ tôi. Tôi vẫn còn thiếu với cô ấy điều này”
[5, 386]. Những khác biệt trong lối sống giữa hai thế hệ thật khó tồn tại dưới một mái nhà. Sự rạn
vỡ này xuất phát từ những thay đổi quá đột ngộ
t trong gia đình. Trong khi bà Rai đã quen với cách
nghĩ về vị trí dâu con truyền thống thì Mahendra đã đặt vợ mình ở một vị trí đối chọi. Đặc biệt hơn,
anh đưa tình yêu của mình vào một khung trời lãng mạn quên hết cả thực tại, đến độ, nhà văn phải
thốt lên: “Mehendra đã tận hưởng hạnh phúc lứa đôi, công khai coi thường cả gia đình và lề thói”
[8, 406].
Câu chuyện trong Từ con dù tình ti
ết hết sức nhẹ nhàng nhưng lại vô cùng ngột ngạt khi đặt ra
ạnh phúc trong mái ấm gia đình Nikhil và Bimala là tất yếu. Đó cũng là thực trạng phá sản
của nhiều mái nhà Ấn Độ. Nói rộng ra, đó cũng là rạn vỡ của nhiều giá trị dân tộc trong bối cảnh
mới. Từ ngôi nhà của hai nhân vật trong tác phẩm trước trào lưu mới, Tagore đã mở ra ngôi nhà dân
tộc Ấn trong một thế giới hiện đại đang biến đổi từng ngày. Từ một không gian nhỏ gia
đình,
Tagore đã hướng cái nhìn ra không gian bên ngoài rộng lớn hơn, đúng với tựa đề của bộ tiểu thuyết.
Trong sự giao thoa văn hóa, cái được và cái mất luôn song hành cùng nhau. Những giá trị
truyền thống trong gia đình đang bị phá vỡ, mà không phải mọi cái xưa cũ đều là đã là lạc hậu, cần
phải xóa bỏ. Thông thường, khi đi sâu vào đề tài gia đình và lặp đi lặp lại trong nhiều tác phẩm, nó
sẽ
dẫn đến tình trạng nhàm chán và lẩn quẩn. Nhưng hình ảnh gia đình thể hiện trên các trang truyện
của Tagore luôn luôn hấp dẫn. Ông đã biết tìm cho nó một hình thức thể hiện phù hợp và biến hóa
trong một đề tài cũ.
Không phải là người đầu tiên viết văn xuôi bằng tiếng Bengali nhưng Tagore có được vinh
hạnh khi các sáng tác của ông lần lượt được công chúng đón nhận nồng nhiệt. Thành công này của
ông, một phần xuất phát từ
sự chuyển hướng đề tài một cách sáng tạo. Trên những trang văn, ông đã
tái hiện những vấn đề nóng bỏng và nhức nhối của thời đại. Cảm hứng sáng tác, như có lần ông
từng chia sẻ, không gì khác ngoài cảm hứng hiện thực: “Tôi cảm thấy sự thôi thúc khi viết truyện,
lần lượt và trong cách riêng của mình, trong những cuộc sống nghèo hèn, và những số phận bất
hạnh nhỏ bé, trong những vấ
n đề thường tình nhỏ nhoi”.
Có thể nói rằng, hướng khai thác mảng đề tài hiện thực là ngã rẽ thành công trong sáng tác
văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng của nhà văn Tagore. Trong Vài nét về truyện ngắn của
Tagore, GS Lưu Đức Trung đã có những đánh giá nhận định xác đáng về sự nghiệp văn xuôi của
ông như sau: “Ngòi bút hiện thực của Tagore luôn hướng về mục đích vạch trần, phê phán bản chất
xã hội, thức tỉnh quần chúng nhân dân, tìm cách giả
i phóng tâm hồn tư tưởng người An cận đại ra
khỏi thòng lọng của tôn giáo, ra khỏi sự kìm hãm của bạo lực và cường quyền”. Mục đích sáng tác
cao cả cùng tình yêu nghệ thuật nồng nhiệt đã đưa tên tuổi Tagore thành ngôi sao sáng của thời
với họ không còn chảy trôi theo đúng ý nghĩa của nó. Phi thời gian là một đặc trưng của tiểu thuyết
dòng ý thức. Khái niệm không thời gian, đối với các nhân vật trong kiểu tiểu thuyết này, là tiền đề
để những trăn trơ, băn khoăn, những suy tư, day dứt có đất biểu hiện.
Đắm thuyền là câu chuyện về số phận tình yêu và đời sống nội tâm của con người. Ramesh
tốt nghiệp đại học luật tại Calcutta. Ở đây, mối tình đầu đã chớm nở với người con gái trí th
ức
Hemnalini. Nhưng theo lệnh cha, anh buộc phải về quê, và thuận theo một cuộc hôn nhân đã được
sắp đặt trước. Không còn con đường nào khác, và cũng vì bổn phận làm con, Ramesh đành phải từ
bỏ tình yêu để tiến hành cuộc hôn nhân với người con gái anh chưa hề biết mặt. Đám rước dâu đi
trên bốn thuyền hối hả trở về nhà. Lúc đó, đồng thời cũng diễn ra đám rước dâu của Kamala, mộ
t
người con gái mồ côi xinh đẹp. Cơn giông ghê gớm bất ngờ ập tới nhấn chìm tất cả, đánh dạt
Ramesh và Kamala vào bờ. Vì hiểu lầm, họ đã bên nhau sống những tháng ngày vui vẻ. Tình cờ biết
được sự thật, Ramesh đau khổ, băn khoăn không biết phải làm sao. Anh đành cùng Kamala trôi dạt
đến nhiều nơi. Nhưng dù ở bất cứ nơi nào, tình yêu của anh dành cho Hemnalini vẫn nồng cháy
trong tim. Cuối cùng, mọi sự
thật cũng được khám phá. Trải qua nhiều biến cố hiểu lầm, mỗi người
đã về đúng lại vị trí của mình. Câu chuyện kết thúc có hậu như một bài ca về tình yêu và về những
con người chân chính.
Từ đề tài tình yêu, Tagore tập trung khai thác các gấp khúc trong chiều sâu tâm hồn con
người, đó là mạch chảy chính trong bộ tiểu thuyết Đắm thuyền. Đây là một câu chuyện không hẳn
dễ đọc, nhấ
t là đối với những người mê tiểu thuyết hành động hay trinh thám. Nó khó đọc không
phải vì tính chất phức tạp, đa chiều của các tình tiết mà vì tính chất nội cảm của các nhân vật. Trong
tác phẩm, dường như mỗi nhân vật khi xuất hiện đều có thế giới nội tâm riêng. Liên tục trong nhiều
trường đoạn, các nhân vật miên man suy nghĩ và chiêm nghiệm. Và cũng vì thế mà dòng thời gian,
với họ, có khi ngừng trôi, có lúc xáo trộn.
Tính chấ
t phi thời gian trong tiểu thuyết Đắm thuyền nhiều lần được tác giả diễn đạt trực tiếp
bằng lời, nhưng nhiều nhất là ở cảm giác ngưng đọng khi các nhân vật trôi dạt vào thế giới nội tâm
thê không có việc gì làm” [28, 144]), có những buổi tối “kéo lê chầm chậm: Ramesh đã ngủ say ở
cabin bên cạnh, Kamala không còn nằm yên được nữa; nàng chậm rãi đứng dậy, bước ra ngoài và
đứng bên lan can, đăm đăm nhìn bờ sông” [27, 139], có những lúc thời gian nặng nề trôi khi vô tình
Kamala nhìn thấy trên gương mặt sầu tư của chồng, không có chỗ cho nàng. Khoảng cách giữ
a tâm
hồn người này và tâm hồn người kia, đôi khi là độ dài vô tận của thời gian.
Tất cả bao nhiêu cái chậm rãi như dồn thành một lực đẩy để khi Kamala biết được sự thật,
nàng đã không một thoáng do dự, “không thể nấn ná thêm phút nào nữa” [51, 275] vội vã ra đi tìm
chồng trong bóng tối nhá nhem. Và khi biết tin về chồng, tâm trạng nôn nóng khiến nàng vội vã
muốn vượt ra khỏi bức tường giam hãm trong nhà mụ Nabinkali: “Nàng không thể chị
u ở lại dưới
mái nhà của kẻ xa lạ thêm một phút nào nữa khi mà chồng mình đang sống cùng một thành phố”
[52, 285].
Trong Đắm thuyền, có những lát cắt thời gian hiện tại trở thành vĩnh cửu. Đó là giây phút
bên khung cửa mùa thu giữa Ramesh và Hemnalini: “Chỉ trong vòng vài phút, họ lại trao nhau lời
thề chung thủy, rơi nước mắt với nhau, chỉ đứng bên nhau thay vì trò chuyện, và nàng đã không
nhận thức nổi điều đ
ó sẽ dẫn đến niềm thanh thản trọn vẹn, vô bờ trong tâm hồn và sự tin cậy nhau
đến chừng nào” [14, 67]. Rõ ràng, thời gian hiện tại trong vòng vài phút đã làm nên điều kì diệu của
tình yêu. Đôi khi đâu cần đến ngôn ngữ, người ta vẫn có thể hiểu thấu tâm hồn nhau. Và cũng cần
chi đến thời gian dông dài, chỉ vài giọt thời gian, trái tim vẫn tìm đến lối đi vào trái tim. Buổi gặp gỡ
giữa Kamala và chồng cũng diễn ra trong thời gian ngưng đọng như vậy: “Nàng quên bẵng tấm
mạng đã rơi, và nàng cũng không nhận ra Nalinaksha đang đăm đắm nhìn say sưa, không dời
khuôn mặt mình. Nàng còn đang hoàn toàn không hay biết mọi vật bên ngoài, thì đột nhiên một
niềm hứng khởi vụt qua óc nàng như một tia chớp” [62, 364]. Trạng thái ngây ngất bất ngờ giáp mặt
chồng khiến Kamala dường như quên mọi điề
u xung quanh. Họ đã từng làm đám cưới và từng trải
qua nghi lễ nhận mặt, nhưng đây là lần đầu tiên, họ thực sự giáp mặt và nhận ra nhau. Nếu không
gian trong buổi hòa hợp giữa Ramesh và Hemnalini mang tính lãng mạn thì không gian nhận mặt
của Kamala và Nalinaksha lại linh thiêng và trang trọng hơn. Nhưng dù có những khác biệt thì